Tải bản đầy đủ

Nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Agribank Tây Đô

1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

PHẠM THỊ KIỀU NHUNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆT NAM – CHI NHÁNH TÂY ĐÔ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2015


2


NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

PHẠM THỊ KIỀU NHUNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆT NAM – CHI NHÁNH TÂY ĐÔ

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐẶNG NGỌC ĐỨC

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tôi.
Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực. Kết quả nghiên cứu được
trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày….. tháng….. năm 2015
Tác giả luận văn

Phạm Thị Kiều Nhung


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt

NHTM
NHNN
NHNo&PTNT
Agribank
DAĐT
CBTD
WTO
DNNN
HĐQT
TNHH
CBTD
SXKD

Nguyên nghĩa
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Dự án đầu tư
Cán bộ tín dụng
Tổ chức thương mại thế giới
Doanh nghiệp Nhà nước
Hội đồng Quản trị
Trách nhiệm hữu hạn
Cán bộ tín dụng
Sản xuất kinh doanh


7

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã tham gia và trở thành thành viên của WTO, việc hội nhập nền
kinh tế toàn cầu đã mở ra một xu thế mới , thời kỳ của sự tăng trưởng và phát triển
của tất cả các ngành , các lĩnh vực . Đặc biệt là những sự thay đổi mang tính chất
bước ngoặt của nền kinh tế nói chung , có thể nhận thấy một cách rõ nét , điển
hình,và nổi bật nhất là giai đoạn phát triển đỉnh cao của ngành Tài chính – Ngân
hàng nói riêng – Thể hiện bằng sự gia tăng cả về số lượng các Ngân hàng thương
mại và chất lượng sản phẩm dịch vụ mà các Ngân hàng cung ứng.
Hiện nay việc đầu tư theo chiều sâu vào tất cả các ngành , các lĩnh vực đang
được chú trọng. Đầu tư theo dự án do vậy mà cũng tăng lên cả về số lượng và quy
mô. Doanh số cho vay và lợi nhuận cho vay theo dự án cũng tăng lên. Chính vì vậy,
vấn đề an toàn , hiệu quả đối với các khoản vay đang rất được quan tâm . Việc xem
xét , thẩm định tính khả thi của dự án để đi đến quyết định đầu tư có liên quan chặt
chẽ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng . Công tác thẩm định DAĐT là công
cụ đắc lực giúp Ngân hàng tránh được rủi ro tín dụng này đồng thời bảo đảm lợi
nhuận cho Ngân hàng.
Với ý nghĩa đó việc thẩm định DAĐT góp phần cực kỳ quan trọng đối với sự
thành bại trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.Vì tính cấp bách , tầm quan
trọng của công tác này nên tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao chất lượng thẩm
định dự án đầu tư tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam – Chi nhánh Tây Đô” để làm luận văn thạc sỹ kinh tế.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về thẩm định tài chính dự án đầu tư tại
ngân hàng thương mại.


8

- Từ việc phân tích đánh giá thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án
đầu tư tại ngân hàng Agribank – CN Tây Đôqua đó rút ra những kết quả đã đạt
được, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại
ngân hàng Agribank – CN Tây Đô.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân
hàng thương mại. Thẩm định dự án đầu tư là nội dung quá rộng, tác giả xin giới hạn
nghiên cứu chất lượng thẩm định tài chính dự án tại Agribank – CN Tây Đô.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chất lượng thẩm định tài chính dự án tại
Agribank – CN Tây Đô trong giai đoạn 2012 đến 30/06/2015
4. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tác giả sử
dụng các phương pháp sau để nghiên cứu luận văn:
-

Phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp
Phương pháp logic
Phương pháp so sánh, kết hợp phân tích định tính, định lượng.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương
như sau:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu
tư tại ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại
Agribank – CN Tây Đô.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại
Agribank – Chi nhánh Tây Đô


9

1CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG
THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về đầu tư và dự án đầu tư
 Đầu tư:

Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để
tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt các kết quả đó. Các kết quả ở
đây chính là vốn, chất xám, tài nguyên thiên nhiên, thời gian … và lợi ích dự kiến
có thể lượng hóa được (tức là đo được hiệu quả bằng tiền như sự tăng lên của sản
lượng, lợi nhuận …) mà cũng có thể không lượng hóa được (như sự phát triển trong
lĩnh vực giáo dục, quốc phòng, giải quyết các vấn đề xã hội …).
Đầu tư là một hoạt động kinh tế dài hạn, cần có sự tham gia của nhiều chủ thể:
người tìm kiếm cơ hội đầu tư, người bỏ vốn đầu tư và đặc biệt không thể thiếu sự
góp mặt của Nhà nước với tư cách nhà quản lý vĩ mô. Các chủ thể này đều mong
muốn đạt được mục đích cuối cùng của đầu tư là khả năng sinh lợi. Người ta không
thể đầu tư nếu không thấy có khả năng sinh lợi. Nhưng đầu tư là một việc làm đầy
mạo hiểm, do vậy để đảm bảo sinh lợi tối đa thì họ cần đến một dự án đầu tư.
Đầu tư là một trong những nhân tố quyết định đến sự phát triển của một doanh
nghiệp cũng như của nền kinh tế quốc dân. Đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực
hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai. Hay nói khác
đi, đó là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, sức lao động, tài nguyên
thiên nhiên, trí tuệ con người và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián
tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền
kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ của ngành, cơ quan quản


10

lý và xã hội nói riêng. Hoạt động đầu tư bao gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp.
Từ đó, có thể thấy rằng “Đầu tư là quá trình hoạt động sử dụng vốn để hình
thành nên những tài sản cần thiết phục vụ cho mục đích thu lợi nhuận trong khoảng
thời gian dài trong tương lai” (PGS.TSNguyễn Đình Kiệm, TS Bạch Đức Hiển
(2007), Giáo trình tài chính doanh nghiệp - Học viện tài chính, tr.164). Những kết
quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà
máy, xưởng sản xuất, đường xá, máy móc thiết bị, của cải vật chất khác...) tài sản trí
tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật...) và nguồn nhân lực có đủ
điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Ngày nay, nhằm tối đa hiệu quả đầu tư , các hoạt động đầu tư đều được thực
hiện theo dự án . Vậy dự án đầu tư được hiểu như thế nào ?
 Dự án đầu tư:

Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để
tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự
tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm
hoặc dịch vụ trong một khoảng thời gian xác định. Có thể nói, dự án đầu tư chính là
luận chứng một cách đầy đủ về mọi phương diện của một cơ hội đầu tư, giúp cho
chủ đầu tư và các chủ thể có liên quan có đủ độ tin cậy cần thiết để quyết định thực
hiện đầu tư.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì “Dự án đầu tư là một tập
hợp các hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp trên cơ
sở các nguồn lực nhất định”.
“DAĐT là tập hợp các đề xuất có liên quan tới việc bỏ vốn để tạo vốn, mở
rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về
số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ
trong khoảng thời gian nhất định”.
 Vai trò của dự án đầu tư


11

Từ việc xem xét bản chất của đầu tư phát triển từ trước đến nay, tất cả các lý
thuyết kinh tế đều cho rằng đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh
tế, là chìa khóa của sự tăng trưởng.
Một dự án đầu tư có sự góp mặt của rất nhiều chủ thể và vai trò cụ thể của dự
án đầu tư với họ cũng rất khác nhau, thể hiện ở những điểm chính sau:
Trước hết đối với chủ đầu tư, dự án đầu tư được các chuyên gia xây dựng rất
chặt chẽ trên cơ sở nghiên cứu kĩ lưỡng các yếu tố thị trường, kỹ thuật, quản lý…
Do đó chủ đầu tư sẽ yên tâm với quyết định thực hiện đầu tư hơn. Nó cũng là cơ sở
để họ xây dựng các kế hoạch mua sắm máy móc thiết bị, thi công xây lắp…, và dự
án cũng là tài liệu quan trọng để giúp họ nhận được sự tài trợ của các tổ chức tín
dụng.
Đối với các nhà tài trợ các nội dung của dự án, đặc biệt là chỉ tiêu hiệu quả tài
chính sẽ là căn cứ để để đi đến quyết định có tài trợ vốn cho dự án hay không. Nếu
đã chấp nhận tài trợ vốn thì dự án lại là cơ sở để họ xây dựng kế hoạch cấp vốn và
thu hồi nợ.
Đối với Nhà nước: Tùy từng thời kì, Nhà nước đề ra các mục tiêu phát triển và
đầu tư cho các ngành nghề và khu vực khác nhau. Nếu dự án có mục tiêu phù hợp
với định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mặt khác lại có hiệu quả kinh
tế xã hội, và ảnh hưởng tốt đến môi trường thì đó sẽ là cơ sở để Nhà nước phê duyệt
và cấp giấy phép đầu tư.
 Phân loại dự án đầu tư

Trên thực tế, các dự án đầu tư rất đa dạng về cấp độ, loại hình, quy mô và thời
hạn và được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Sau đây là một số cách phân
loại dự án nhằm tạo thuận lợi cho việc quản lý, theo dõi và đề ra các biện pháp để
nâng cao hiệu quả của các hoạt động đầu tư theo dự án.
- Theo tính chất của dự án đầu tư:


12

Dự án đầu tư mới: Là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nhằm hình thành các
công trình mới. Thực chất trong đầu tư mới, cùng với việc hình thành các công trình
mới đòi hỏi có bộ máy quản lý mới.
Dự án đầu tư chiều sâu: Là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nhằm cải tạo,
mở rộng, nâng cấp, hiện đại hóa, đồng bộ hóa dây chuyền sản xuất, dịch vụ trên cơ
sở các các công trình đã có sẵn. Thực chất trong đầu tư chiều sâu, tiến hành việc cải
tạo mở rộng và nâng cấp các công trình có sẵn được tiến hành với bộ máy quản lý
đã hình thành từ trước khi đầu tư.
Dự án đầu tư mở rộng: Là dự án nhằm tăng cường năng lực sản xuất, dịch vụ
hiện có nhằm tiết kiệm và tận dụng có hiệu quả công suất thiết kế của năng lực sản
xuất đã có
- Theo nguồn vốn:
Dự án đầu tư có vốn huy động trong nước: Vốn trong nước là vốn hình thành
từ nguồn vốn tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dân, bao gồm: Vốn ngân sách
Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của
Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước, các nguồn vốn khác.
Dự án đầu tư có vốn huy động từ nước ngoài: Vốn ngoài nước là vốn hình
thành không bằng nguồn tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dân, bao gồm: Vốn
thuộc các khoản vay nước ngoài của Chính phủ và các nguồn viện trợ quốc tế dành
cho đầu tư phát triển (kể cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA), vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài FDI, vốn đầu tư của cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và cơ quan
nước ngoài khác đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam, vốn vay nước ngoài do
Nhà nước bảo lãnh đối với doanh nghiệp.
- Theo ngành đầu tư:
Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằm
xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội. hoàn chỉnh và nâng cao chất lượng các


13

công trình giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cấp thoát nước. Trong điều kiện
nước ta hiện nay đầu tư vào cơ sở hạ tầng là cực kỳ quan trọng có ý nghĩa quyết
định để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm phát triển kinh tế.
Dự án đầu tư phát triển công nghiệp: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây
dựng các công trình công nghiệp.
Dự án đầu tư phát triển nông nghiệp: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây
dựng các công trình nông nghiệp.
Dự án đầu tư phát triển dịch vụ: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây
dựng các công trình dịch vụ (thương mại, khách sạn – du lịch, dịch vụ khác …).

1.1.2. Thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm thẩm định dự án đầu tư của Ngân hàng thương mại
Thẩm định dự án đầu tư là việc rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, khách
quan và toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳng định
tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi ra quyết định đầu tư.
Đối với các nhà tài trợ vốn, tổ chức cho vay: Thẩm định DAĐT tại NHTM
được hiểu là việc các cán bộ thẩm định thực hiện việc thẩm tra, so sánh một cách
khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung của dự án để đánh gía về tính hợp
lí, tính hiệu quả và khả thi của dự án, từ đó sẽ có những quyết định tài trợ về vốn
hay không.
Mục tiêu của thẩm định dự án đầu tư:
Giúp Chủ đầu tư, các cấp đưa ra quyết định đầu tư và cấp giấy phép đầu tư,
lựa chọn được phương án đầu tư tốt nhất, quyết định đầu tư đúng hướng và đạt
được lợi ích kinh tế - xã hội mà dự án đầu tư mang lại.
Quản lý quá trình đầu tư dựa vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà
nước, quy hoạch phát triển ngành và địa phương từng thời kỳ.


14

Thực thi luật pháp và các các chính sách hiện hành.
Lựa chọn phương án khai thác, sự dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất
nước.
Góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất cũng như tính thần của nhân
dân.
Thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

1.1.2.2. Nội dung, quy trình thẩm định dự án đầu tư của Ngân hàng thương
mại
 Nội dung thẩm định DADT của NHTM

Nội dung thẩm định dự án đầu tư của các NHTM được thể hiện qua các nội
dung có liên quan đến dự án đầu tư, kể cả liên quan đến chủ đầu tư thực hiện dự án
đầu tư. Thẩm định dự án đầu tư của các ngân hàng được phản ánh qua các nội dung
sau:
Thẩm định tư cách của chủ đầu tư: Dựa trên hồ sơ pháp lý khách hàng cung
cấp như: đăng ký kinh doanh, mã số thuế, điều lệ công ty, quyết định bổ nhiệm
Giám đốc, Kế toán trưởng, giấy chứng nhận đầu tư… cán bộ ngân hàng thẩm định
đánh giá tính đầy đủ về mặt pháp lý của doanh nghiệp để xem doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh có giấy phép không, ngành nghề kinh doanh đúng quy định của
pháp luật không.
Thẩm định khả năng tài chính của chủ đầu tư : Thông qua đánh giá các báo
cáo tài chính cùng chi tiết các khoản mục, chuyên viên thẩm định đánh giá được
tình hình tài chính của doanh nghiệp có lành mạnh hay không thông qua một số chỉ
tiêu cơ bản: vốn lưu động ròng dương hay âm, tỷ suất lợi nhuận, các chỉ tiêu thanh
toán, chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu sinh lời… và so sánh với các chỉ tiêu của ngành.
Thẩm định khả năng trả nợ: Thẩm định các nội dung liên quan đến dự án đầu
tư để thấy được dự án khả thi, có lợi nhuận để trả nợ: Cơ sở pháp lý của dự án đầu
tư; Mục tiêu của dự án đầu tư; Phương diện thị trường; Phương diện kỹ thuật, công


15

nghệ; Phương diện tài chính của dự án; Phương diện tổ chức quản lý; Vấn đề môi
trường sinh thái.
Thẩm định về biện pháp bảo đảm tiền vay : Qua việc xem xét hồ sơ tài sản
đảm bảo bao gồm giấy chứng nhận sở hữu đối với tài sản bảo đảm, chứng từ chứng
minh mối quan hệ giữa doanh nghiệp và chủ sở hữu tài sản (nếu là tài sản của bên
bảo lãnh)… để đánh giá pháp lý của tài sản có phù hợp với quy định của pháp luật
và của ngân hàng, đánh giá tính khả mại của tài sản trên thị trường từ đó ngân hàng
có phương thức quản lý tài sản phù hợp và đề xuất tỷ lệ cho vay hợp lý, đảm bảo an
toàn cho ngân hàng khi tài trợ.
 Quy trình thẩm định DAĐT của NHTM

Mỗi Ngân hàng tự xây dựng và áp dụng cho nội bộ đơn vị mình một quy trình
thẩm định riêng sao cho phù hợp với điều kiện của ngành, của Ngân hàng mình và
tuân thủ theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, về cơ bản một
quy trình thẩm định bao gồm 7 bước (xem sơ đồ 1.1)


16

Sơ đồ 1.1. Quy trình thẩm định dự án đầu tư

Bước 1

Kiểm tra hồ sơ vay vốn và kiểm tra thực tế đối với khách hàng

Bước 2

Tập hợp các căn cứ để thẩm định

Bước 3

Thẩm định khách hàng vay vốn

Bước 4

Thẩm định dự án đầu tư và
phương án cho vay, thu nợ

Bước 5

Thẩm định các điều kiện kinh tế ảnh hưởng đến dự án đầu tư

Bước 6

Thẩm định biện pháp đảm bảo
tiền vay

Bước 7

Lập tờ trình kết quả thẩm định

Bước 1 của quy trình nhằm đảm bảo tính đầy đủ, hợp pháp và thống nhất của
các hồ sơ. Mặt khác, kiểm tra thực tế đối với khách hàng ở bước này giúp cho cán
bộ tín dụng có những hình dung ban đầu cần thiết về cơ sở vật chất, con người và
cách tổ chức quản lý kinh doanh của đơn vị xin vay.
Bước 2 nhằm thu thập các thông tin tín dụng theo những nguồn thông tin như
đã nêu trên.
Các bước còn lại 3, 4, 5, 6 là những bước chính của quy trình, thường được
xem là những yếu tố của thẩm định dự án sẽ được nghiên cứu cụ thể trong phần sau.


17

1.1.2.3. Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng thương
mại


Thẩm định năng lực tài chính doanh nghiệp
Bất cứ một dự án khả thi nào cũng được lập trên một cơ sở nền tảng về khả
năng tài chính của chính chủ đầu tư đó. Vì thế mà công tác thẩm định tài chính
doanh nghiệp của chủ đầu tư là hết sức quan trọng. Trong công tác này người phân
tích chủ yếu sử dụng các chỉ số tài chính để phân tích. Đây là một phương pháp rất
hiệu quả để đánh giá toàn diện về tình hình tài chính của doanh nghiệp đó. Các chỉ
số thường sự dụng bao gồm trong 4 nhóm cơ bản sau:
Các chỉ số về khả năng thanh toán:
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà doanh
nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ
chức có quan hệ cho doanh nghiệp vay hoặc nợ.
Năng lực tài chính đó tồn tại dưới dạng tiền tệ (tiền mặt, tiền gửi …), các
khoản phải thu từ các cá nhân mắc nợ doanh nghiệp, các tài sản có thể chuyển đổi
nhanh thành tiền như: hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán.
Các khoản nợ của doanh nghiệp có thể là các khoản vay ngân hàng, khoản nợ
tiền hàng do xuất phát từ quan hệ mua bán các yếu tố đầu vào hoặc sản phẩm hàng
hóa doanh nghiệp phải trả cho người bán hoặc người mua đặt trước, các khoản thuế
chưa nộp ngân hàng nhà nước, các khoản chưa trả lương.
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn dùng để đo lường khả năng trả các khoản
nợ ngắn hạn của doanh nghiệp như nợ và các khoản phải trả) bằng các tài sản ngắn
hạn của doanh nghiệp, như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho).
Các chỉ số về khả năng hoạt động: Các chỉ số hoạt động cho thấy doanh
nghiệp hoạt động tốt như thế nào. Trong các chỉ số của loại này lại được chia ra các
chỉ số “lợi nhuận hoạt động” và ”hiệu quả hoạt động”. Các chỉ số về lợi nhuận hoạt
động cho biết tổng thể khả năng sinh lợi của công ty, còn chỉ số về hiệu quả hoạt
động cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng tài sản hiệu quả đến mức nào.


18

Các chỉ số về khả năng cân đối vốn:
Đây là nhóm các chỉ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn, khả năng tự chủ tài chính
của doanh nghiệp. Để phân tích, thông thường hay sử dụng hai chỉ tiêu sau:
 Tổng nợ phải trả/ Tổng tài sản: Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng tổng tài sản được tài trợ

bằng nợ của DN
 Nợ dài hạn/ Vốn chủ sở hữu: Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng nợ dài hạn và vốn chủ

sở hữu mà DN sử dụng để tài trợ cho tổng tài sản của nó.
Các chỉ số về khả năng sinh lời:
Khả năng sinh lời trên tài sản (ROA)
Khả năng sinh lời trên tài sản (ROA) là một tỷ lệ tài chính cho thấy tỷ lệ phần
trăm của lợi nhuận mà công ty kiếm được trong mối quan hệ với các nguồn lực tổng
thể của nó (tổng tài sản). Khả năng sinh lời trên tài sản là một tỷ lệ lợi nhuận quan
trọng, nó cho thấy khả năng của công ty để tạo ra lợi nhuận trước đòn bẩy tài chính,
chứ không phải bằng cách sử dụng đòn bẩy tài chính. Không giống như tỷ suất sinh
lời khác, chẳng hạn như khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), đo lường
ROA sẽ bao gồm tất cả các tài sản của công ty - bao gồm cả những phát sinh từ các
khoản nợ cũng như những phát sinh từ các khoản đóng góp của các nhà đầu tư. Vì
vậy, ROA sẽ cho ta thấy sự hiệu quả của công ty trong việc quản lý, sử dụng tài sản
để tạo ra lợi nhuận, nhưng chỉ tiêu này thường ít được các cổ đông quan tâm đến so
với một số chỉ tiêu tài chính khác như ROE.
Công thức:ROA = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản bình quân
Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) là số tiền lợi nhuận trở lại như
một tỷ lệ vốn chủ sở hữu. Nó cho thấy có bao nhiêu lợi nhuận kiếm được của một
công ty so với tổng số vốn chủ sở hữu của công ty đó.
ROE là một trong những chỉ tiêu tài chính quan trọng nhất. Nó thường được
xem là tỷ lệ tối thượng có thể được lấy từ báo cáo tài chính của công ty. Nó là chỉ
tiêu để đo lường khả năng sinh lời của một công ty đối với chủ đầu tư.
Công thức: ROE = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu bình quân


19

Một cách phổ biến để chia tách ROE thành ba thành phần quan trọng là công
thức DuPont, còn được gọi là mô hình chiến lược lợi nhuận. Tách ROE thành ba
phần làm cho nó dễ dàng hơn để hiểu những thay đổi trong ROE theo thời gian.
ROE ( công thức DuPont) = (Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu) * (Doanh
thu/Tổng tài sản) * (Tổng tài sản/vốn chủ sở hữu)
Khả năng sinh lời trên vốn sử dụng (ROCE)
Khả năng sinh lời trên vốn sử dụng (ROCE) là một thước đo khả năng tạo ra
lợi nhuận của một doanh nghiệp từ vốn được sử dụng. Vốn sử dụng được tính bằng
vốn chủ sở hữu cộng với nợ dài hạn của một công ty (hoặc tổng nguồn vốn - Nợ
ngắn hạn), nói cách khác đó là tất cả các nguồn vốn dài hạn được sử dụng bởi công
ty. ROCE cho thấy hiệu quả từ việc tạo ra lợi nhuận từ các khoản đầu tư vốn của
một công ty.
Công thức: ROCE = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/Vốn sử dụng = Lợi
nhuận trước thuế và lãi vay/Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Khả năng sinh lời trên vốn đầu tư (ROI)
Khả năng sinh lời trên vốn đầu tư (ROI) là thước đo hiệu suất sử dụng để đánh
giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Nó là một trong những chỉ tiêu phổ biến nhất
được sử dụng để đánh giá các kết quả tài chính, đầu tư kinh doanh. Nếu một cơ hội
đầu tư có ROI cao và không có cơ hội khác có ROI cao hơn, nên việc đầu tư cần
được thực hiện.
ROI là một thước đo tài chính quan trọng cho:
- Quyết định mua tài sản (chẳng hạn như hệ thống máy tính, máy móc, phương
tiện dịch vụ)
- Quyết định phê duyệt và tài trợ cho các dự án và các chương trình khác nhau
(ví dụ như các chương trình tiếp thị, các chương trình tuyển dụng, và các chương
trình đào tạo)
- Quyết định đầu tư truyền thống (ví dụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
hoặc sử dụng vốn liên doanh).
Công thức: ROI = (Lợi nhuận từ đầu tư - Chi phí đầu tư) / Chi phí đầu tư


20

Cần lưu ý rằng định nghĩa và công thức của chỉ tiêu ROI có thể được sửa đổi
cho phù hợp với đối tượng phân tích. Ví dụ để đo lường khả năng sinh lợi của một
công ty thì công thức sau đây có thể được sử dụng để tính toán lợi nhuận trên đầu
tư.
ROI = Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản
Khả năng sinh lời trên doanh thu (ROS)
Khả năng sinh lời trên doanh thu (ROS) là một tỷ lệ sử dụng rộng rãi để đánh
giá hiệu suất hoạt động của một doanh nghiệp. Nó còn được gọi là "lợi nhuận hoạt
động". ROS cho biết bao nhiêu lợi nhuận của một doanh nghiệp làm ra sau khi trả
tiền cho chi phí biến đổi của sản xuất như: tiền lương, nguyên vật liệu, … (nhưng
trước lãi vay và thuế).
Khả năng sinh lời trên doanh thu có thể được sử dụng như một công cụ để
phân tích hiệu suất của một công ty và để so sánh hiệu suất giữa các công ty tương
tự nhau. Tỷ lệ này rất khác nhau đối với các ngành khác nhau nhưng lại rất hữu ích
cho việc so sánh giữa các công ty khác nhau trong cùng một doanh nghiệp. Cũng
như các chỉ tiêu khác, tốt nhất ta nên so sánh ROS của công ty trong một chuỗi thời
gian để tìm xu hướng, và so sánh nó với các công ty khác trong ngành. Một tỷ lệ
ROS sẽ tăng đối với các công ty có hoạt động đang ngày càng trở nên hiệu quả hơn,
trong khi một tỷ lệ giảm có thể là dấu hiệu lờ mờ khó khăn về tài chính. Mặc dù,
trong một số trường hợp, một tỷ lệ lợi nhuận thấp trên doanh thu bán hàng có thể
được bù đắp bằng doanh thu bán hàng tăng lên.
Công thức: ROS = EBIT / Doanh thu.


Thẩm định nguồn vốn của dự án đầu tư
Thẩm định tài chính nhằm đánh giá khả năng sinh lời để nhằm đáp ứng các
nghĩa vụ tài chính của dự án, thông qua việc tổng hợp các biến số tài chính kĩ thuật
đã được tính toán trong phần thẩm định trước để đưa ra những số liệu đầu vào cho
việc tính toán hiệu quả kinh tế xã hội.

-

Thẩm định nhu cầu tổng vốn đầu tư:


21

Trên thực tế, đối với các dự án chưa được thẩm định một cách kỹ lưỡng,khi
thực hiện thường không tránh khỏi tình trạng vốn đầu tư tăng lên hoặc giảm đi quá
lớn so với dự kiến, dẫn đến việc không cân đối được nguồn, ảnh hưởng đến hiệu
quả và khả năng trả nợ của dự án. Vì vậy mục đích của việc thẩm định tổng vốn đầu
tư là nhằm xác định tổng vốn đầu tư sát với thực tế, tạo cơ sở tính toán hiệu quả tài
chính và dự kiến khả năng trả nợ của dự án.
Tổng mức vốn đầu tư của dự án là giá trị toàn bộ số tiền và tài sản cần thiết để
lập và đưa dự án vào hoạt động.
Tổng vốn đầu tư = Vốn cố định + Vốn lưu động + Vốn dự phòng
-

Thẩm định cơ cấu nguồn vốn của dự án
Một dự án thường được tài trợ từ các nguồn sau:



Vốn tự có: để xác định nguồn vốn tự có của chủ đầu tư dự án, các ngân hàng cần
phải phân tích, xem xét tình hình tài chính cũng như tình hình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp chủ đầu tư ít nhất là trong hai năm gần nhất.



Vốn từ Ngân sách Nhà nước: đây là nguồn có tính an toàn cao, thường chỉ được cấp
cho các doanh nghiệp quốc doanh mà sản phẩm của doanh nghiệp mang tính chiến
lược đối với nền kinh tế.



Vốn vay từ các NHTM khác



Vốn vay trực tiếp từ nước ngoài: nguồn này thường chỉ xuất hiện trong các dự án
lớn, chuyển giao công nghệ hay nhập thiết bị từ nước ngoài.
Trên cơ sở tổng mức vốn đầu tư đã được duyệt, thông qua việc xem xét quy
mô các nguồn tài trợ, ngân hàng sẽ xác định được số vốn còn thiếu và mức độ cho
vay đối với dự án. Trong trường hợp các ngân hàng tham gia hợp vốn để cho vay thì
các yếu tố về nguồn tài trợ phải được tất cả các ngân hàng đồng tài trợ cùng xem
xét, bàn bạc rồi mới đi đến quyết định thống nhất.



Thẩm định về chi phí, doanh thu và lợi nhuận hàng năm của dự án
Dựa trên cơ sở doanh thu và chi phí hàng năm sẽ tính được lợi nhuận ròng
hàng năm theo công thức:


22

Thu nhập chịu
thuế trong kỳ

=

Doanh thu
trong kỳ

-

Chi phí hợp lý
trong kỳ

+

Thu nhập khác
trong kỳ

Thuế thu nhập = Thu nhập chịu thuế trong kỳ * thuế suất thuế thu nhập doanh
nghiệp
Lợi nhuận ròng = Thu nhập chịu thuế - Thuế thu nhập


Thẩm định dòng tiền hàng năm của dự án
Dòng tiền của dự án được định nghĩa là phần chênh lệch trong dòng tiền của
doanh nghiệp trong giai đoạn mà dự án được thực hiện so với lúc không thực hiện
dự án. Để đơn giản hóa và tiết kiệm chi phí thực hiện, trong các dự án dòng tiền
thường được giả định là xuất hiện vào cuối năm.
Đứng trên góc độ của các NHTM, với tư cách là nhà tài trợ dự án, các dự án
mà ngân hàng thẩm định được tài trợ bởi các nguồn vốn hỗn hợp bao gồm vốn tự có
của doanh nghiệp và vốn vay ngân hàng.



Thẩm định hiệu quả tài chính của dự án
Sau khi xem xét, phân tích dòng tiền hàng năm do dự án đem lại, công việc
tiếp theo của CBTĐ ngân hàng là lựa chọn phương pháp thẩm định phù hợp có thể
đánh giá được một cách chính xác hiệu quả tài chính của dự án. Trong thực tế có rất
nhiều phương pháp được áp dụng để có thể đánh giá hiệu quả tài chính dự án. Tuy
nhiên, mỗi phương pháp xem xét hiệu quả dự án ở những khía cạnh khác nhau,
chúng có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vì thế, CBTĐ cần phân tích, so sánh
mặt mạnh và yếu của từng phương pháp từ đó kết hợp với những đặc thù của dự án
để lựa chọn phương pháp thẩm định hợp lý.
Các phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính dự án thường được các NHTM
sử dụng là:

-

Đánh giá giá trị hiện tại ròng (NPV):
Khái niệm: NPV (Net present vaule) là chênh lệch giữa giá trị hiện tại của
dòng tiền dự tính dự án mang lại trong thời gian kinh tế của dự án và giá trị đầu tư
ban đầu.
Công thức xác định :


23

Trong đó: CF0: vốn đầu tư bỏ ra ban đầu (giả định bỏ một lần vào đầu năm
thứ nhất).
CFt: dòng tiền ròng năm thứ t
i: lãi suất chiết khấu
n: số năm hoạt động của dự án
Nguyên tắc đánh giá dự án bằng chỉ tiêu NPV:
- Dự án độc lập với nhau:
+NPV > 0: Dự án có lãi: chấp nhận dự án
+NPV < 0: Dự án lỗ: loại bỏ dự án
+NPV = 0: Dự án hoà vốn: tuỳ từng quan điểm của nhà đầu tư mà có nên thực
hiện tiếp dự án này hay không.
- Dự án loại trừ nhau
+NPV(A) >NPV(B)
+NPV (A) >= 0
Như vậy lựa chọn dự án A để đầu tư
Ý nghĩa của chỉ tiêu: NPV phản ánh giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư.
-

Đánh giá tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR):
Khái niệm: Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại
ròng của dự án bằng không.

Cách xác định:
Trong đó: - k1: lãi suất chiết khấu ứng với NPV1 > 0 gần tới 0.
- k2: lãi suất chiết khấu ứng với NPV2< 0 gần tới 0.
- NPV1: Giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất chiết khấu k 1.
- NPV2: Giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất chiết khấu k 2.


24

Trong quá trình tính toán cần chú ý không nên nội suy quá rộng, cụ thể là
khoảng cách giữa hai lãi suất k1, k2 không nên vượt quá 5%.
Theo phương pháp IRR, dự án được chọn khi IRR lớn hơn hoặc bằng mức lãi
suất thị trường (mức lãi suất được dùng để tính NPV). Đó là bởi vì lãi suất thị
trường phản ánh chi phí cơ hội của vốn. Do vậy, để được lựa chọn, một dự án phải
tạo ra được tỷ lệ lợi nhuận ít nhất phải bằng với tỷ lệ sinh lời sẵn có trên thị trường
vốn.
Đối với dự án độc lập thì lựa chọn các dự án có IRR > chi phí vốn bình quân
của dự án.
Đối với các dự án phụ thuộc, loại trừ lẫn nhau thì trong các dự án có IRR > chi
phí vốn bình quân của dự án, lựa chọn dự án nào có IRR lớn nhất.
-

Đánh giá thời gian hoàn vốn (PP):
Khái niệm: Thời gian hoàn vốn là thời gian trong đó tổng vốn đầu tư vào
TSCĐ được thu lại bằng lợi nhuận và khấu hao hàng năm.
Cách xác định:

PP =

Σ Vốn
Lợi nhuận + Khấu hao

Ý nghĩa của chỉ tiêu: PP phản ánh thời gian thu hồi vốn đầu tư, chỉ tiêu này
cho biết sau bao lâu thì dự án thu hồi đủ vốn đầu tư đã bỏ ra thực hiện dự án.
Với các dự án độc lập, dự án được lựa chọn khi thời gian hoàn vốn của nó
nằm trong khoảng thời gian hoàn vố tiêu chuẩn. Thời gian hoàn vốn tiêu chuẩn của
dự án có thể được xác định dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ, thời gian hoàn vốn
trung bình của ngành hoặc dựa trên khả năng dự đoán của nhà đầu tư….
Với các dự án loại trừ nhau, các dự án sẽ được sắp xếp theo tốc độ hoàn vốn
giảm dần. Dự án có thời gian hoàn vốn nhanh nhất và nằm trong khoản thời gian
tiêu chuẩn sẽ được lựa chọn.


Đánh giá chỉ số lợi nhuận (PI)


25

Phương pháp PI đo lường giá trị hiện tại của những khoản thu nhập kỳ vọng
mà dự án đem lại chia cho khoản đầu tư ban đầu.
Công thức:

Theo phương pháp này các dự án có PI > 1 sẽ được lựa chọn. Tuy nhiên, dự
án cũng có những ưu điểm và nhược điểm riêng.


Thẩm định rủi ro của dự án
Rủi ro của dự án được hiểu một cách chung nhất là khả năng mà một sự
kiện không có lợi nào đó xuất hiện.
Để thẩm định rủi ro của dự án, ngân hàng thường áp dụng các phương pháp
sau:

-

Phân tích độ nhạy:
Phân tích độ nhạy của dự án là việc lần lượt cho từng yếu tố của dự án thay
đổi trong khi các yếu tố khác vẫn giữ nguyên để nghiên cứu tác động của yếu tố đó
tới kết quả (NPV, IRR…) hay tính khả thi của dự án.
Phân tích độ nhạy giúp cho các NHTM trong việc đánh giá rủi ro bằng cách
xác định những biến cố có ảnh hưởng nhiều nhất đến lợi ích ròng của dự án và
lượng hóa mức độ ảnh hưởng của chúng. Từ đó giúp cho các Ngân hàng nhận biết
được những điểm yếu của dự án và chỉ ra sự cần thiết phải thu thập thông tin về một
số biến số.

-

Phân tích tình huống
Phương pháp này phân tích sự thay đổi của các biến số trong phạm vi có thể
và được tính toán dựa trên sự phân bố xác suất. Với phương pháp này nhà phân tích
cần phải có số liệu về xác suất tương ứng dành cho các tình huống (xấu nhất, cơ sở,
tốt nhất). Tuy nhiên việc tính toán các xác suất này trên thực tế cũng rất khó khăn.
Trên cơ sở các tình huống và xác suất đó, các nhà phân tích tính toán hệ số biến
thiên của NPV hay IRR. Nhà phân tích sẽ tiến hành so sánh hệ số này với hệ số biến


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×