Tải bản đầy đủ

Nguồn lực con người và vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế xã hội

I,phần mở đầu
1,lý do chọn đề tài:
Con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên mà còn là sản phẩm của lịch
sử.trong qúa trình hình thành và phát triển,con người luôn bị quyết định bởi ba hệ
thống quy luật khác nhau:hệ thống quy luật tự nhiên,hệ thống quy luật tâm lý ý thức
và hệ thống các quy luật xã hội.trong ba hệ thống ấy, hệ thống các quy luật xã hội là
quan trọng nhất.trong tính hiện thực của nó,bản chất của con người là tổng hòa những
mối quan hệ xã hội.không có con người trừu tượng,thoát ly mọi điều kiện,hoàn cảnh
lịch sử xã hội.con người luôn cụ thể ,xác định,sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể
một thời đại nhất định.trong điều kiện đó ,bằng hoạt động thực tế của mình,con người
tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực va tư duy trí
tuệ.
Con người là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử.vai trò quyết định lịch sử của
con người (quần chúng nhân dân) được biểu hiện ở ba nội dung:
thứ nhất,là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội,trực tiếp sản xuất ra của cải vật
chất,là cơ sở tồn tại và phát triển của xá hội.lực lượng sản xuất cơ bản là đông đảo
quần chúng nhân dân lao động bao gồm lao động chân tay và lao động trí óc.cách
mạng khoa học kĩ thuật ngày nay có vai trò đặc biệt với sự phát triển của lực lượng
sản xuất song vai trò của khoa học kĩ thuật có thể phát huy thông qua thực tiễn sản
xuất của con người. điều đó khẳng định hoạt động sản xuất của con người là điều kiện
cơ bản để quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội.

thứ hai,con người trong tư cách là quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của
mọi cuộc cách mạng xã hội.Cách mạng là ngày hội của quần chúng, là sự nghiệp của
quần chúng.xét đến cùng,nguyên nhân của mọi cuộc cách mạng bắt đầu từ sự phát
triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến mâu thuẫn với quan hệ sản xuất,nghĩa là bắt đầu
từ hoạt động sản xuất vật chất của quần chúng nhân dân.bởi vậy,nhân dân lao động la
chủ thể của các quá trình kinh tế chính trị,xã hội, đóng vai trò là động lực cơ bản của
mọi cuộc cách mạng xã hội.
thứ ba,con người sáng tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần, đóng vai trò to lớn
trong sự phất triển khoa học, nghệ thuật,văn học, đồng thời áp dụng những thành tựu
đó vào thực tiễn.
xét từ kinh tế đến chính trị, từ hoạt động vật chất đến tinh thần,cong người luôn
đóng vai trò quyết định trong lịch sử.tuy nhiên tùy điều kiện lịch sử mà vai trò chủ thể
của quần chúng biểu hiện khác nhau chỉ có trong chủ nghĩa xã hội ,quần chúng nhân
dân mới có đủ điều kiện dể phát huy tài năngvà trí sáng tạo của mình.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh vai trò,sức mạnh của quần chúng nhân
dân,như Nguyễn Trãi đã từng nói:”chở thuyền cũng là dân,lật thuyền cũng là
dân,thuận lòng dân thì sống nghịch lòng dân thì chết”. đảng cộng sản Việt Nam cũng
đã khẳng định rằng:”lấy dân làm gốc” là tư tưởng thường trực nói lên vai trò tạo ra
lịch sử của nhân dânViệt Nam.
1


ở nước ta hiện nay,nền kinh tế thị trường đang thúc đẩy sự phát triển của lực
lượng sản xuất,nâng cao năng xuất lao động,tạo ra cơ sở vật chất và văn hóa tinh thần
ngày càn đa dạng,phong phú.Để khắp phục mặt trái của cơ chế thị trường (tuyệt đối
hóa lợi ích kinh tế,phân hóa giàu nghèo trong xã hội,chứa đựng những khả năng đối
lập giữa cá nhân và xã hội),chúng ta phải phát huy vai trò nhân tố con người,thực hiện
chiến lược con người của đảng ta là một mục tiêu ý nghĩa quyết định để giải quyết tốt
mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.Theo tinh thần nghị quyết Đại Hội đại biểu toàn
quốc lần IX của đảng chỉ ra:”xây dựng con người Việt Nam có tinh thần yêu nước và
yêu chủ nghĩa xã hội,có ý thức tự cường dân tộc,trách nhiệm cao trong lao động,có
lương tâm nghề nghiệp,có tác phong công nghiệp,có ý thức cộng đồng,tôn trọng nghĩa
tình,lối có sống văn hóa,quan hệ hài hòa trong gia đình,cộng đồng và xã hội”,
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay,vai trò của con người ngày
càng được khẳng định.vì thế,trong phạm vi đề tài một tiểu luận khoa học,chúng tôi
xin trình bày một vài nét cơ bản về nguồn lực con người và vai trò của nó trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội.
2,tình hình nghiên cứu đề tài:
Đề tài đã được bàn tới trong sách giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học,trong các
văn kiện đại hội Đảng toàn quốc,trên báo trí,trên internet…

3,phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu : vai trò của nguồn lực con người trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội.
Đối tượng nghiên cứu: nguồn lực con người.
4,phương pháp nghiên cứu: tổng hợp-phân tích-tổng hợp.Tức là đưa ra vấn
đề,khai triển vấn đề và tổng hợp vấn đề.
5,kết cấu: gồm 4 phần:
-,mở đầu.
-,triển khai nội dung.
-,kết luận.
-,tài liệu tham khảo.
II,triển khai nội dung:
1,quan niệm về con người và con người chủ nghĩa xã hội
1.1,quan niệm về con người:
Trong lịch sử phát triển nhân loại,các thời kì khác nhau có quan niệm khác nhau
về con người.
Thời cổ đại người ta cho rằng ,con người cũng như các sinh thể vật chất khác đều
do các nguyên tố cụ thể tạo ra như:nước,lửa,không khí,..(phương tây),hay sự kết hợp
của các vật thể: kim,mộc,thủy,hỏa,thổ,…(phương đông).
Thời trung cổ cho rằng,con người do lực lượng siêu nhiên tạo ra: đạo thiên chúa
cho rằng con người do chúa tạo ra,hay nho giáo cho rằng trời sinh ra con người…

2


Chủ nghĩa Mác-Lê Nin cho rằng con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực
thể xã hội, đồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh.con người là một thực thể “song
trùng” tự nhiên và xã hội ,là sự kết hợp giữa cái tự nhiên (sinh học) và xã hội.hai mặt
này gắn bó,hòa quyện,không tách rời nhau.con người là sản phẩm của tiến hóa,phát
triển lâu dài của tự nhiên từ thấp đến cao,từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện mà đỉnh
cao là con người.Lao động la nguyên nhân sâu xa cho quá trình biến chuyển từ vượn
than người và cũng là điều kiện cho con người tồn tại và phát triển (theo Ăng
ghen).C.Mac cho rằng con người là thực thể tự nhiên đặc biệt,một thực thể tự nhiên
đã tiến hóa.bản chất con người được hình thành dựa trên mối quan hệ của con người
với nhau “trong tính hiện thực của nó,con người là tổng hòa các mối quan hệ xã
hội”.như vậy con người không thể tồn tại nếu tách rời xã hội.chỉ có trong xã hội con
người mới có thể trao đổi lao động,thông qua đó thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống
(ăn, ở, đi lại…).trong xã hội con người có thể nhận thức về mình,từ đó rèn luyện
,phấn đấu vươn lên về mọi mặt,từng bước hoàn thiện nhân cách.Xã hội càng phát
triển thì mối quan hệ giữa con ngườivới con người ngày càng bền chặt hơn,con người
nhận thức rõ hơn về mình và về xã hội,vai trò của con người trong xã hội ngày càng
tăng.
Quan hệ giữa cá nhân con người với xã hộilà quan hệ thường xuyên và có sự
thống nhất biện chứng với nhau.Mối quan hệ đó vừa có tính thống nhất vừa có tính
mâu thuẫn.Lợi ích cá nhân và xã hội căn bản là hòa hợp nhau.khi xã hội phân chia
giai cấp,quan hệ cá nhân và xã hội vừa thống nhất vừa mâu thuẫn và mâu thuẫn là đối
kháng.trong chủ nghĩa xã hội,những điều kiện của xã hội mới tạo tiền dề cho cá nhân,
để mỗi cá nhân phát huy năng lực và bản sắc riêng của mình,phù hợp với lợi ích và
mục tiêu của xã hội mới.vi thế,xã hội xã hội chủ nghĩa và cá nhân thống nhất biện
chứng,là tiền đề và điều kiện của nhau.Dưới xã hội chủ nghĩa,muốn xây dựng thành
công CNXH,cần phải xây dựng con người xã hội chủ nghĩa.
1.2,quan điểm về con người xã hội chủ nghĩa:
Con người xã hội chủ nghĩa bao gồm con người từ xã hội cũ để lại và cả những
con người sinh ratrong xã hội mới,mang nét đặc trưng của chủ nghĩa xã hội song cũng
chịu ảnh hưởng không ít tư tưởng,tác phong,thói quen của xã hội cũ.trong con người
xã hội chủ nghĩadiễn ra cuộc đấu tranh gay go quyết liệt giữa cái cũ và cái mới,cái
tiến bộ và cái lạc hậu.
Con người xã hội chủ nghĩa là chủ thể trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội,vừa là sản phẩm của quá trình đó.Xã hội giúp cho cuộc sống con người đầy đủ
hơn,tốt đẹp hơn và chính trong quá trình cải tạo tự nhiên,xã hội mà con người cải tạo
chính bản thân mình,khắp phục hạn chế thiếu xót và ngày càng hoàn thiện hơn.
Những đặc con người xã hội chủ nghĩa (XHCN) là con người có ý thức,trình độ
và năng lực làm chủ, đồng thời xã hội tạo ra những điều kiện kinh tế,xã hội…để con
người thực hiện được quyền làm chủ đó.

3


Con người XHCN là con người lao động mới,có tri thức sâu sắc về việc mình đảm
nhiệm,lao động có ý thức kỉ luật ,có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp,biết đánh giá
chất lượng lao động,hậu quả lao động của bản thân.
Con người XHCN là con người sống có văn hóa,tình nghĩa với anh em,bạn
bè,mọi người xung quanh,biết được vị trí của mình trong từng mối quan hệ xã hội và
giải quyết đúng đắn những mối quan hệ đó,thường xuyên có ý thức nâng cao trình độ
tri thức về mọi mặt,ra sức rèn luyện sức khỏe đảm bảo phát triển toàn diện cá nhân.
Con người XHCN la con người giàu long yêu nước,thương dân,có tình yêu
thương giai cấp, đồng loại,sống nhân văn,nhân đạo,có ý thức và kiên quyết đấu tranh
bảo vệ chế độ XHCN,bảo vệ thành quả cách mạng,kiên quyết làm thất bại mọi âm
mưu chống phá của kẻ thù.
Tại hội nghị lần thứ 10,ban chấp hành trung ưong Đảng khóa IX,tổng bí thư
Nông Đức Mạnh đã nhắc lại nội dung trọng tâm của nghị quyết trung ương 5 (khóa
VIII) về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc”.Tổng bí thư đã nhấn mạnh vai trò to lớn,quan trọng của con người trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội:“Nghị quyết nêu lên 10 nhiệm vụ cụ thể về xây dựng
và phát triển văn hóa, đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam trong
giai đoạn cách mạng mới.-con người XHCN với những đức tính tốt đẹp.Tiếp đó là các
nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa,phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật
(…)”.nghị quyết đã khẳng định con người là yếu tố tiên quyết, quan trọng nhất để xây
dựng kinh tế-xã hội- chính trị-văn hóa không chỉ của nước ta mà còn trên bất cứ quốc
gia nào.
2,nguồn lực con người-vai trò của nguồn lực con người trong sự phát triển kinh
tế xã hội.
2.1,nguồn lực con người:
Nguồn lực là 1 hệ thống các nhân tố mà mỗi nhân tố có vai trò riêng nhưng có mối
quan hệ chặt chẽ tạo nên sự phát triển của một sự vật hiện tượng nào đó.nguồn lực
con người có thể hiểu là những yếu tố ở con người có thể huy động ,sử dụng để thúc
đấy sự phát triển của xã hội.nếu như những nguồn lực khác ( tự nhiên,khoa học,công
nghệ… ) ngày càng cạn kiệt thì nguồn lực con người ngày càng đa dạng phong phú.
Có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn lực con người.Ngân hành thế giới cho
rằng : nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người ( thể lực,trí tuệ,kĩ năng,nghề
nghiệp…)mà mỗi cá nhân sở hữu,cps thể phát huy được trong quá trình sản xuất,kinh
doanh hay trong một hoạt động nào đó.Tóm lại,nguồn lực con người là tổng thể
những yếu tố thuộc về vật chất,tinh thần,đạo đức,phẩm chất ,trình độ tri thức,vị thế xã
hội…tạo nên năng lực của con người,của cộng đồng người có thể sử dụng,phát huy
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước và trong những hoạt động xã
hội.
Nói đến nguồn lực con người,chúng ta quan tâm tới hai khía cạnh : số lượng và
vật chất của nguồn lực,giữa chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau.Nếu số lượng nguồn
4


nhân lực quá ít sẽ gây khó khăn cho việc phân công lao động xã hội,do đó chất lượng
lao động xã hội bị hạn chế.ngược lại nếu số lượng quá đônggây ra tình trạng thất
nghiệp,trình độ lao động không được đảm bảo, đồng thời gây mất cân bằng trong xã
hội ( việc làm,y tế,văn hóa,giáo dục…).chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao sẽ
làm giảm số lượng lao động trong một đơn vị sản xuất,giải phóng lao động sang
ngành nghề khác,năng xuất lao động vẫn cao mà vẫn tạo điều kiện thu hút lao động
sang các ngành khác.muốn có chất lượng lao động tốt thì phải đầu tư có chiều sâu
trong việc đào tạo,sử dụng và phân công lao động xã hội để con người trở thành một
chủ thể của hoạt động sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên,biến đổi xã hội.
2.2,vai trò của nguồn lực con người trong quá trình xây dựng kinh tế-xã hội:
2.2.1,trong lĩnh vực kinh tế:
Ta cần xem xét con người trong tư cách là lực lượng sản xuất và vai trò trong quan
hệ sản xuất.Lê Nin đã chỉ ra:“lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là
công nhân,là người lao động”.Lao động đã cải biến con người,giúp con người đi từ
thế gới mông muội,tối tăm đến ánh sáng của văn minh tiến bộ.trong quá trình lao
động sản xuất,không có con người thì không có của cải vật chất được tạo ra,xã hộ sẽ
diệt vong.Mặt khác trong lao động,con người dần dần hoàn thiện bản thân mình,cả về
thể lực lẫn trí tuệ.Lượng của cải vật chất mà con người tạo ra không chỉ phục vụ nhu
cầu thiết yếu,cần thiết của chính con người mà còn góp phần phát triển kinh tế,tăng
lượng sản phẩm của xã hội khiến cho xã hội đi lên chứ không dậm chân tại chỗ.Ngày
nay,khoa học công nghệ ngày càng phát triển,hàm lượng chất xám ngày càng cao thì
vai trò của người lao động có trí tụê càng được khẳng định.Họ là người phát minh ra
máy móc thiết bị hiện đại,cũng là người sử dụng chúng ,phổ biến rộng rãi trong sản
xuất để tăng năng suất,tăng hiệu quả lao động,chất lượng sản phẩm.
Con người khi được làm chủ tư liệu sản xuất,được đào tạo một cách chu đáo
những kiến thức quản lý kinh tế sẽ có điều kiện khai thác một cách hiệu quả tiềm
năng đất đai,biết kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất như huy động vốn,động
viên khuyến khích người lao động làm việc có hiệu quả,quản lý chặt chẽ nguyên liệu
vật tư,do vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ tốt hơn. ở đây nhấn mạnh vai trò của
người quản lý trong sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.Người lao động đã trở thành người
làm chủ đất nước,làm chủ trong quá trình quản lý sản xuất,từ việc xây dựng kế hoạch
sản xuất kinh doanh đến tổ chức sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm. Điều đó
đã và đang là điều kiện thuận lợi để phát huy nguồn lực con người trong việc phát
triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững ,làm cho đất nước ngày càng giàu đẹp.
2.2.2,trong lĩnh vực chính trị :
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam,con người được giải phóng
khỏi áp bức dân tộc, áp bức giai cấp trở thành người làm chủ đất nước,nhân dân tự tổ
chức thành nhà nước dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.Chủ Tịch Hồ Chí Minh

5


đã nhiều lần lưu ý rằng nước ta phải đi đến dân chủ thực sự,là nhà nước “của dân,do
dân,vì dân”.Người dân có đủ điều kiện để phát huy năng lực của mình.
người dân có tri thức, có năng lực, thấy được trách nhiệm của mình trong việc
lựa trọn những người có đức,có tài vào các cơ quan nhà nước sẽ góp phần xây dựng
nhà nước vững mạnh.Cán bộ nhà nước có hiểu biết lý luận,hiểu biết thực tiễn,thấy
được trách nhiệm của mình với nhân dân sẽ hết lòng phụng sự nhân dân và tôn trọng
quyền làm chủ của dân, được dân mến,dân tin,dân ủng hộ.Khi người dân “...biết
hướng quyền dân chủ,biết dùng quyền dân chủ của mình,dám nói,dám làm thì việc gì
khó khăn mấy họ cũng làm được,hy sinh mấy họ cũng không sợ ” ( Chủ Tịch Hồ Chí
Minh ).
có thể khẳng định,nguồn lực con người là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng
nhà nước xã hội chủ nghĩa,nhà nước cua dân,do dân, vì dân.trong quá trình đấu tranh
bảo vệ thành quả cách mạng,bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, đấu tranh làm thất bại
mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù.
2.2.3, trong lính vực văn hóa :
Dưới chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao động trở thành người làm chủ trong đời sống
văn hóa xã hội.( hệ thống báo trí,phát thanh truyền hình,xây dựng công trình văn
hóa,sáng tạo ra các tác phẩm văn hóa nghệ thuật... ). Các công trình văn hóa nghệ
thuật như vậy dễ đi vào lòng người,nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho quần
chúng,có tác dụng giáo dục đạo đức,góp phần hình thành nhân cách cho mỗi con
người trong xã hội.
Con người có văn hóa có nghĩa vụ bảo tồn các di sản văn hóa tinh thần của đất
nước,của nhân loại.Trong điều kiện giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng,mỗi người
chúng ta có điều kiện tiếp cận nền văn hóa nhiều nước trên thế giới.Trình độ tri thức
của mỗi người về văn hóa sẽ là tiền đề cho họ tiếp thu những giá trị tốt đẹp của dân
tộc khác,loại bỏ những yếu tố không phù hợp để làm giàu cho nền văn hóa dân tộc
mình,làm phong phú đời sống tinh thần cá nhân.
Con người có tri thức khoa học,có năng lực nghiên cứu.Nhà nước phải tạo ra
những khả năng cho họ có những đóng góp xứng đáng trong sự phát triển khoa học
của đất nước. Đảng và Nhà Nước luôn quan tâm đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ tri
thức,tạo điều kiện cho họ cống hiến hết khả năng trí tuệ của mình cho đất nước,cho sự
phát triển của xã hội.
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất mà còn là chủ
thể của quá trình sán xuất tinh thần xã hội.nguồn lực con người không được khai
thác,phát huy là lãng phí lớn nhất. Đặc biệt với đội ngũ tri thức càng hoạt động, càng
nghiên cứu,càng làm việc,trí tuệ của họ càng đa dạng,càng phong phú và sâu
sắc.Nước ta là một nước nghèo,kinh tế kém phát triển thì việc phát huy nguồn lực
con người để xây dựng đất nước ngày càng trở nên quan trọng.Bởi lẽ tầm văn hóa có
thể nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế,khẳng định tư thế của một quốc
gia có nền văn hiến lâu đời.
6


3.Phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam

3.1Phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam những năm qua
3.1.1.Kết quả và nguyên nhân của kết quả
Về chính trị:sau cách mạng tháng8-1945,những người dân Việt Nam đã từ địa vị
những người mất nước,nô lệ trở thành người làm chủ.Tất cả mọi công dân không
phân biệt tuổi tác,tôn giáo, địa vị đều có quyền bầu cử,lựa chọn đại biểu xứng đáng có
tài có đức để tham gia công việc nhà nước.Ai có khả năng giúp nước đều có quền ứng
cử.Nhà nước củaViệt Nam sau cách mạng tháng 8 là nhà nước của dân, do dân,vì
dân,tạo điều kiện cho người dân phát huy tài năng,trí tuệ đóng góp cho đất nước.Ngay
sau ngày độc lập,chủ tịch Hồ CHí Minh đã phát động nhân dân thực hiện nạn xoá mù
chữ.Người quan niệm một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.Nghị quyết trung ương 5
khoáVIII với những quan điểm chỉ đạo,những nhiệm vụ được xác định trong nghị
quyết vừa phù hợp với quy luật vận động phát triển của đất nước trong thời kì đổi
mới,vừa đáp ứng nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân,của trí thức,văn nghệ
sĩ,những người hoạt động văn hoá, đã được thể chế một bước quan trọng bằng 1 số
luật,pháp lệnh,nghị định,chương trình hành động cho nên đã nhanh chóng đi vào cuộc
sống.
Về kinh tế:ngày càng phát triển,năng suất lao động ngày càng cao,tạo điều kiện cải
thiện đáng kể đời sống nhân dân,giúp cho việc chăm sóc con người ngày càng tốt hơn.
Đảng và nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tham gia đóng góp
ý kiến trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng
như của từng địa phương,từng cơ sở sản xuất kinh doanh.
Về giáo dục đào tạo: đưa tỉ lệ người biết chữ từ 5% trước đây,tới nay đã gần 90%
dân số biết chữ.trình độ dân trí đã có nhiều tiến bộ so với trước đây.Nhiều tỉnh đã
thực hiện xoá mù chữ,phổ cập tiểu học hay trung học.Giáo dục miền núi,vùng
sâu,vùng xa được quan tâm ngày một nhiều hơn. Đảng và nhà nước đã khẳng định
giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Về y tế:việc chăm sóc sức khoẻ cho các tầng lớp nhân dân đã được quan
tâm.Những cơ sở y tế được xây dựng tới các cấp cơ sở,vùng sâu,vùng xa.Tuổi thọ
trung bình của người dân Việt Nam đã tăng lên nhiều so với trước.Thể trạng được cải
thiện hơn trước.Trang thiết bị y tế ngày 1 đầy đủ.
+Nguyên nhân:do đảng và nhà nước đã chăm lo
bồi dưỡng nguồn nhân lực của đất nước,tạo điều kiện cho mỗi người phát huy được
khả năng của mình.
3.1.2.Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.

7


Do có lúc tuyệt đối hoá tính xã hội của con người nên dẫn tới việc coi nhẹ tự
nhiên,không quan tâm đúng mức tới nhu cầu vật chất.
Có những thời kì chúng ta chưa hiểu thực sự đúng đắn chủ nghĩa Mac-Lenin, đề cao
quá mức tính giai cấp,coi nhẹ tính nhân loại,không chú ý kế thừa truyền thống dân
tộc.
Quá nhấn mạnh tính giai cấp 1 cách phiến diện,sai lệch cho nên không chú ý tới
việc kế thừa giá trị nhân loại.
Tình trạng quan liêu,tham nhũng trong bộ máy nhà nước,vi phạm quyền tự do dân
chủ của công dân,làm biến dạng nhân cách con người,làm cho con người bị phân
thân,không ít kẻ cơ hội,hữu khuynh chui vào tổ chứcĐảng,cơ quan nhà nước gây ra
những tác động xấu,làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và nhà
nước.
Phương thức giáo dục đào tạo còn chưa kích thích được tính sáng tạo của người
học,chưa thực sự gắn kết lí luận với thực tiễn nên không ít sinh viên sau khi ra trường
khó xin việc.
Chưa chú ý kế thừa những yếu tố hợp lí của quá
khứ,những giá trị truyền thống của dân tộc.
Hội nghị trung ương 10,ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX đã nghiêm túc chỉ
ra những yếu kém và khuyết điểm,nhất là sự sa sút về tư tưởng chính trị,đạo đức và
lối sống ở 1 bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân,mức độ trầm trọng của tện quan
liêu,tham nhũng,các tệ nạn xã hội khác.Tuy chúng ta làm được nhiều việc nhưng
những tiến bộ còn chưa vững chắc,sự phát triển văn hoá còn chưa vững chắc,chưa
tương xứng với sự phát triển kinh tế,chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kì mới.
Công tác văn hoá còn chưa thực hiện tốt.Môi trường và văn hoá chưa lành
mạnh,chưa tạo được các công trình văn hóa,tác phẩm văn học-nghệ thuật tương xứng
với chiến công và thành tựu dân tộc,chưa tạo được những chuyển biến cơ bản trong
thực hiện chính sách kinh tế trong văn hoá và văn hoá trong kinh tế.
+Nguyên nhân
Nước ta là 1 nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội,năng suất lao đọng
còn thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Chiến tranh và những hậu quả nặng nề của nó đòi hỏi toàn Đảng toàn dân phải kiên
trì khắc phục.
Ảnh hưởng của phong tục tập quán,thiếu ý thức
tổ chức kỉ luật,cách nhìn thiển cận,tâm lí tự ti,cục bộ địa phương,gia trưởng trong
giáo dục và đánh giá con người.
Ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường.
Đầu tư cho giáo dục còn hạn chế,tình trạng tiêu cực trong xã hội còn phổ biến.
Yếu kém trong quản lí nhà nước,hệ thống pháp luật chưa đồng bộ,bảo thủ trong 1 số
cán bộ có quyền chức, đố kị,ghen ghét người có năng lực.

8


3.2.Những phương hướng và giải pháp phát huy nguồn lực con người ở Việt
Nam hiện nay
3.2.1.Phương hướng:
Thứ nhất: đẩy mạnh công nghiệp háo,hiện đại hoá,phát triển nền kinh tế đất nước tạo
điều kiện nâng cao đời sống nhân dân,quan tâm tới giáo dục nhiều hơn, đặt ra những
yêu cầu,thách thức buộc người lao động phải phấn đấu vươn lên nếu không muốn
mình bị đào thải.
Thứ hai:xây dựng và từng bước hoàn chỉnh một hệ thống chính sách xã hội phù
hợp.
Thứ ba:từng bước xây dựng và không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lí của xã hội
chủ nghĩa.
trong sự nghiệp xây dựng xã hội’’dân giàu,nước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ,văn
minh”tiến tới chủ nghĩa xã hội.
+Đại hội đảng VIII cũng xác định một số vấn đề bức bách nhất về con người và xã
hội
Báo cáo chính trị trình bày các phương hướng chủ yếu phát triển trí tuệ người Việt
Nam thể hiện trong các lĩng vực khoa học và công nghệ,giáo dục và đào tạo nhằm
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài.Các ngành
khoa học xã hội và nhân văn,khoa học tự nhiên và công nghệ phải được quan tâm
đầu tư phát triển,chú trọng nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin,tư
tưởng Hồ Chí Minh,các thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại góp phần đắc lực
vào kế hoạch định đường lối,chủ trương,chính sách,kế hoạch phát triển sản xuất kinh
doanh,bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người.
Giáo dục và đào tạo thực sự trở thành quốc sách hàng đầu..tạo điều kiện cho người
nghèo và con em gia đình chính sách.Phát động phong trào toàn dân xoá mù chữ,hoàn
thành phổ cập tiểu học trong cả nước và trung học cơ sở ở những nơi có điều kiện.Cải
thiện chất lượng dạy và học, đổi mới nội dung giáo dục theo hướng cơ bản,hiện
đại,tăng cường giáo dục công dân,thế giới quan khoa học,lòng yêu nước, ý chí vươn
lên vì tương lai bản thân và tiền đồ đất nước.
Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội,có vị trí quan trọng trong việc hình thành
nhân cách,làm phong phú đời sống tinh thần của người Việt Nam.Tiếp thu tinh hoa
nhân loại song phải luôn coi trọng những giá trị truyền thống,bản sắc dân tộc,quyết
không được tự đánh mất mình,trở thành bóng mờ hoặc bản sao chép của người khác.
Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội,các cấp,các
ngành,các đoàn thể.quan tâm xây dựng,củng cố các cơ sở y tế,làm tốt công tác y tế dự
phòng,chống bệnh dịch,lmà tốt công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ va trẻ em,phát
động phong trào thể dục thể thao trong quần chúng. Đảm bảo cho người nghèo,người
trong diện chính sách được chăm lo sức khoẻ,khám chữa bệnh được giảm hoặc miễn
phí.

9


Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
và bền vững. Động viên nhân đân cần kiêm xây dựng đất nước,không ngừng tăng tích
luỹ cho đầu tư phát triển.Tăng trưởng kinh tế gắn liền với cải thiện đời sống nhân
dân,phát triển văn hoá,giáo dục,thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,bảo vệ môi
trường.
Mọi hoạt động văn hoá,văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hoá
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo
đức,tâm hồn,tình cảm,lối sống,xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát
triển xã hội.
Toàn Đảng,toàn quân,toàn dân ta đoàn kết một lòng,phát huy truyền thống vẻ vang
của dân tộc,trí tuệ và bản lĩnh của người Việt Nam,nêu cao ý chí độc lập tự chủ,tự lực
tự cường,nắm vững thời cơ đẩy lùi nguy cơ,khắc phục mọi khó khăn thử thách, đưa
những nghị quyết của đại hội đảng vào cuộc sống,thực hiện thắng lợi sự nghiệp dân
giàu,nước mạnh,xã hội công bằng ,dân chủ,văn minh,từng bước tiến lên chủ nghĩa xã
hội.
+Viện nghiên cứu chiến lược cũng đưa ra những phương hướng chung nhằm khai
thác và phát triển có hiệu quả nguồn lực con người đển đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá hiện,đại hoá đất nước.
a/Biến đổi cơ cấu nguồn lực con người phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã
hội
Về cơ cấu lao động:khắc phục tình trạng bất hợp lí trong cơ cấu lao động giữa các
ngành,các khu vực sản xuất trong thời gian qua,từng bước chuyển dịch cơ cấu lao
động theo hướng tăng lao động cho sản xuất công nghiệp,giảm lao động nông
nghiệp.Mục tiêu:năm 2010, lao động trong công nghiệp, dịch vụ chiếm 50%,giảm lao
động nông-lâm-ngư nghiệp xuống 50%.
Cơ cấu lại trình độ lao động bao gồm:ti lệ lao động đã qua đào tạo,cấu trúc trình
độ lao động,cơ cấu ngành chuyên môn,cơ cấu xã hội của đội ngũ người học,cơ cấu
vùng,miền.Nâng cao tỉ lệ lao động đã qua đào tạo với cơ cấu: đại học 1,trung học
chuyên nghiệp 5,công nhân kĩ thuật 10.Nhanh chóng khắc phục tình trạng thừa thầy
thiếu thợ.
b/Nâng cao toàn diện chất lượng nguồn lực con người
Về tầm vóc,thể lực:mức sống của nước ta vào loại thấp nhất thế giới,chất dinh
dưỡng trong khẩu phần ăn chủ yếu là chất bột nên đã ảnh hưởng tới thể chất con
người.Qua điều tra cho thấy người Việt Nam trong độ tuổi lao động(17-55 tuổi) có thể
lực vào loại trung bình thấp trên thế giới.Hướng phát triển:tăng chiều cao,cân
nặng,sức khoẻ, khả năng làm việc,cải thiện đơì sống vật chất,nhu cầu tinh thần của
con người,từ đó đẩy nhanh qua trình tái sản xuất sức lao động,vừa nâng cao thể lực
con người.
Về trí lực:trí lực là yếu tố quan trọng nhất,quyết định chất lượng người lao động
trong điều kiện kinh tế tri thức đang phát triển mạnh mẽ. Để nâng cao năng lực
10


chuyên môn cần phải quan tâm đến lĩnh vực sau: đảm bảo cho trẻ em trong độ tuổi đi
học cấp I đều được đến trường,phấn đấu phổ cập trung học cơ sở trong cả nước,tiếp
tục thực hiện xoá mù chữ,khắc phục tình trạng xoá mù chữ và nâng cao trình độ học
vấn cho người lao động thông qua hệ thống giáo dục thường xuyên,phấn đấu đến
2010 nâmg tỉ lệ lao động được đào tạo lên 40%.Ngày nay người ta quan tâm chủ yếu
đến chất lượng lao động chứ không tập trung khai thác số lượng lao động như trước
đây.Vì vậy việc đào tao nghề phải gắn với các chương trình kinh tế xã hội của đất
nước,với nhu cầu phát triển kinh tế của các ngành,các vùng kinh tế.Vấn đề cải cách
hành chính là một trong những chương trình trọng tâm của Việt Nam hiện nay nhằm
nâng cao hiệu quả bộ máy quản lí nhà nước.Việc đào tạo công chức cũng đóng vai trò
quan trọng với nội dung chủ yếu là những kiến thức,phương pháp quản lí nhà nước
trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đi đôi với việc tăng cường số
lượng đội ngũ trí thức cần nâng cao chất lượng đội ngũ này,tạo mọi điều kiện thuận
lợi để họ phat huy hết khả năng của mình.Nhanh chóng tổ chức lại để sử dụng có hiệu
quả đội ngũ cán bộ khoa học,kĩ thuật của các viện nghiên cứu khoa học,các trường đại
học,cao đẳng theo hướng”kết hợp đào tạo với nghiên cứu”,phải điều khiển chất xám
làm sao hợp lí nhất,có lợi nhất cho sự phát triển con người.
Về phẩm chất, đạo đức ,tinh thần của người Việt Nam:cần phát huy tốt những giá
trị truyền thống,trong đó có giá trị đạo đức con người(tinh thần đất nước, ý thức tự tôn
dân tộc,tự lực tự cường…).Tuy nhiên giá trị này cần được bổ sung phù hợp với sự
nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá.Hạn chế những tiêu cực đang tồn tại trong con
người Việt Nam bao gồm cả những thói quen cũ để lại và những vấn đề nảy sinh khi
chuyển sang cơ chế thị trường,biết khai thác,tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
3.2.2>Một số giả pháp phát huy nguồn lực con người ở đát nước ta hiện nay.
Thứ nhất:
Trong lĩnh vực kinh tế:
Phải nâng cao vị thế của ngươi lao động trong quá trình sản xuất , nhanh chóng khắc
phục tình trạng tách người lao động khỏi tư liệu sản xuất.Thực hiện giao đất giao rừng
tạo điều kiện cho nông dân đủ , tạo điều kiện cho mọi người dân làm chủ cụ thể
những tư liệu sản xuất của toàn xã hội ở mọi thành phần king tế.
Huy động rộng rãi nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội của đất nước , địa phương , đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp , đơn vị.
Phát huy sang kiến của người lao động , chăm lo đời sống vật chất tinh thần của
họ , thực hiện phân phối công bằng , công khai , dân chủ.
Động viên mọi người bỏ vốn kinh doanh , khai thác thế mạnh địa phương , phát
triển nghề truyền thống , nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN , phát huy
trình độ toy nghề , năng lực quản lý kinh doanh của mỗi thành viên trong xã hội ,
cùng nhà nước giải quyết khó khăn của đất nước.
11


Tăng cường giáo dục đào tạo , khơi dậy lương tâm nghề nghiệp , nêu cao trách
nhiệm của mỗi người trong hoạt động sản xuất kinh doanh , dịch vụ.Phê phán mạnh
mẽ thói lười biếng , làm bừa ,làm ẩu , ngăn chặn làm ăn phi pháp , phi đạo lý.
Thứ hai: Trong lĩnh vực chính trị:
Nâng cao nhận thức chính trị , pháp luật , về nhà nước , từ đó nâng cao trách nhiệm và
năng lực của họ tích cực tham gia phong trào , công việc của Đảng , nhà nước , hệ
thống chính trị.
Tăng cường vai trò giám sát của quần chúng nhân dân trong mọi hoạt động của bộ
máy nhà nước, tích cực chống tham nhũng , thực hiện dân chủ hóa đới sống xã hội.
Tạo điều kiện cho người dân tham gia mọi phong trào công việc nhà nước , xã hội ,
thực sự là người làm chủ đất nước , khắc phục tình trạng trì trệ , bảo thủ ở một số cơ
quan nhà nước.
Phân công lao động hợp lý , tránh tình trạng chồng chéo , buông lỏng quản lý nhà
nước trong một số nghành , địa phương.
Giáo dục tinh thần yêu nước , ý thức tự cường dân tộc , trách nhiệm công dân , bản
lĩnh chính trị của mỗi người dân.Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực và âm mưu
chống phá của kẻ thù .trên cơ sở đó người dân mới có điều kiện học tập , rèn luyện ,
phấn đấu về mọi mặt cống hiến ngày càng nhiều cho xã hội.
Thứ ba: Trên lĩnh vực xã hội.
Từng bước khắc phục đi tới loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu , quan hệ
không bình đẳng , xây dựng quan hệ mới giữa người với người trên tinh thần tương
trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất kinh doanh , trong đời sống xã hội , từng bước xây
dựng quan hệ bịnh đẳng hữu nghị giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc , các quốc gia.
Cần thực hiện biện pháp giảm chênh lệch giữa các tầng dân cư , các vùng lãnh
thổ.Tạo cơ hội phát triển cho mọi người nhất là những hộ nghèo , gia đình khó
khăn ,vùng sâu vùng xa làm cho mọi người dân đều được hưởng thành quả giáo dục ,
y tế văn hóa…
Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo , giaỉ quyết vấn đề việc làm , nâng cao trình
độ tri thức , tay nghề cho người lao động.
Thứ tư : Trên lĩnh vực giáo dục đào tạo.
“Giáo dục đào tạo là quốc sách hang đầu nhằm nâng cao , dân trí , đào tạo nhân tài
“ cho đất nước , đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay.Tất cả mọi
người dân , cơ quan đoàn thể đều phải quan tâm tới giáo dục và đào tạo.Tăng cường
sự phối hợp của gia đình , nhà trường , xã hội trong đào tạo thế hệ trẻ.
Đổi mới nội dung và phương pháp học tập.Nội dung phải phản ánh tri thức quan
trọng nhất của thời đại , thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ , góp phần giáo
dục nòng yêu nước , ý thức tự cường dân tộc , hình thành nhân cách mới của người
lao động.Phương pháp dạy phải kích thích được tính sáng tạo , hăng say tìm tòi của
người học , phương pháp học phải độc lập tự chủ , biết vận dụng kiến thức đã học và
giải thích vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra.
12


Thứ năm: Trên lĩnh vực tư tưởng , văn hóa , nghệ thuật .
Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành trung ương khóa 8 , Đảng ta khẳng
định văn hoá vừa là mục tiêu , vừa là động lực xây dựng CNXH ở Việt Nam.Cần khắc
phục hạn chế của một bộ phận văn học nghệ thuật của một bộ phận thanh thiếu niên
giáo dục bên cạnh một bộ phận văn học mới tham gia tích cực vào sự nghiệp đổi mới
trên toàn diện đất nước .
Đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng , phê phán những tư tưởng phản động
đang tìm cách phủ nhận con đường XHCN ở Việt Nam đấu tranh chống chủ nghĩa cá
nhân , tư tưởng cơ hội , thực dụng , chặn đà suy thoái về đạo đức nối sống.
Các nhà văn nhà thơ nâng cao trách nhiệm của mình trong sáng tác biểu diễn , không
vì đồng tìên mà bán rẻ lương tâm , vô trách nhiệm với đất nước.Tăng cường công tác
quản lý của nhà nước trong hoạt động sáng tác , biểu diễn sao cho văn học nghệ thuật
phải cổ vũ cho cái hay cái đẹp , góp phần xây dựng cho lối sống lành mạnh , nâng cao
những giá trị nhân văn , phát huy những giá trị tốt đẹp trong con người Việt Nam.
Giải pháp cụ thể được đưa ra trong nghị quyết Trung Ương khoa 8 như sau:
Nhất định phải đẩy mạnh hơn nữa phong trào “Toàn dân đoàn kết , xây dựng đời
sống văn hoá “gắn với cuộc sống vận động chính trị sâu rộng trong toàn Đảng , toàn
dân , toàn quân học tập và thi đua thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức , lối
sống làm chuyển bíên mạnh mẽ công tác giáo dục , rẹn luyện đạo đức lối sống trong
cán bộ , Đảng viên và nhân dân , nhất là với cán bộ chủ chốt các cấp và thanh niên.
Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hoá với nhiệm vụ trung tâm xây dựng kinh tế ,
nhiệm vụ then chốt xây dựng Đảng , bảo đảm hoạt động văn hoá tiến hành đồng bộ
với hoạt động kinh tế , hình thành nền tảng tinh thần vững chắc cho xã hội.
Trong khi đặt nhiệm vụ xây dựng con người với những đức tính cơ bản , tốt đẹp phải
xây dựng và phát triển hài hoà các nhiệm vụ khác (xây dựng môi trường văn hoá ,
phát triển văn học nghệ thuật , thong tin đại chúng bảo tồn và phát huy các di sản văn
hoá …).
Tăng cường các nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hoá , trước hết tăng
cường mức đầu tư từ nguồn ngân sách cho sự phát triển văn hoá đi đôi với việc huy
động sự đóng ghóp của các tầng lớp nhân dân và sử dụng một cách có hiệu quả nhất
các nguồn lực đó.
Cán bộ Đảng viên cần nâng cao nhận thức và trình độ lãnh đạo trên lĩnh vực văn
hoá , song song với các lĩnh vực king tế , chính trị , xã hội…nêu cao tinh thần gương
mẫu về tư tưởng , đạo đức , lối sống nâng cao chất lượng , hiệu quả công tác tư
tưởng , theo phương châm “Nói đi đôi với làm”
Tạo phong trào thi đua sôi nổi , xây dựng con người mới và môi trường văn hoá
phong phú , lành mạnh ,phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
∗ Các quan điểm chỉ đạo của viện nghiên cứu chiến lược
a/ Nhận thức đúng vị trí và đặc điểm con người trong thời đại ngày nay ,they được
nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất trong các nguồn lực hiện có để
13


công ngiệp hoá hiện đại hoá đất nước , trên cơ sở đó xây dựng thành công chiến lược
con người.Nền văn minh nhân loại chuyển từ văn minh nông nghiệp sang nền văn
minh trí tuệ nên đầu tư vào tri thức đó trở thành then chốt cho sự tăng trương kinh tế
dài hạn.
Ở Việt Nam phải lấy “việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự
phát triển nhanh và bền vững” , “con người là mục tiêu và động lực cho sự phát triển
kinh tế - xã hội”. Đó là yếu tố quýêt định dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn
minh.Nguồn lục con người giữ vai trò quyết đinh nhất vì :Thứ nhất , các nguồn lực
khác dù giàu có nhung khai thác main cũng cạn kiệt , chỉ có nguồn lực con người (trí
tuệ , chất xám) là có tiềm năng vô hạn.Thứ 2 , tự mình các nguồn lục khác không
thành động lực phát triển , mà muốn thành động lực phát triển cần có động lực là con
người.Thứ 3 , Con người với tất cả năng lực sáng tạo và phẩm chất tích cực của mình
thành động lực phát triển công nghiệp hoá hiện đai hoá.
Đảng ta đa đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược ổn định và phát triển
kinh tế - xã hội .Đó là chiến lược của con người và vì con người.
b/ Xây dựng và phát triển nguồn lực con người nhằm phát huy tối đa vai trò quyết
định vai trò của con người với sự thành công của công nghiêp hóa , đồng thời không
ngừng giá trị cho con người.
Vấn đề cấp thiết là phải có định hướng chiến lược phát triển giáo dục , khoa học kĩ
thuật , công nghệ , thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa và giải quyết những nhiệm
vụ cấp bách của giáo dục , khoa học , công nghệ như hội nghị lần 2 BCH trung ương
Đảng khóa 8 đề ra.
Cần có quan chuyên trách nghiên cứu về nguồn lực con người , có nhiệm vụ tư vấn
các chính sách vĩ mô về tạo việc làm , sử dụng và phát triển nguồn lực lao động trong
xã hội , phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước .
Khong ngừng gia tăng các giá trị cho con người (tinh thần , đạo đức , sinh thể , vật
chất …) Các thành tựu của quá trình công nghiệp hóa phải quay về phục vụ con người
, nâng cao dời sống vật chất và tinh thần cho con người lao động , gia tăng gia trị nhân
văn trong mục tiêu công nghiệp hóa , hiện đại hóa.
c/ Xây dựng , phát triển nguồn lực con người theo yeu cầu của quá trình công nghiệp
hóa , hiện đại hóa trong bối cảnh kinh doanh thị trường , cách mạng khoa học công
nghệ và hội nhập quốc tế.
Phát huy tính tích cực của con người đồng thời có biện pháp hạn chế tối đa những
ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường như tâm lý sung ngoại , vì đồng tiền mà chà
đạp lên nhân phẩm phi đạo đức , thực dụng , xa hoa , lãng phí …xây dựng con người
có lí tưởng đạo đức , nhân cách , trình độ chuyên môn.
Tập trung phát triển và áp dụng khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại , phát triển
kinh tế và công nghệ hiện đại , phát triển kinh tế mũi nhọn tạo ra tốc độ tăng trưởng
cao.Kết hợp lựa chọn công nghệ thích hợp phù hợp điều kiện Việt Nam .Chú ý tạo lực
lượng lao động tầng cao , đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế , từng bước hội
14


nhập vào khu vực thế giới .Phát triển nguồn lực ở tầng lớp thấp phù hợp với công
nghệ sử dụng lao động , đặc biệt với các vùng nghèo , vùng xâu xa …Trong xây dựng
và phát triển nguồn lực con người phải chú ý đến cả nhân lực , trí lực , phẩm chất đạo
đức.
d/ Gắn phát triển nguồn lực với khai thác , sử dụng lao động , lấy hiệu quả kinh tế -xã
hội làm chuẩn và thước đo xác định phương hướng khai thác và phát triển nguồn lực
con người.
Đặc biệt chú trọng gắn liền việc phát triển nguồn lực con người vơi khai thác và sử
dụng lao động sao cho có hiệu quả.Mở rộng thị trường lao động tạo ra sự liên kết giữa
đào tạo và sử dụng .Thị trường lao động được mở rộng và phát triển đòi hỏi phải có
lao động đa dạng và có chất lượng cao.Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động ở từng
thời điểm cũng như nghành nghề , trình độ đào tạo , cơ cấu lao động và sự biến động
của nó.Phải có kế hoạch về nguồn lực con người , tính toán nhu cầu lao động ở từng
nghành , từng địa phương trong cả nước trên cơ sở của sự chuyển đổi nền kinh tế ,
nâng cao năng suất lao động trình độ kĩ thuật, công nghệ , từ đó xác định quy mô và
cơ cấu lao động .Việc đào tạo mới và sử dụng lao động luôn phải tính đến cấu trúc lao
động , tính chất và nội dung của lao động , chuyển đổi nghề.
Khai thác và phát triển nguồn lực con người phải tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội
.Phải xem xét cơ cấu nghành trong cơ cấu đào tạo làm sao đáp ứng được nhu cầu của
công nghiệp hóa , hiện đại hóa .Khắc phục tình trạng này thì thừa cán bộ , gây lãng
phí , nghành khác lại thiếu .Không chỉ lo cho các thế hệ nhân lực ngày nay mà còn lo
cho các thế hệ nhân lực ngày mai.Phải gắn liền với việc hoàn thiện và phát triển nhân
cách , đạo đức , nâng cao tay nghề , gắn nâng cao thu nhập với nâng cao sức khỏe ,
đời sống văn hóa tôn trọng quyền con người , sự bình đẳng xã hội , loại trừ tệ nạn xã
hội , bảo vệ và xây dựng môi trường sống lành mạnh bao gồm:môi trường thiên nhiên
, xã hội , giáo dục…
e/ Xây dựng nguồn lực con người bằng nhiều con đường , biện pháp mang tính tổng
hợp và đồng bộ , kết hợp giữa cá thể hóa với xã hội hóa , truyền thống với hiện đại ,
dân tộc với quốc tế.
Quan tam nhiều hơn đến giáo dục , đào tạo thực sự coi giáo dục đào tạo là “quốc
sách hang đầu nhằm nâng cao dâm trí , đào tạo nhân lực , bồi dưỡng nhân tài”như
nghị quyết đại hội Đảng 8 đa khẳng định tiếp tục đổi mới toàn diện và triệt để hệ
thống giáo duc- đào tạo về nội dung và phương pháp , về những định hướng giá trị cơ
bản cho phù hợp với thời kỳ phát triển mới của đất nước .Thực hiện dân chủ xã hội
hóa trong giáo dục- đào tạo .Quan tâm đến số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên ,
lực lượng quyết định sản phẩm giáo dục – đào tạo.
Quan điêm chăm sóc sức khỏe , nâng cao chất lượng dân số cải thiện môi trường
sống .Tạo động lực quan trọng kích thích tính tích cực của con người , đòi hỏi phải
quan tâm xây dựng hệ thống các động lực , đảm bảo công bằng xã hội.

15


Kết hợp hài hòa việc khai thác giá trị truyền thống với thành tựu văn minh nhân loại
để tận dụng tốt nguồn lực bên trong và bên ngoài , tạo năng lực nội sinh cho sự phát
triển .Kết hợp xã hội thong qua các hệ thống chính sách với từng cá nhân chủ động
rèn luyện , phát triển về thẻ lực trí lực và phẩm chất đạo đức tinh thần.
III/ Kết luận
Con người là trung tâm bức tranh xã hội , giữ một vai trò quan trọng trong sự phát
triển kinh tế - xã hội .Nước ta đang từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội , việc bồi dưỡng
, nâng cao chất lượng và phát huy có hiệu quả nguồn lực con người càng trở thành
vấn đề cấp thiết .Bởi thong qua đó có thể tạo nên sự phát triển nhanh và bền vững cho
đất nước , nhanh chóng thực hiện mục tiêu “dân giàu nước mạnh xã hội công bằng
dân chủ văn minh “Đồng thời tạo điều kiện phát huy tính tích cực , chủ động , sáng
tạo , năng động của con người trong thời đại mới.Con người Việt Nam trên trường
quốc tế phải mang xu thế của một dân tộc văn hóa ngàn năm với đầy đủ các phẩm
chất cả về trí tuệ , thể lực và phẩm chất đạo đức , nâng cao vị trí của Việt Nam với các
quốc gia và các vùng lãnh thổ trên thế giới.
4/Tài Liệu Tham Khảo
1>Giáo trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học nhà xuất bản….
2>Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 , NXB sự thật , Hà Nội
3>Văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8
4>Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9 NXB Chính Trị Quốc Gia , Hà Nội
5>Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam
(Viện nghiên cứu chiến lược , chính sách công nghiệp )

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×