Tải bản đầy đủ

Đề tài hình tượng nhân vật “âu hóa” trong sáng tác của vũ trọng phụng

MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................................1
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................................................2
THE RESEARCH RESULT SUMMARY OF DEPARTMENT LEVEL SICENCE AND
TECHNOLOGY SUBJECT..................................................................................................3
2.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU..........................................................................................7
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU,.....................................10
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU...............................................................................................10
4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...............................................................................................11
4.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành nhân vật “Âu hóa”..............................................11
4.1.1. Vài nét về nhà văn Vũ Trọng Phụng và đóng góp của ông trong nền văn học Việt
Nam.....................................................................................................................................11
4.1.2. Bối cảnh lịch sử - xã hội............................................................................................14
Vũ Trọng Phụng bắt đầu sự nghiệp văn chương trong giai đoạn rối ren nhất của lịch sử
khi những biến cố lớn liên tiếp, dồn dập tác động đến đất nước ta với tác phẩm đầu tay là
truyện ngắn Chống nạng lên đường (1930).........................................................................14
4.1.3. Khái quát về hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng.. .17
4.1.4. Tiểu kết......................................................................................................................18
4.2. Hệ thống hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng............19
4.2.1. Người tiểu tư sản “Âu hóa”.......................................................................................19
4.2.2. Người phụ nữ “Âu hóa”............................................................................................26

4.2.3. Trẻ em “Âu hóa”.......................................................................................................39
4.2.4. Tiểu kết......................................................................................................................41
4.3. Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật “Âu hóa” của Vũ Trọng Phụng.................42
4.3.1. Nghệ thuật miêu tả chân dung nhân vật “Âu hóa”....................................................42
4.3.2. Trào phúng thể hiện qua ngoại hình, hành động của nhân vật..................................46
4.3.3. Xây dựng nhân vật, cốt truyện, cú pháp ngôn từ bằng biện pháp ẩn dụ...................50
4.3.4. Tiểu kết......................................................................................................................52
Ngoài những biện pháp trên Vũ Trọng Phụng còn sử dụng biện pháp so sánh như trong Số
đỏ ông đã thâm thúy khi so sánh ngầm giữa đốc-tờ Trực Ngôn và Xuân Tóc Đỏ - lúc này
bản chất thực sự của tri thức “rởm” được phơi bày trong sự so sánh với kẻ vô học. Trí thức
“rởm” có học nhưng cũng gà mờ, ú ớ như kẻ vô học và nhiều khi còn hùa theo kẻ vô học
dù chẳng biết là đúng hay là sai..........................................................................................52
KẾT LUẬN.........................................................................................................................54
Văn học giai đoạn 1930-1945 được coi là giai đoạn bùng nổ sáng tạo của các nhà văn
ccộng với sự đa dạng về thể loại, kết cấu, phong phú về đề tài đã góp vào nền văn học
nước nhà những tác phẩm đặc sắc, những nhân vật điển hình cho cả một xã hội phức tạp
mà cho đến ngày nay nó vẫn còn nguyên vẹn giá trị...........................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................56

1


TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: Hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng
Phụng
Chủ nhiệm đề tài: Quách Thị Diệu Hiền

Lớp: Sư phạm Ngữ văn K12
Tel: 0962.650.183

Nhóm sinh viên:
- Vũ Thị Tuyết

Lớp: Sư phạm Ngữ văn K12

Tel: 0962.659.772

- Lê Thị Hồng Anh


Lớp: Sư phạm Ngữ văn K12

Tel: 0166.382.7937

- Trương Hồng Phúc Lớp: Sư phạm Ngữ văn K11

Tel: 0167.563.1537

Giảng viên hướng dẫn: ThS. Hoàng Lê Anh Ly

Tel: 0915.807.027

Đơn vị chủ trì đề tài: Khoa Sư phạm - Trường Đại học Tây Nguyên
Đơn vị và nội dung phối hợp:
- Bộ môn Văn học; Bộ môn Ngôn ngữ - Khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây
Nguyên: Cố vấn, hỗ trợ và hướng dẫn.
- Thư viện Trường Đại học Tây Nguyên: Nguồn tài liệu.
- Thư viện tỉnh Đắk Lắk, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk: Nguồn tài liệu.
Thời gian thực hiện: 01/2015 đến 12/2015
1. Mục tiêu
Đề tài khảo sát hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ
Trọng Phụng một cách có hệ thống và khoa học để thấy rõ quan niệm nghệ
thuật về con người được thể hiện trong sáng tác của nhà văn.
2. Nội dung chính
- Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành nhân vật “Âu hóa”.
- Hệ thống hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
- Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật “Âu hóa” của Vũ Trọng Phụng.
3. Kết quả chính đạt được
- Đề tài đã xác định được sự ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử - xã hội đến việc
hình thành kiểu loại nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
- Hệ thống hóa hình tượng nhân vật “Âu hóa” qua ba kiểu loại nhân vật như
2


sau:
+ Người tiểu tư sản “Âu hóa”
+ Người phụ nữ “Âu hóa”
+ Trẻ em “Âu hóa”
- Xác định được một số thủ pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng nhằm khắc
họa kiểu loại nhân vật “Âu hóa”.

THE RESEARCH RESULT SUMMARY OF DEPARTMENT LEVEL
SICENCE AND TECHNOLOGY SUBJECT
3


Project title: “The image of “Europeanized” characters in Vu Trong
Phung’s works”.
Coordinator: Quach Thi Dieu Hien
Class: Literature and Linguistics Teacher K12

Tel: 0962650183

E-mail: quachhien2408@gmail.com
Students in charge:
- Vu Thi Tuyet
Class: Literature and Linguistics Teacher K12

Tel: 0962659772

- Le Thi Hong Anh
Class: Literature and Linguistics Teacher K12

Tel: 01663827937

- Truong Hong Phuc
Class: Literature and Linguistics Teacher K11

Tel: 0167.563.1537

Instructor: MA. Hoang Le Anh Ly

Tel: 0915807027

Implementing Institution: Faculty of Education Studies - Tay Nguyen
University
Departments and contents for coordination:
- Department of Literature; Department of Language - Faculty of Pedagody,
Tay Nguyen University: Counselling, supporting and instructing.
- Library of Tay Nguyen University: Sources for reference.
- Provincial Library, Buon Ma Thuot City, Dak Lak Province: Sources for
reference.
Duration: January 2015 to December 2015
1. Objectives
The project make a survey the image of “Europeanized” characters in the
works of Vu Trong Phung thereby determine the ideological conceptions and
human art expressed in the works of the author a systematic and scientific.
2. Main contents
- Historical - social context forming the “Europeanized” characters.
- The iconic system of “Europeanized” characters in the works of Vu Trong
Phung.
4


- Vu Trong Phung’s art of creating image of “Europeanization” characters.
3. Main results obtained:
- The project has identified the influence of the historical context - the society
to the formation of character type “Europeanized” in the works of the author.
- Codified the image of “Europeanized” characters the last three character
type as follows:
+ The bourgeois “Europeanized”
+ Women “Europeanized”
+ Children “Europeanized”
- Identify some methods used by the author art used to portray the character
type “Europeanized”.

1. TÍNH CẤP THIẾT, MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

5


1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Vũ Trọng Phụng là một trong những cây bút văn xuôi có đóng góp to lớn
cho nền văn học giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám. Các sáng tác của ông
đã dựng nên một bức tranh đa diện về lối sống, con người giữa xã hội thượng
lưu lúc bấy giờ. Những vấn đề xoay quanh nhà văn và các tác phẩm của ông
cho đến ngày nay vẫn còn nguyên vẹn sức hút đối với những nhà nghiên cứu
văn học cũng như phần lớn các độc giả đặc biệt là vấn đề về con người - nhân
vật trong tác phẩm.
Thế giới nhân vật trong sáng tác của nhà văn từ phóng sự cho đến truyện
ngắn, tiểu thuyết đều hết sức sinh động ở đó có đa dạng kiểu loại con người,
nhân vật có kẻ ma cà bông như Xuân Tóc Đỏ, có những cô gái tân thời như
Tuyết trong Giông tố và cả Tuyết trong Số đỏ, có anh tri thức thất nghiệp
may mắn Phúc trong Trúng số độc đắc hay những con người nghèo khổ rách
rưới chầu chực cơm người trong những trang phóng sự Cơm thầy cơm cô,
Cạm bẫy người... Trong các sáng tác của mình Vũ Trọng Phụng khắc họa
hình tượng nhân vật đều có tạo hình, tính cách và số phận riêng biệt tuy nhiên
nổi bật hơn cả là kiểu loại nhân vật “Âu hóa”.
Điểm lại trong nền văn học Việt Nam, đã có rất nhiều tác giả viết về kiểu
loại nhân vật “Âu hóa” này như Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyên
Hồng...nhưng chỉ khi đến với Vũ Trọng Phụng thì kiểu loại nhân vật này mới
thực sự trở thành điểm sáng cho tác phẩm. Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy
rằng con người - nhân vật “Âu hóa” không chỉ mang những đặc trưng cơ bản
của xã hội mà còn là nhân chứng của lịch sử.
Trong chương trình giáo khoa ở nhà trường phổ thông, Vũ Trọng Phụng
được đưa vào giảng dạy với tư cách là một nhà văn đại diện cho trào lưu văn
học hiện thực phê phán. Vì vậy việc tìm hiểu phân tích nhân vật “Âu hóa” để
thấy được bộ mặt thật của con người cũng như xã hội trong giai đoạn này để
có cái nhìn khách quan trong việc đánh giá nhân định tác giả, tác phẩm là
một việc làm cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu hữu ích phục
vụ cho công tác học tập, giảng dạy, nghiên cứu về hình tượng nhân vật trong
6


sáng tác của Vũ Trọng Phụng nói riêng và tác giả Vũ Trọng Phụng nói
chung.
Chính vì những lý do trên nên chúng tôi đã chọn đề tài “Hình tượng nhân
vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng” cho nghiên cứu khoa học
cấp cơ sở.
1.2. Mục tiêu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát hình tượng nhân vật “Âu
hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng một cách có hệ thống và khoa
học để thấy rõ quan niệm nghệ thuật về con người được thể hiện trong
sáng tác của nhà văn.

2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
7


Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học đi trước tìm hiểu về
sáng tác của Vũ Trọng Phụng như: Vương Trí Nhàn, Đinh Trí Dũng, Nguyễn
Thành, Nguyễn Đăng Mạnh, Lê Tiến Dũng, Vũ Ngọc Phan...
Trong tác phẩm Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa của Vương
Trí Nhàn đã nhận định về nhân vật “Âu hóa” trong tiểu thuyết Số đỏ của nhà
văn Vũ Trọng Phụng: “Âu hoá không chỉ là tên gọi của cái cửa hàng thợ
may nơi nhân vật Xuân trong Số đỏ đến học việc và bắt đầu một cuộc tiến
thân. Âu hoá cũng chính là nội dung của quá trình chuyển biến của cái xã
hội nho nhỏ mà tất cả các nhân vật của cuốn tiểu thuyết này – từ những nhà
cải cách xã hội như vợ chồng Văn Minh, các trí thức như ông Josef Thiết,ông
đốc tờ Trực Ngôn... đến lớp người mạt hạng như Xuân cùng mấy ông thầy
bói mấy cô bán hàng mấy chị vú em – bị cuốn hút theo.” [14, tr107]
Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Thành đã dành riêng hẳn chương 3 của
tác phẩm Thi pháp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng để khảo cứu con người và xã
hội trong quan niệm nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng đồng thời phân loại con
người nghệ thuật thành con người dục vọng - tội ác; con người lưu manh, dối
trá, bịp bợm...; con người tha hóa - bi kịch; con người đạo đức - lí tưởng.
Nguyễn Thành còn có bài viết “Ảnh hưởng của phân tâm học Freud trong
sáng tác của Vũ Trọng Phụng” trong đó khẳng định sự ảnh hưởng của chủ
nghĩ Freud đến cách xây dựng nhân vật của Vũ Trọng Phụng để góp vào văn
học một loại nhân vật mới mẻ, loại “con người sinh lý” mà ở họ bản năng
sinh lý chỉ là một yếu tố trội trong tính cách của họ. Việc vận dụng phân tâm
học Freud vào việc xây dựng một số tính cách nhân vật phần nào làm bộc lộ
rõ cái thế giới bí ẩn mờ khuất trong cõi vô thức của các nhân vật đó, việc làm
của Vũ Trọng Phụng là một đóng góp không thể phủ nhận.
Nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng được viết bởi
nhà phê bình văn học Hà Minh Đức, trong bài viết này ông tập trung nghiên
cứu về nhân vật Xuân Tóc Đỏ dưới góc độ môi trường bụi đời đã sinh ra hắn
cũng như những nét tính cách đặc trưng để tạo thành kiểu loại nhân vật lố
8


bịch theo như nhận định của người viết. Ngoài ra người viết còn khái quát
hóa về nghệ thuật miêu tả của Vũ Trọng Phụng đã tạo nên một nhân vật điển
hình trong nền văn học nước nhà mà “nhắc đến Xuân Tóc Đỏ là nhắc đến
một tính cách, một loại người mà hình như đây đó trong cuộc sống hôm nay
còn thấp thoáng bóng dáng nhân vật” [31, tr472].
Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của Đinh Trí Dũng đã đề cập đến
quan niệm về thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật
trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng.
Trong bài viết “Đọc lại truyện Giông tố”, Nguyễn Tuân đã nhận xét về
tác phẩm Giông tố như sau: “...Tiểu thuyết Giông tố gồm nhiều thứ người:
thôn quê, thành thị và cả những nhân vật từ quê ra tỉnh . Có người là thôn nữ
bị bán làm lẽ thứ mười hai cho nhà giàu, có người là thư ký, có người là du
thủ du thực, có người là gái tân thời, có người là đốc học, có người làm cách
mạng. Nhưng trội lên hết để người đọc suy nghĩ, để người đọc nhớ lại mà đặt
thành vấn đề thì có hai nhân vật Thị Mịch và Nghị Hách...”. [13, tr 381]
Các công trình nghiên cứu trên có đề cập đến một số hình tượng nhân vật
của Vũ Trọng Phụng nói chung và nhân vật “Âu hóa” nói riêng trong một số
tiểu thuyết tuy nhiên chưa có cái nhìn hệ thống về nhân vật “Âu hóa” trong
sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
Từ việc tiếp thu ý kiến của những người đi trước, chúng tôi đã mạnh dạn
đưa ra một hướng nghiên cứu mới đó là: Tìm hiểu về hình tượng nhân vật
“Âu hóa” trong sáng tác của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Trên cơ sở tiếp thu
những nhận xét đánh giá quý báu của người đi trước, chúng tôi xác lập cho
mình hướng nghiên cứu mới, khảo sát toàn bộ các tác phẩm của Vũ Trụng
Phụng (đặc biệt chú trọng đến hình tượng nhân vật “Âu hóa”) để làm nổi bật
vai trò, ý nghĩa cũng như giá trị của nhân vật “Âu hóa” trong văn học cũng
như cách nhìn nhận của nhà văn về kiểu loại nhân vật này. Đồng thời thấy
được đóng góp to lớn, cũng như vai trò, vị trí của nhà văn trong nền văn học
nước nhà.

9


3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU,
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê - phân loại: Nhằm hệ thống hình tượng nhân vật “Âu
hóa”.
- Phương pháp phân tích: Đi sâu vào phân tích hình tượng nhân vật “Âu
hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: dùng để so sánh với các tác giả, tác phẩm
cùng thời.
- Phương pháp tổng hợp, khái quát: Đưa ra những kết luận có ý nghĩa khoa
học thực tiễn của đề tài nghiên cứu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát ở một số tác phẩm cụ thể như
sau:
- Tập Vũ Trọng Phụng tuyển tập (Vũ Trọng Phụng, Vũ Trọng Phụng tuyển
tập (2012), NXB Văn học, Hà Nội).
- Tiểu thuyết Lấy nhau vì tình (Vũ Trọng Phụng, Lấy nhau vì tình (1999),
NXB Văn nghệ).
- Tiểu thuyết Giông tố (Vũ Trọng Phụng, Giông tố (2014), NXB Văn học, Hà Nội).
- Phóng sự Lục xì ( Vũ Trọng Phụng, Vũ Trọng Phụng toàn tập (2004, 1),
NXB Văn học, Hà Nội).
Và một số tác phẩm của Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan...
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành nhân vật “Âu hóa”.
- Đặc điểm hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
- Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật “Âu hóa” của Vũ Trọng Phụng.

10


4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành nhân vật “Âu hóa”
4.1.1. Vài nét về nhà văn Vũ Trọng Phụng và đóng góp của ông trong
nền văn học Việt Nam
4.1.1.1.Cuộc đời
Vũ Trọng Phụng sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912 trong một gia đình nghèo,
ở Hà Nội. Ông thân sinh là Vũ Văn Lân nguyên sống ở làng Hảo (tức thị trấn Bần
Yên Nhân, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên), làm thợ điện tại xưởng ôtô Ch.
Boillot Hà Nội. Mẹ là bà Phạm Thị Khách, người làng Vẽ, phủ Hoài Đức, tỉnh
Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội). Bà sớm góa chồng khi còn rất trẻ chỉ
mới hai mươi tư tuổi nhưng bà đã ở vậy tần tảo sớm hôm nuôi mẹ chồng và con
thơ bằng nghề khâu vá thuê. Bà giành hết tâm huyết của đời mình cho tương lai
của con. Điều này đã để lại trong tâm hồn Vũ Trọng Phụng một niềm tin tưởng
bất diệt vào sự cao quý tốt đẹp của con người.
Vũ Trọng Phụng lớn lên trong tình thương ấm áp của người mẹ và được
đến trường như bao đứa trẻ cùng trang lứa. Năm 1921, lên chín tuổi bắt đầu
học Pháp văn ở trường Hàng Vôi (nay là trường Nguyễn Du), sau được học ở
trường Hàng Kèn (nay là chỗ trường Quang Trung), sau đó là trường Sinh
Từ. Từ thuở nhỏ, ông đã tỏ ra là người có năng khiếu nghệ thuật, đánh đàn
nguyệt hay, vẽ giỏi, thích làm thơ, hay tìm hiểu. Nhưng trong thế giới vui
tươi của nhà trường, hoàn cảnh mồ côi và nghèo khổ đã làm cho ông có sự
cách biệt với đám bạn con nhà giàu chưa biết đến tình thương. Sự cách biệt
này đã gieo vào đầu óc của ông sự mặc cảm tự ti, yếu đuối và cô độc. Mặc
cảm đó ngày một lớn dần, rắn lại thành sự phẫn nộ, thù ghét cái bất công, sự
cách biệt vô lý ở đời.
Năm 1926, Vũ Trọng Phụng đỗ bằng tiểu học năm mười lăm tuổi cũng là
lúc gia đình lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy ông chọn thi vào trường Sư
phạm sơ cấp, hy vọng có học bổng để phụ giúp cho gia đình, nhưng bị trượt.
Vậy là mới học xong tiểu học, ông buộc phải đi làm kiếm sống đỡ đần người
11


mẹ. Khoảng tháng mười năm 1926, Vũ Trọng Phụng xin được vào làm thư
ký ở nhà hàng Godard. Được vài tháng, vì mê văn chương không chuyên tâm
vào công việc, ông bị đuổi việc. Sau đó xin được chân đánh máy chữ ở nhà in
Viễn Đông (IDEO) nhưng hai năm sau cũng bị đuổi việc vì lí do trên.
Năm 1930, lúc mười tám tuổi, khi còn làm việc tại nhà in Viễn Đông, Vũ
Trọng Phụng đã có những bài báo đầu tay in trên tờ Ngọ báo - những bài theo
ông chủ bút Tam Lang Vũ Đình Chí là “có một lối văn đặc biệt”, một lối viết
“quá bạo”. Lúc này bài viết được đăng là quý lắm rồi còn nhuận bút thì chưa
có. Nhưng do say mê viết văn chương báo chí nên Vũ Trọng Phụng vẫn cứ
tiếp tục viết. Bị mất việc ở xưởng in, ông quyết định chuyên tâm vào việc
viết văn viết báo. Chính trong khoảng thời gian đi làm thư ký và cuộc sống
diễn ra nơi ông đã sống gần suốt cuộc đời (phố Hàng Bạc), Vũ Trọng Phụng
đã tiếp xúc với nhiều hạng người, va chạm với cuộc sống mưu sinh - những
cách làm tiền, bon chen, tội ác, trụy lạc, cạm bẫy, những cảnh bi đát và đê
tiện. Đời sống xã hội đương thời ấy đã cung cấp cho ông nhiều mẫu hình
nhân vật, gây ra trong ông cái ý thức mạnh bạo, sự cần thiết phải bày tỏ thái
độ trước một thực trạng xã hội vô nghĩa lý. Cũng như ý thức về thân phận và
cảnh tình nghèo khó cơ cực của bản thân.
Khoảng thời gian từ 1930 - 1939, Vũ Trọng Phụng cộng tác với rất nhiều
tờ báo: Ngọ báo, Nhật tân, Tiến hóa, Nông công thương, Tiểu thuyết thứ bảy,
… và viết đủ các thể loại : truyện ngắn, truyện dài, phóng sự, tiểu thuyết, trào
phúng… Ngoài ra, ông còn dịch các tác phẩm của văn hào người Pháp Victo
Huygô và Thiên Hư, Vũ Trọng Phụng là hai bút danh mà nhà văn thường
dùng.
Vũ Trọng Phụng đặc biệt thành công và nổi danh ở hai thể loại phóng sự
và tiểu thuyết. Ông được mệnh danh là: “Ông vua phóng sự đất Bắc”. Trong
khoảng thời gian này, Vũ Trọng Phụng đã nổi danh như cồn nhờ những tác
phẩm của ông được đăng báo như: Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm
thầy cơm cô…

12


Đầu năm 1938, Vũ Trọng Phụng lập gia đình với cô Vũ Mỹ Nương, con
một gia đình buôn bán nghèo ở xã Nhân Mục, thôn Giáp Nhất (nay thuộc
phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội). Cuối năm sinh con gái đầu
lòng đặt tên là Vũ Mỹ Hằng.
Vũ Trọng Phụng là con người bình dị, phải chăng và giàu lòng tự trọng
và trước hết ông còn là một con người nề nếp, khuôn phép. Trong cuộc sống
riêng, ông chỉ mong kiếm tiền giúp mẹ và giành giụm tiền để cưới vợ có con
nối dõi. Dù ông viết rất nhiều trong khoảng thời gian chưa đầy mười năm,
gần hai mươi tác phẩm và nhiều bài báo nhưng cái nghèo cứ bám riết gia
đình ông. Do phải làm việc quá sức lại trong cảnh thiếu thốn, căn bệnh lao
ngày một thêm trầm trọng và làm ông kiệt sức. Ông mất ngày 13 tháng 10
năm 1939, tại căn nhà số 73 phố Cầu Mới, Ngã Tư Sở (nay thuộc quận Thanh
Xuân, Hà Nội) nơi ông mới về ở được vài tháng. Năm ấy Vũ Trọng Phụng
mới hai mươi bảy tuổi, ông ra đi để lại niềm thương xót da diết cho gia đình
và bạn bè.
Cuộc sống thành thị của ông xoay quanh những con người thượng lưu ăn
chơi trụy lạc, đểu cáng và bịp bợm, những ông vua thuốc lậu, me Tây với
những tiệm hút, sòng bạc, nhà săm...cùng với bọn cờ bạc bịp, dân nghiện, ma
cô, gái điếm, những thằng quýt, con sen... Tóm lại, những con người, những
cảnh tượng đập vào mắt ông ngày này qua ngày khác chỉ làm cho ông nhìn
thấy những mặt trái, những hệ lụy của xã hội, cái xấu của con người. Ông
căm phẫn những kẻ có của trơ tráo, “chó đểu” nhưng ông đành bất lực trước
hiện trạng lên ngôi của chúng đồng thời ông có sự cảm thông với những con
người nghèo khổ, những người dưới đáy xã hội nhưng ông lại không tin vào
bản chất tốt đẹp của họ.
Một phần chịu sự giáo dục của lễ giáo phong kiến qua người mẹ khuôn
phép và mực thước thế nên Vũ Trọng Phụng phản ứng gay gắt trước lối sống
Âu hóa rởm đang diễn ra lúc bấy giờ. Ngoài ra ông rất mê tín, tin tưởng vào
tướng số điều này cũng xuất hiện khá nhiều trong các tác phẩm của ông.
Tất cả những yếu tố trên đều ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách sáng tác
của nhà văn.
13


4.1.1.2. Sự nghiệp
Vũ Trọng Phụng là một tài năng xuất sắc có những đóng góp to lớn cho
nền văn học nghệ thuật Việt Nam ở rất nhiều thể loại: phóng sự, truyện ngắn,
kịch, phê bình... nhưng có thể nói, ở thể loại tiểu thuyết và phóng sự ông có
những thành công nổi bật hơn cả.
Các tác phẩm của ông hầu hết được đăng báo rồi mới in thành sách. Các
tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết và phóng sự của ông trở thành một hiện
tượng được dư luận quan tâm có thể kể đến những phóng sự như Cạm bẫy
người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936)...và một số
tiểu thuyết đánh dấu tài năng nghệ thuật của nhà văn như Giông tố (1936), Số
đỏ (1936), Lấy nhau vì tình (1937)...
Ngoài ra nhà văn còn liên tục cho ra đời một số lượng lớn các truyện
ngắn, truyện dài, truyện vừa với những cái tên như Bà lão lòa (1931), Bộ
răng vàng, Hồ sê líu hồ líu sê sàng (1936), Tự do, Lấy vợ xấu (1937)... Kịch
của Vũ Trọng Phụng cũng được dư luận chú ý như các vở: Không một tiếng
vang, Lễ tết (1934); Cái chết bí mật của người trúng số độc đắc (1938).
Bên cạnh việc sáng tác các tác phẩm văn chương, ông còn tham gia viết
các tạp văn, tiểu luận phê bình như: Thư ngỏ cho ông Thái Phỉ, chủ báo “Tin
văn” về bài “Văn chương dâm uế”; Chung quanh thiên phóng sự “Lục xì”;
Để đáp lời báo “Ngày nay”: dâm hay không dâm; Thay lời tựa tiểu thuyết
“Làm đĩ”; “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố.
Tác phẩm của ông là tấm gương phản ánh chân thực bức tranh cuộc sống.
Nó có giá trị như một nhân chứng, vật chứng của thời đại, là bản cáo trạng đối
với chế độ thực dân nửa phong kiến, là lời kêu gọi thống thiết phẩm giá, tự do,
một cuộc sống xứng đáng không chỉ cho một thời mà còn cho mọi thời.
4.1.2. Bối cảnh lịch sử - xã hội
Vũ Trọng Phụng bắt đầu sự nghiệp văn chương trong giai đoạn rối ren
nhất của lịch sử khi những biến cố lớn liên tiếp, dồn dập tác động đến đất
nước ta với tác phẩm đầu tay là truyện ngắn Chống nạng lên đường (1930).

14


Trong giai đoạn này lịch sử thế giới cũng như trong nước có những biến
động mạnh mẽ; trải qua hàng loạt những sự kiện có tầm ảnh hưởng đến tình
hình chung của thế giới như cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 và thảm họa
phát xít và những năm tháng bồng bột trước chiến tranh thế giới thứ hai. Nước
Pháp cũng không nằm ngoài quy luật chung của thế giới: cuộc khủng hoảng
kinh tế đã để lại những hậu quả hết sức khủng khiếp cùng lúc đó là sự trỗi dậy
của đế chế phát xít. Đứng trước nguy cơ hiểm họa khôn lường của phát xít khắp
châu Âu đứng lên chống phát xít tạo thành một làn sóng mạnh mẽ chưa từng có
trước đây. Đây cũng là lúc phong trào cộng sản với ngọn cờ đầu Liên Xô khẳng
định được vai trò trong đời sống chính trị, lịch sử thế giới.
Tình hình trong nước cũng có những chuyển biến quan trọng như sau
cuộc khủng bố trắng cuối những năm 20 đầu những năm 30 với sự thất bại bi
thảm của khởi nghĩa Yên Bái và phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, chính phủ
Pháp thực thi chính sách mị dân đầu những năm 30 - phong trào vui vẻ trẻ
trung và những cải cách xã hội có tính chất cải lương. Bên cạnh đó là sự trở
về của hoàng đế Bảo Đại và những thay đổi trong triều đình phong kiến của
vị vua trẻ. Trong những năm 30 trước chiến tranh thế giới thứ hai, cả người
Pháp lẫn Bảo Đại đều hô hào những cuộc cách tân về phong tục, xây dựng
một nước Việt Nam mới. Trong những năm 1936-1939, thực dân nới lỏng
quyền lợi dân chủ trong một số chính sách về chính trị đồng thời là sự ra mặt
công khai của Đảng. Tình hình trở nên rối ren hơn khi chiến tranh lan đến
Đông Dương dẫn đến hàng loạt sự kiện nổi bật: sự phân hóa trong các phong
trào yêu nước của Việt Nam; sự lớn mạnh của phong trào cộng sản; sự liên
kết của những người cộng sản với Đồng Minh. Không khí chung của những
năm 40: đêm trước của cuộc cách mạng, bế tắc, sa đọa và dấn thân.
Trong những năm 1930-1945 cùng với sự chuyển biến mạnh mẽ của lịch
sử mà hệ lụy của nó chính là sự biến đổi về cơ cấu xã hội đồng thời xã hội
lúc này cũng vận động theo những khuynh hướng mới. Trước hết là sự
trưởng thành của một cơ cấu xã hội hiện đại với ba tầng lớp: phú hào tân đạt,
tư bản bản xứ, tri thức mới và thị dân. Các tầng lớp này sản sinh trong cùng
15


một giai đoạn đã thể hiện rõ rệt bản chất rối ren của xã hội nửa thực dân nửa
phong kiến lúc bấy giờ. Sự xuất hiện của những tầng lớp mới kéo theo sự
canh tân về phong hóa và thẩm mĩ, những cái cũ chưa được loại bỏ thì đã
phải tiếp nhận những cái mới không hợp thời tạo nên một giai đoạn lịch sử xã hội lố lăng mà kèm theo đó là sự lố lăng cả một thế hệ con người. Sự xuất
hiện của các phong trào cải cách xã hội mang tính chất cải lương vào những
năm 1936-1939, thực tế không làm thay đổi bộ mặt xã hội ngay được nhưng
cũng chỉ “khuấy đảo” bề mặt nổi của xã hội, đa phần các phong trào này đều
chịu sự thất bại hoặc không cũng chịu sự lợi dụng của thực dân Pháp. Xã hội
Việt Nam giai đoạn này còn chịu sự ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng của xã
hội Đông Dương trong những năm 1940-1945 thế nên xã hội vốn đã rối nay
còn rối hơn, những con người sống trong cái xã hội này mà yên ổn được thì
đó là một điều không tưởng.
Cũng trong giai đoạn này sự phát triển của các phong trào yêu nước có thêm
những bước tiến mới đó là các phong trào yêu nước trong thập niên 20 mang
màu sắc tư bản đồng thời phong trào cộng sản giai đoạn này phát triển mạnh và
rộng rãi. Những năm 1936-1939, phong trào cộng sản có sự đột khởi trong
chương trình hành động được xem là giai đoạn hòa hoãn và hợp tác. Sự phát
triển mạnh mẽ của chế độ phát xít độc tài kéo theo sự trỗi dậy của những đảng
phái quốc gia với khuynh hướng thân Nhật, đứng trước nguy cơ bị xâm lược của
phát xít phong trào cộng sản trong những năm 1930-1945 có sự phát triển lớn
mạnh phù hợp với quy luật đấu tranh cũng như diễn biến lịch sử - xã hội.
Bối cảnh lịch sử - xã hội đầy biến động phần nào đã tác động đến lối
sống, cách suy nghĩ, tư duy của con người: họ không còn được sống đơn
giản, cuộc sống của họ giữa thời buổi nhiễu nhương bắt buộc phải vây quanh
giá trị của đồng tiền, chính nó đã trở thành thước đo cho nhân cách và giá trị
của con người. Cũng trong giai đoạn này “làn sóng Âu hóa” - một cách đồng
hóa văn hóa của thực dân Pháp áp dụng vào các nước thuộc địa đang lan tràn
khắp mọi nơi mà đặc biệt là khu vực thành thị chính vì vậy đã làm sản sinh ra
những con người “nửa ta nửa Tây”, họ được xem là “con lai” của cái xã hội
nửa thực dân nửa phong kiến thối nát lúc này.
16


4.1.3. Khái quát về hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ
Trọng Phụng
Cùng với những chính sách cai trị về chính trị, kinh tế... thực dân Pháp
đồng thời tiến hành chính sách nô dịch về văn hóa nhằm làm cho dân ta trở
nên ngu muội mất đi khả năng đấu tranh và phản kháng. Giai đoạn 19301939 là khoảng thời gian sự nghiệp sáng tác văn chương của Vũ Trọng
Phụng phát triển mạnh mẽ cũng là lúc tình hình lịch sử và xã hội có nhiều
chuyển biến quan trọng. Sự trở về của vua Bảo Đại cùng với những chính
sách mang tính mị dân của Pháp như phong trào vui vẻ, trẻ trung...lan rộng
khắp cả ba kì mà đặc biệt là khu vực thành thị đã làm nảy sinh ra những con
người “nửa Ta nửa Tây” hay “lai căng”.
“Nhân vật, đó là hình thức khái quát hiện thực cuộc sống, là hình thức
thể hiện quan điểm của nhà văn về con người.” [13, tr135] đây là cách định
nghĩa về nhân vật của Đinh Trí Dũng trong bài “Sự thể hiện con người “tha
hóa” trong các tiểu thuyết hiện thực của Vũ Trọng Phụng”. Vậy có thể hiểu
rằng nhân vật “Âu hóa” chính là một thứ hình thức khái quát hiện thực cuộc
sống cũng như số phận con người sống trong xã hội lúc bấy giờ và phần nào
nói lên được quan điểm của nhà văn về con người.
Với bản tính cầu toàn, ưa thích sự nề nếp, khuôn khép đã làm cho ông
cảm thấy chán nản với thực tại xã hội thượng lưu lố lăng, với những con
người ăn chơi trụy lạc, suy đồi và bằng đôi mắt tinh tường đã nhận ra những
sự biến chuyển bên ngoài lẫn bên trong của những con người đó như đã nói ở
trên mà chúng ta tạm gọi họ là con người “Âu hóa”. Về vẻ bên ngoài họ vẫn
là những con người tóc đen da vàng nhưng mặc trên người họ đã không còn
là áo tứ thân, váy đụp nữa mà là quần âu, áo tân thời xét về mặt văn hóa lúc
bấy giờ đó là một việc làm phản truyền thống của cha ông ta, ở họ còn có sự
pha tạp giữa cái quê kệch của thôn quê và cái tân thời “nửa mùa” của thành
thị. Vẻ bên trong của con người không phải ai cũng có thể nhìn thấy được, ở
đó đã diễn ra sự thay đổi về nhận thức, tâm lý một cách tinh vi và lặng lẽ nhất
về mặt đạo đức, lối sống hay cách đối nhân xử thế đồng thời sự thay đổi đó
17


cũng báo hiệu cho sự chuyển biến của dòng lịch sử, của một xã hội rộng lớn.
4.1.4. Tiểu kết
Có thể nhận định rằng kiểu nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ
Trọng Phụng là những con người sống trong thời kì lịch sử - xã hội rối ren;
họ có lối ăn mặc theo phong cách châu Âu mà nổi bật nhất là nước Pháp
đồng thời ở họ những giá trị văn hóa truyền thống bị lu mờ. Tuy nhiên,
không thể nói “Âu hóa” là việc làm sai mà ở đây đó là việc làm chưa hợp
thời, hợp cảnh vì vậy chúng ta cần phải khai thác ở những khía cạnh khác
nhau để làm rõ đồng thời khám phá được những nét đặc sắc về nghệ thuật
miêu tả nhân vật của tác giả - Vũ Trọng Phụng.

18


4.2. Hệ thống hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ
Trọng Phụng
4.2.1. Người tiểu tư sản “Âu hóa”
Tầng lớp tiểu tư sản hình thành khi xã hội Việt Nam chuyển từ phong
kiến sang nửa thực dân nửa phong kiến thế nên kiểu dạng nhân vật này hầu
như không xuất hiện trong các sáng tác văn học thế kỷ XIX. Sang đầu thế kỷ
XX, nhân vật tiểu tư sản đã xuất hiện trong các sáng tác của Hoàng Ngọc
Phách (nhân vật Đạm Thủy - Tố Tâm), Hồ Biểu Chánh (nhân vật Hiển Vinh Chút phận linh đinh)...nhưng nhìn chung cũng chỉ là phác họa những nét đơn
giản, chưa được tô điểm đậm nét và chưa trở thành một hình tượng văn học
thực sự. Đến giai đoạn xã hội rối ren 1930-1945, hình tượng nhân vật tiểu tư
sản đã trở nên phổ biến và quen thuộc trong hầu hết các sáng tác của các tác
giả tiêu biểu. Cuộc sống đời thường đầy mâu thuẫn của người tiểu tư sản trở
thành đề tài thu hút các nhà văn khai thác. Vũ Trọng Phụng là một trong
những nhà văn tập trung khai thác mảng đề tài mới mẻ này.
Viết về những người tiểu tư sản, Vũ Trọng Phụng khác với những nhà
văn cùng thời đó là ông không rơi vào lối viết mơ mộng, thi vị hóa như một
số nhà văn trong nhóm Tự Lực văn đoàn với những cái tên như Nhất Linh,
Khái Hưng. Người tiểu tư sản của Tự Lực văn đoàn nếu không mang dáng
dấp của những con người “phi thường” thì cũng mang màu sắc lãng mạn và
phần lớn họ có xuất thân từ những gia đình quan lại hay tư sản giàu sang và
được hưởng một cuộc sống nhung lụa dư thừa. Đó là Lộc (Nửa chừng xuân Khái Hưng) mải mê theo đuổi một mối tình lãng mạn đến mức không tưởng
hay như Dũng (Đôi bạn - Nhất Linh) cuồng si một lí tưởng mơ hồ, là “khách
chinh phu” ngày đây mai đó lang bạt khắp chốn giang hồ vô định. Điểm sáng
trong nhóm Tự Lực văn đoàn có thể nhắc đến cái tên Thạch Lam, người tiểu
tư sản trong các sáng tác của ông mang những nét gần gũi và chân thực với
cuộc sống thường ngày, được đặt trong những hoàn cảnh khó khăn ứng với
xã hội đương thời. Cái đói dằn vặt Sinh (Đói - Thạch Lam) hay cuộc sống
cơm áo gạo tiền đè nặng lên đôi vai Trường (Ngày mới - Thạch Lam) cho ta
cái nhìn mới hơn về cuộc sống của những con người tiểu tư sản lúc bấy giờ.
19


So với những nhà văn theo trường phái lãng mạn thì cách nhìn của Vũ
Trọng Phụng mang đầy sự đối lập nhưng với các nhà văn cùng trường phái
hiện thực phê phán thì điều này cũng nảy sinh ra sự chênh lệch rõ rệt. Người
tiểu tư sản trong sáng tác của Nam Cao chứa đựng những sự mâu thuẫn
tương phản nhau giữa cái thời buổi nghèo cực như trong bữa cơm rau muống
của Thứ (Sống mòn - Nam Cao) cùng hai người bạn của anh. Khác với những
nhà văn đã kể trên Vũ Trọng Phụng khai thác mặt trái của những người tiểu
tư sản, đằng sau sự tri thức giả tạo đó ẩn chứa những thứ toan tính tầm
thường vụn vặt bình thường đến mức hèn mọn như một thứ tha hóa về bản
chất con người và đó cũng là một thứ bi kịch của người tiểu tư sản. Có thể
điểm qua một số tác phẩm như: Số đỏ, Giông tố, Lấy vợ xấu, Một đồng bạc...
Trong Số đỏ ta có thể nhận thấy hàng loạt những nhà tri thức tiểu tư sản
được cho đi du học nước ngoài để mang “văn minh” về phục vụ cho nước
nhà như Văn Minh chồng, cậu Tú Tân... Nhưng thực chất thứ “văn minh” mà
họ mang về chỉ là những thứ thượng lưu mang tính chất bịp bợm đến mức hủ
lậu như Văn Minh chồng tuyên truyền cho tiệm may Âu hóa với những trang
phục cách tân táo bạo đi trước cả thời đại, khuyến khích cho sự hở hang,
khoe da khoe thịt ở người phụ nữ. Nhắc đến những bộ trang phục tân thời thì
phải kể đến cái tên Typn (Típ-phờ-nờ) là “nhà mỹ thuật” được ca tụng với
tay nghề phó may đã thay đổi cuộc đời của những cô gái tân thời, mang lại
hạnh phúc cho biết bao gia đình cũng như các bà vợ không còn được trẻ
trung gì nữa. Thế nhưng thật nực cười khi chồng là một nhà cải cách văn
minh, hô hào “Âu hóa” lại cấm vợ mình rằng “Câm đi, đồ ngu! Khi người ta
cổ động đàn bà thì phải biết là cũng có năm bảy thứ đàn bà! Khi người ta
nói phụ nữ... là nói vợ con, chị em người khác, chứ không phải vợ con, chị
em của ta! Mợ đã hiểu chưa? Người khác thì được, mà mợ, mợ là vợ tôi, thì
mợ không thể tân thời như người khác được!” [20, tr245]. Hay như cậu Tú Tân
học hành chả ra cái tích sự gì chỉ được cái hay khoe mẽ đỉnh điểm là khoe cái
sự chụp hình đẹp trong đám tang ông cụ cố Tổ mà không hề có lấy một giọt
nước mắt thương tiếc cho sự ra đi của người thân trong gia đình đã phản ánh
20


cái sự vô cảm đáng sợ ở một con người được coi là có học thức. Còn có ngài
Phán Mọc Sừng bị vợ cắm cho mấy cái sừng lại không hề bực tức ngược lại
hắn ta còn muốn cảm ơn “cái sừng hươu vô hình” trên đầu đã giúp hắn có
thêm mấy đồng bạc. Cảnh tượng hắn khóc đến oặt người đi trong đám tang
ông cụ cố Tổ để nhân cơ hội mà đưa cho Xuân Tóc Đỏ tiền ơn huệ thì thật cái
sự vô liêm sĩ của hắn đã lên đến đỉnh điểm.
Ở cái xã hội lố lăng ấy xuất hiện Xuân Tóc Đỏ - một thứ sản phẩm hoàn
hảo đáp ứng đủ mọi điều mà xã hội đó yêu cầu, từ một kẻ ma cà bông sống
dưới đáy “đầm lầy” xã hội mà hắn đã vươn lên trở thành một con người
được coi là tri thức với những danh hiệu cực kỳ ảo diệu như “sinh viên
trường thuốc”, “đốc-tờ Xuân”, đọc mấy bài thơ pha quảng cáo thuốc lậu:
“Dù già cả, dù ấu nhi,
Sương hàn nắng gió bất kỳ - biết đâu?
Sinh ra cảm, sốt, nhức đầu,
Da khô, mình nóng, âu sầu, ủ ê...
Đêm ngày nói sảng, nói mê...
Chân tay mệt mỏi, khó bề yên vui.
Vậy xin mách bảo đôi lời:
“Nhức đầu giải cảm” liệu đời dùng ngay!” [20, tr285]
lại được tụng xưng như là “thi sĩ” đến nỗi“không kém gì Tú Mỡ”... Vậy hóa
ra ở thế giới những con người tiểu tư sản tri thức bên cạnh cuộc sống thực
nghèo khổ được vẽ nên bởi những nhà văn khác như đã nói ở trên thì vẫn có
thứ gọi là tri thức giả, tiểu tư sản giả nhưng cuộc sống lại giàu sang đến lố
bịch như Văn Minh chồng hoặc gặp được vận may “đặc biệt” như Xuân Tóc
Đỏ - đó phải chăng là hậu quả của cái gọi là phong trào cách tân mị dân của
chế độ lúc bấy giờ.
Với Số đỏ là sự giả tạo của con người trong cái sự giả tạo của xã hội thì
đến với Giông tố đó lại là sự tha hóa về mặt đạo đức, về bản chất con người.
Long - chàng thanh niên tri thức đang sống một cuộc sống bình dị và sắp
sửa xây dựng một gia đình nhỏ với cô thôn nữ mà mình yêu lại bị kéo vào lốc
21


xoáy của mối quan hệ tình - tiền, địa vị xã hội. Long dần tha hóa đi về mặt
đạo đức khi từ một chàng trai ngay thẳng, hiền lành hắn trở thành một con
người chỉ biết vụ lợi, ban đầu mục đích của hắn chỉ đơn thuần là trả thù Nghị
Hách khi đã hại đời Thị Mịch nhưng càng ngày hắn ta càng lún sâu vào vũng
bùn tội lỗi. Hắn thông dâm với Thị Mịch tức là với vợ của cha mình và xét
theo vai vế trong nhà thì chính là thông dâm với mẹ kế, loạn luân với em gái
và dần trở thành một con người chỉ biết đến bản năng “qua một vài bận đầu,
đến những lần sau, Long mất hết vẻ thẹn, chỉ còn thấy lòng lửa dục bùng lên
như lửa bén vào rơm. Sau cùng, Long thấy việc giữ xe đạp là có thú vị lắm.
Cái mầm ham thích nhục dục ấy lại còn phát sinh ra bởi lòng căm hờn, lòng
phục thù, vì chính những lúc giữ xe đạp là những lúc Long lại tưởng tượng
ra cái quang cảnh vợ chưa cưới của chàng bị cưỡng bức một cách xấu xa.
Lòng căm hờn xưa nay vẫn mạnh hơn ái tình. Dục tình cũng lại mạnh hơn ái
tình.”[21, tr141]. Nhưng khốn thay “bố hiếp vợ của con, con thông dâm vợ
của bố...rồi thì anh em ruột...anh em ruột...” [21, tr325] Long đến uất ức với
cái sự thật đáng sợ đó để rồi phải ăn chơi trác táng cho quên sự đời, để rồi
phải cắt cổ tay trên giường gái giang hồ để hết đời.
Bên cạnh Long thì còn có Tú Anh - giám đốc Đại Việt học hiệu là một
con người tri thức nhưng lại nhu nhược, hiền lành “lại hơi có vẻ đàn bà” đối
ngược hẳn với người cha Nghị Hách (cha?) tàn ác. Cái sự hiền lành đến mức
thái quá của Tú Anh chẳng những không giúp đỡ được người khác ngược lại
còn hại họ mặc dù chủ ý của Tú Anh không như vậy, Tú Anh nằng nặc bắt
cha mình là Nghị Hách cưới cô Mịch để vớt lại tiết hạnh cho cô gái quê
nhưng ngờ đâu lại chia uyên rẽ thúy cuộc tình giữa Long và Mịch. Lúc sau,
ngài Tú Anh lại tạo cơ hội cho Long gặp hai cô em gái ngây thơ của mình để
dẫn đến cớ sự anh em loạn luân. Thật đáng buồn cho cái lòng tốt của nhà tiểu
tư sản Tú Anh.
Nếu không nhắc đến Nghị Hách thì quả là thiếu sót khi phân tích tiểu
thuyết này, là nhân vật phản diện đầy mưu mô và thủ đoạn vượt xa Xuân Tóc
Đỏ, ở Xuân Tóc Đỏ chỉ đơn thuần là sự ma lanh, láu cá thì Nghị Hách là sự
22


lõi đời, thâm độc khó dò. Ở Nghị Hách tồn tại hai trường phái một là cũ kỹ
chính ở cái sự nhiều vợ vốn là tập tục thời phong kiến “trai năm thê bảy
thiếp, gái chính chuyên một chồng” còn hai là cái sự “Âu hóa” ở cách ăn
mặc cũng như vật dụng của hắn. Một sự lai căng mà hầu hết đều diễn ra lúc
bấy giờ như ngôi nhà của Nghị Quế (trong Tắt đèn - Ngô Tất Tố) cũng giống
như xã hội lúc bấy giờ là nửa thực dân nửa phong kiến nên đâu đó vẫn tồn tại
những sự đan xen đến nực cười cái ấp Tiểu vạn trường thành tồn tại ở đấy cả
Tây Tàu lẫn ta, một thứ tư bản mới phất lên chưa gột rửa hết cái cốt của
phong kiến xưa cũ. Mỗi câu ông nghị nói thì tiếng trước xưng anh, em thì
tiếng sau chắc chắn sẽ là mày - tao như đoạn đối thoại với con trai lão: “Ồ,
anh đấy à? Anh ơi, thầy mong nhớ mày quá! Mày lên đây chơi thì ở cho lâu
nhé! Thế nào cái trường tư của mày có đông học trò không? Độ này mày có
nhận được thư của đẻ mày không? Mày có xuống Hải Phòng đấy không?
Giời ơi, tao sướng quá! Tao vừa đi Hà Nội và có lại tìm mày mấy lượt đều
không gặp. Thế mày ở đây nghỉ vài hôm nhé!” [21, tr 39] hoặc với Thị Mịch
vợ lẽ của lão: “Em ạ, thế là mày đã là vợ lẽ tao rồi!” [21, tr214] đúng cách
xưng hô theo kiểu ông nghị trịch thượng và khinh người. Ông già Hải Vân
với âm mưu trả thù người bạn cũ thâm hiểm là Nghị Hách nhưng lại sử dụng
phương thức mê tín, giở trò đồng bóng bói toán đồng thời ấp ủ một giấc
mộng cách mạng mơ hồ nhưng đến cuối tác phẩm vẫn chỉ là một ông già mờ
nhạt trong lớp biển người vô phương hướng trên con thuyền đi về phương xa
vô định.
Liêm (Lấy nhau vì tình) là một chàng thanh niên có học xuất thân từ một
gia đình gia giáo và có một mối tình nên thơ với cô tiểu thư Quỳnh thế nhưng
chàng ta vẫn ăn chơi đàn đúm với những cô gái làng chơi để thõa mãn lòng
ích kỷ của mình. Với người yêu, anh ta đòi hỏi này nọ đến lúc được rồi lại
đâm ra nghĩ ngợi lung tung, khi cưới vợ rồi lại còn không tin tưởng để đến
khi vợ phải tự tử thì mới hối hận mà đem lòng yêu thật.
Cùng với những tiểu thuyết dài hơi như vậy, Vũ Trọng Phụng có nhiều
không gian để miêu tả sự chuyển biến trong đời sống của nhân vật nhưng bên
cạnh đó nhiều truyện ngắn cũng vẽ nên dáng dấp những con người tiểu tư sản
khá rõ nét.
23


Chẳng hạn như người hàng xóm của nhân vật tôi trong truyện ngắn Một
đồng bạc hiện lên hình ảnh là “một người học thức trung lưu, đạo đức trung
lưu, tài sản trung lưu, đạo đức trung lưu, tài sản trung lưu; nghĩa là, nói tóm
lại, là một người chẳng đủ làm cho ai sợ nhưng cũng chẳng để cho ai khinh
được” [20, tr109]. Trong cái xã hội mà “Lối đánh giá con người vào thời buổi
bây giờ chỉ là lục lọi đến số tiền lương tháng nhiều hay ít, chứ có phải kể đến
học thức, nhân phẩm gì đâu!” [20, tr109] thì với đồng lương còm của anh thư
kí nhà buôn thì cực chẳng đã mới đi vay một đồng bạc thật thảm thương.
Nhưng trong cái sự nghèo túng kiểu trung lưu đấy thì những con người đó lại
sống với nhau bằng cái sự sĩ diện chạy vạy từng đồng không phải để lo cái ăn
cái uống mà lo cái sự sợ người ta coi khinh coi rẻ. Những người hàng xóm
mới tốt với nhau làm sao trong cái nghèo cái đói họ còn sức để chưng diện
cho bằng bạn bằng bè, còn sức để thết đãi nhau những buổi đi lễ chùa Hương,
những buổi nghỉ mát ở Sầm Sơn. Nhưng đó là khi còn là hàng xóm của nhau
đến khi không còn là hàng xóm nữa thì chỉ một đồng bạc thôi cũng khiến
nhân vật tôi phải đắn đó suy nghĩ lựa chọn câu chữ để không phải lụy về sau
này cũng vì đồng bạc mà chị Kí Bích phải rào trước đón sau nói năng nhỏ
nhẹ còn nhân vật tôi thì lại thấy phiền phức mặc dù khi còn của ăn của để họ
đã sống rất chân tình như anh em ruột thịt. Điều này khiến ta thấy rằng tình
người giữa thời buổi đó thật thiếu thốn quá đỗi.
Đấy là chuyện giữa những người hàng xóm với nhau nhưng vẫn còn
những chuyện trong nhà với nhau như chuyện của danh họa Khôi Kì (Hồ sê
líu hồ sê sàng) sống với một bà vợ suốt ngày chỉ biết nằm ườn ra mùa đông
cũng như mùa hạ và hai cô con gái quá tuổi lấy chồng rồi vẫn chưa có người
rước về làm vợ. Cuộc sống của danh họa phải chịu nhiều sự tréo ngoe khi
suốt ngày phải nai lưng ra làm để phục vụ cho những nhu cầu hết sức rởm
đời của bà vợ và hai cô con gái khiến ông “lệch nghiệp” nhưng danh họa vẫn
có ước mơ “ông vẫn còn nghèo lắm nên làm ăn rất chi chăm chỉ, những
mong có một ngày kia... Một vài cuộc triển lãm của ông tổ chức với mấy anh
em đã hứa cho ông con đường tương lai rực rỡ.” [20, tr37] Thật bất hạnh thay
24


cho danh họa cuối cùng ông vẫn quanh đi quẫn lại với cái gia đình khốn nạn,
với bà vợ nằm ườn rồi lại léo nhéo suốt ngày, với hai cô con gái ca vọng cổ,
với những chàng công tử Bắc Kì hay tài tử Nam Kì để rồi ngồi nghe “hò sê
líu hồ sê sàng” mà trong bụng lo nợ, lo chạy gạo, chạy bánh đủ thứ trên đời.
Người có quyền vẽ nên một gia đình với “bà mẹ ác nghiệt, người anh cả
hiện đã là một ông phán, “vinh thân phì gia”, thằng em giai hiện đã đỗ tú tài
mà chỉ giỏi hát lối Tino Rossi và đi đêm với bọn vũ nữ, cô em gái út rất tân
thời, được bà mẹ nuông chiều hết sức mà mãi chẳng “thấy ma nào nó
rước”...” [20, tr80] Ở đấy xuất hiện nhân vật “anh” hết sức khờ khạo, là “một
kẻ “thằng không ra thằng, ông không ra ông”, văn dốt, vũ dát, hai mươi bảy
tuổi đầu còn ăn bám vào mẹ, cả ngày đi tìm những gia đình nhàn cư vi bất
thiện để gạ đánh cờ không ăn tiền hay chầu rìa tổ tôm” lại còn “thỉnh
thoảng lại còn đi nhầm giày” [20, tr81] và được người hiền lành nhận xét
rằng: “rõ cái anh chàng đến vô vị” còn người ác khẩu lại kêu: “cái thằng ấy
có chó nó lấy”. Rõ khổ cho nhà có anh chàng lớn xác nhưng vẫn còn ngây
dại lắm thế nhưng anh vẫn có nhân tình vẫn đi chim chuột như ai mà lại
không mất tiền đấy nhé. Anh vẫn biết “cài khuya áo cổ, vuốt lại hai tà áo
nhăn nheo, đội lại cái khăn lượt cũ cho chữ nhân đứng ở giữa trán” [20, tr79]
đấy tuy khờ khạo nhưng anh hãy còn biết chưng diện để đi gặp nhân tình,
không để “thiên hạ cười chết”. Nhưng anh là người vô công rồi nghề anh
không có quyền đúng không có quyền được hưởng cái sự sung sướng khi có
vợ có con bởi kẻ lắm tiền trong xã hội này mới có được tiếng nói còn anh chỉ
dám ra về lén lút bằng lối cửa sau nhà hộ sinh thật ức lắm thay nhưng anh
không buồn lâu bởi anh còn hai hào để giết cái buồn bằng thuốc phiện như
bao kẻ khổ sở khác ở trên đời.
Hầu hết các nhân vật tiểu tư sản của Vũ Trọng Phụng không có được cái
sự dằn vặt nội tâm sâu sắc như của Nam Cao hay chỉ là dằn vặt trong phút
chốc, trong một khoảnh khắc tâm trạng như các sáng tác của Thạch Lam bởi
vì với Vũ Trọng Phụng các nhân vật của ông là con người thiên về hành động
chứ không phải thiên về lí tính. Cũng bởi vậy nên những nhân vật của ông
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×