Tải bản đầy đủ

Tâm lý dân tộc, tâm lý vùng miền tác động đến công tác dân vận như thế nào?

Tâm lý dân tộc, tâm lý vùng miền tác động đến công tác dân vận như thế nào?
1. Một số khái niệm liên quan
- Tâm lý học trong công tác dân vận: Tâm lý học trong công tác dân vận là khoa
học về sự vận dụng tâm lý học nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình thực hiện công
tác vận động quần chúng, trong đó nghiên cứu các hiện tượng, đặc điểm tâm lý cá nhân,
các nhóm xã hội trong các cộng đồng xã hội; nghiên cứu các phẩm chất tâm lý chủ thể
thực hiện công tác dân vận và các yếu tố tâm lý vận dụng vào công tác dân vận.
- Công tác dân vận: CTDV là toàn bộ những hoạt động của cả hệ thống chính trị
nhằm tuyên truyền, vận động, thu hút, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức các phong
trào nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước và để chăm lo, bảo vệ lợi ích của nhân dân.
- Tâm lý dân tộc, tâm lý vùng miền: Tâm lý dân tộc, tâm lý vùng miền được hiểu là
những cảm xúc, tình cảm, nhận thức, ý chí, tâm trạng, thói quen, truyền thống, các quá
trình, trạng thái, thuộc tính tâm lý của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền được biểu hiện trong
công việc và đời sống hàng ngày, được hình thành và phản ánh các mối quan hệ của con
người trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định.
2. Những ảnh hưởng của tâm lý dân tộc, vùng miền đến công tác dân vận
Thứ nhất, về đặc điểm tâm lý dân tộc ở Việt Nam.
Như trên khái niệm về tâm lý dân tộc, chúng ta có thể hiểu tâm lý dân tộc ở đây có
thể hiểu ở hai phạm vi khác nhau. Một, đó là những cảm xúc, tình cảm, nhận thức, ý chí,
tâm trạng, thói quen, truyền thống, các quá trình, trạng thái, thuộc tính tâm lý… của

chính dân tộc Việt Nam nói chung. Hai, là những biểu hiện của từng dân tộc (54 dân tộc)
nói riêng, mỗi một dân tộc có những đặc trưng riêng biệt, để phân biệt dân tộc mình đối
với dân tộc khác. Ví dụ: dân tộc Kinh khác gì với dân tộc Bana hay dân tộc Tày,…
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, liên quan đến vấn đề công tác dân vận của
Đảng ta, nên chỉ tập trung ở những vấn đề cơ bản của tâm lý từng dân tộc trên đất nước
Việt Nam (không nêu riêng lẽ từng đặc điểm riêng biệt của từng dân tộc một), để từ đó

1


cán bộ dân vận nắm bắt từng đặc điểm riêng của từng dân tộc để thực hiện có hiệu quả
CTDV.
Tiêu chí để xác định các thành phần dân tộc (tộc người) ở Việt Nam đó là: có chung
ngôn ngữ; có các đặc điểm chung về văn hóa và quan trọng hơn hết có chung ý thức tự giác
tộc người.
Trên cơ sở đó, Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó người Kinh là đa số, chiếm khoảng
86% dân số; 53 tộc người thiểu số chiếm khoảng 14% dân số cả nước. Trong số 63 tỉnh,
thành phố hiện nay có tới 54 tỉnh thuộc địa bàn vùng miền núi và dân tộc thiểu số: 12
tỉnh vùng cao; 9 tỉnh miền núi; 23 tỉnh có huyện, xã miền núi và 10 tỉnh khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long là nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống.
Công tác dân vận khi khai thác tâm lý dân tộc trước hết cần khai thác ở sự phản ánh
nhu cầu của mỗi dân tộc thiểu số nước ta. Nhu cầu của mỗi dân tộc là nền tảng tâm lý của
dân tộc ấy; trên cơ sở nhu cầu của mỗi dân tộc, nó qui định xu hướng hoạt động của mỗi
dân tộc. Một dân tộc thiểu số nào đó hoạt động theo hướng nào? (tích cực, tiến bộ hay
tiêu cực, lạc hậu) đều do nhu cầu tích cực hay tiêu cực của họ chi phối. Nhu cầu của mỗi
dân tộc là nguồn gốc sâu xa của việc phát huy tính tích cực xã hội của mỗi dân tộc là
nguồn gốc sâu xa của việc phát huy tính tích cực xã hội của mỗi dân tộc; như chúng ta
thường nói nhu cầu của dân tộc là động lực sự phát triển của họ.
Hai là, cần khai thác đó chính là những đặc điểm phong tục, tập quán, văn hóa của
mỗi dân tộc. Xuất phát từ những yếu tố này, nó thể hiện được nhiều yếu tố tâm lý của
cộng đồng dân tộc đó, đặt ra cho người làm dân vận có thể áp dụng hay cần điều chỉnh
những cách làm cụ thể như thế nào cho phù hợp với văn hóa từng dân tộc đó. Ví dụ như,
một số đồng bào dân tộc thiểu số còn văn hóa “ăn bốc”, khi đến vùng này để vận động,
tuyên truyền cán bộ dân vận cần nắm được phong tục này để trước tiên hòa mình vào nó
sau đó dần dần điều chỉnh họ, giúp thay đổi cách ăn phù hợp, đảm bảo vệ sinh.
Ba là, việc hình thành cá tính của từng dân tộc hay mỗi miền còn tùy thuộc nhiều yếu
tố khác nữa như yếu tố về địa lý gồm khí hậu, thổ nhưỡng, sản vật, thức ăn, nước uống tại
bản địa cũng như thực vật, động vật và sau cùng đến yếu tố lịch sử, xã hội, di truyền
2



(gien). Chẳng hạn như, đối với một số dân tộc vùng cao, chúng ta không thể nào có cách
tập trung họ về một điểm (nhà văn hóa thôn, bản như vùng đồng bằng được) để mà vận
động, tuyên truyền chính sách mà cần đến trực tiếp từng nhà, hộ gia đình hay thậm chí gặp
gỡ riêng để trao đổi, vận động được,…
Thứ hai, về đặc điểm tâm lý vùng miền.
Ngoài những đặc điểm dân tộc thì một yếu tố khác ảnh hưởng không nhỏ đó chính
là tâm lý vùng miền. Bất kỳ người nào có dịp tới các địa phương khác với tỉnh mình,
vùng mình sinh sống đều có cơ hội trải nghiệm một hiện tượng rất phổ biến: Sự phân biệt
vùng miền. Vậy, những đặc điểm nào để phân biệt các vùng với nhau?
Giọng nói (ngôn ngữ) là yếu tố cơ bản có thể để phân biệt người ở tỉnh này hay tỉnh
kia, vùng này hay vùng kia, miền này hay miền kia. Ví dụ: Giọng nói người miền Nam
khác với người miền Bắc và khác với người miền Trung. Có người nói vui: “Người miền
Bắc nói dễ nghe mà khó hiểu, người miền Nam nói khó nghe mà dễ hiểu, còn người miền
Trung nói khó nghe và khó hiểu”. Hay là sự phân biệt do chủ ý của con người, để thuận
tiện trong quá trình quản lý, chúng ta áp đặt sự phân biệt như bảng số xe để phân biệt tỉnh
này với tình khác,…
Lẽ dĩ nhiên, mỗi địa phương đều có ít hay nhiều các yếu tố đặc trưng, phân biệt với
địa phương khác. Đó có thể là giọng nói, phong tục, thói quen, quan niệm, cách ăn mặc
hay một số tính cách được cho là phổ biến tại địa phương đó. Vậy nên lôgic mà nói, sự
phân biệt vùng miền là hoàn toàn hợp lý, thậm chí là cần thiết.
Phân biệt vùng miền, nếu vượt ra ngoài mục đích hiểu nhau để tìm cách chung sống
với nhau, sẽ trở thành một thứ phản văn hóa, phản con người. Bởi lẽ giá trị một con
người được xác lập bởi những gì anh ta có, chứ không phải chỉ, và không chắc là bởi
những gì mà quê hương, bản quán của anh ta có. Không có gì thiếu tôn trọng con người
hơn việc chụp cho anh ta một cái mũ sau khi đã “vơ đũa cả nắm”.
Bên cạnh đó, thay vì cố khoét sâu vào những đặc trưng vùng miền và dựng nên
những hàng rào ngăn cách có tính vùng miền, sẽ tốt hơn cả nếu mỗi người tìm cách hòa
nhập với nhau. Người ta buộc phải tuân theo một số chuẩn mực văn hóa chung để có thể
3


cùng nhau sống trong một không gian đa văn hóa, nếu không, xã hội sẽ chỉ là những túp
lều đóng kín và tự đánh mất cơ hội phát triển của mình.
Để hoạt động vận động quần chúng đạt kết quả tốt, người làm công tác dân vận
không thể bỏ qua những đặc điểm của tâm lý dân tộc, tâm lý từng vùng miền mà mình
cần tác động. Từ những đặc điểm này, giúp cho cán bộ dân vận có cách thức tác động
phù hợp vừa tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước đến người dân vừa tham mưu, đề xuất chủ trương, chính sách phù hợp để Đảng,
Nhà nước chăm lo, bảo vệ và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng từ phía người
dân.
3. Liên hệ thực tiễn công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Việc nắm bắt tốt tâm lý dân tộc, tâm lý vùng miền cùng với thực tiễn sinh động
trong đời sống xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc, việc nghiên cứu, vận dụng vào hoạt
động của công tác dân vận đã đảm bảo thực hiện có hiệu quả các chương trình, mục tiêu,
chỉ thị Nghị quyết đã đề ra về phát triển đất nước. Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành
Trung ương (Khoá IX) đã ra Nghị quyết “Về công tác dân tộc”. Quan điểm của Nghị
quyết được thể hiện nhất quán và có những bước phát triển trong văn kiện Đại hội X, XI
của Đảng. Về công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp đổi mới
đất nước. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi phải quán triệt và thực hiện thật tốt
phong cách công tác dân vận “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với
dân”.
Một là, nội dung vận động đồng bào các dân tộc thiểu số.
- Về xây dựng tổ chức cơ sở Đảng: Đảng viên là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, là
lực lượng nòng cốt trong tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng ở cơ sở, tạo
động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội, xóa đói giảm nghèo của địa phương.
Các tổ chức Đảng phải lấy việc vận động và chăm lo lợi ích của nhân dân đưa được
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với mọi người dân.
4


- Nắm vững tâm tư nguyện vọng của đồng bào: Cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ
sở phải đi sâu, đi sát, tìm hiểu, nắm bắt được tâm tư nguyện vọng, những vấn đề bức xúc
của các dân tộc thiểu số.
- Phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân: Mặt trận và các đoàn thể
nhân dân phối hợp thường xuyên, chặt chẽ với các cơ quan của Nhà nước sát cơ sở, đứng
chân trên địa bàn, vận động nhân dân phát triển kinh tế. Phát huy nhân rộng mô hình,
sáng kiến tích cực, tuyên truyền, giáo dục, tâm bảo vệ lợi ích nhân dân.
Xây dựng Mặt trận và các đoàn thể nhân dân vững mạnh, thu hút được nhiều người
tham gia, đáp ứng lợi ích thành viên, đoàn viên, hội viên.
Người có uy tín trong cộng đồng có thể là cán bộ xã, trưởng bản, già làng, thầy
cúng...
- Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở: Thực sự bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra” những việc có quan hệ đến lợi ích nhân dân. Đại diện cho mình tham
gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, không chỉ
đảm bảo mà còn phải tạo điều kiện và hướng dẫn thực hiện các quyền đó; đề phòng và
khắc phục các việc làm vi phạm quy chế dân chủ, sống xa dân, quan liêu, mệnh lệnh với
dân.
- Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước: Thực hiện tốt các cuộc vận động về từng
lĩnh vực cụ thể và cuộc vận động chung “Toàn dân đoàn kết phấn đấu vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” cần tổ chức cho phù hợp với từng dân tộc,
từng địa phương.
- Thực hiện tốt việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ: Đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức thuộc các tộc người thiểu số, đặc biệt là cán bộ chủ
chốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất và năng lực, bảo đảm về tiêu chuẩn,
cơ cấu dân tộc, trình độ, tính kế thừa giữa các thế hệ; nâng cao trình độ văn hoá, chuyên
5


môn nghiệp vụ… góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo
đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc thiểu số.
- Phổ biến pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số: Các tộc người thiểu số chủ
yếu sinh sống ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, đời sống kinh tế xã hội còn
nhiều khó khăn, lạc hậu nên ít có điều kiện để cập nhật thông tin, nhất là thông tin về
pháp luật.
- Về vấn đề dân tộc, tôn giáo: Vấn đề dân tộc, tôn giáo là vấn đề hết sức nhạy cảm,
do đó các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể cần phối hợp giải quyết
kịp thời những vấn đề nảy sinh mâu thuẫn, không để diễn biến kéo dài.
Hai là, phương châm công tác dân vận.
- Chân thành: Đồng bào các dân tộc thiểu số có bản tính chất phác, thật thà; ghét sự
dối trá lừa lọc ích kỷ. Khi đồng bào đã tin thì lòng tin giữ lại lâu dài, bền vững, nhưng khi
đã mất lòng tin thì khó lấy lại.
- Tích cực: Địa bàn miền núi hiểm trở, giao thông khó khăn, kinh tế - xã hội còn
thấp nên đòi hỏi cán bộ dân vận có trách nhiệm cao, tích cực trong công việc. Hơn nữa,
sự giao lưu văn hóa giữa các vùng, các dân tộc còn hạn hẹp, thiếu tri thức… Do vậy, cán
bộ dân vận phải tích cực mới có thể đạt hiệu quả.
- Thận trọng: Làm bất kỳ việc gì cũng cần cân nhắc, thận trọng có ý nghĩa sâu sắc
đối với công tác dân vận, đừng để “sai một ly, đi một dặm”, “cải sẩy nảy cái ung”... gây
ra hậu quả xấu, khó lường.
- Kiên trì: Đối tượng vận động là đồng bào các dân tộc thiểu số, trình độ phát triển
nhiều mặt còn thấp; kiên trì không phải là cứ ngồi đấy chờ đợi.

6


- Tế nhị: Cán bộ làm công tác ở vùng đồng bào các tộc người thiểu số phải am hiểu
văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào.
- Vững chắc: Làm việc gì được việc đó, làm đến đâu được đến đấy. Chắc chắn là đòi
hỏi hiệu quả công tác đạt được phải tạo cơ sở để phát triển bền vững.
Ba là, phương pháp công tác dân vận.
- Trọng dân: Sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và
dân với Đảng, trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng… có kế hoạch thật
tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân
phù hợp với điểm kinh tế - xã hội, văn hóa từng vùng, từng tộc người.
Trọng dân là coi việc “làm đầy tớ” của nhân dân, phục vụ nhân dân, chăm lo cuộc
sống vật chất, tinh thần của nhân dân là trách nhiệm, là vinh dự và niềm hạnh phúc. Tôn
trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những người sáng tạo ra của cải, vật
chất; những người làm ra lịch sử.
- Gần dân: Cán bộ dân vận phải sát cơ sở, tuyệt đối không được quan liêu, chỉ ngồi
nghe điện thoại, nhận báo cáo rồi nhận định, phán xét. Từ đó tham mưu, đề xuất cho
Đảng, Nhà nước xây dựng, ban hành được các chủ trương, đường lối, chính sách hợp
lòng dân, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Hiểu dân: Người làm công tác dân vận phải nắm bắt kịp thời các thông tin quần
chúng, phải biết nghe dân nói, phải hiểu được nguyện vọng chính đáng của nhân dân,
đồng thời phải biểu thị thái độ vừa cầu thị vừa định hướng được quần chúng.
- Học dân: Người cán bộ dân vận phải dành thời gian đi cơ sở để khảo sát tình hình
thực tế, lắng nghe ý kiến của dân và trực tiếp tháo gỡ những khó khăn nảy sinh trong dân.
Phải học ngôn ngữ, tìm hiểu phong tục, tập quán, văn hóa của dân tộc để hòa mình vào cuộc
sống của người dân.
7


- Có trách nhiệm với dân: Cán bộ dân vận phải có sự hiểu biết về lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước; Nói với dân phải đơn giản, rõ ràng, thiết thực và cụ thể; phải bằng tấm
gương sống và làm việc của mình.
Tóm lại, để công tác dân vận vùng miền núi và tộc người thiểu số đạt được tác dụng
tốt, hiệu quả cao trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi không chỉ có quyết tâm, nhận thức
đúng mà còn phải xây dựng được những cách làm có hiệu quả, các hình thức và bước đi
thích hợp với từng địa phương, từng dân tộc; đồng thời, cần có cơ chế, chính sách và giải
pháp đồng bộ nhằm xoá đói giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
cho nhân dân. Nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các tộc người và
củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Về phía những người trực tiếp làm công tác dân
vận, dân tộc cần phải được củng cố, nâng cao chất lượng để nắm bắt được tâm tư, nguyện
vọng của đồng bào, biết cách hướng dẫn bà con nhân rộng những mô hình mới, cách làm
hay nhằm thực hiện mục tiêu chung “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh”.

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×