Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN môn công nghệ THPT giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề và hướng nghiệp

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ VÀ
HƯỚNG NGHIỆP"


Phần I:

ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Lý do chọn đề tài:
Trong nhà trường phổ thông, hướng nghiệp là bộ phận quan trọng của nền giáo dục phổ
thông. Thực hiện công tác hướng nghiệp là một yêu cầu cần thiết của cải cách giáo dục
nhằm thực hiện mục tiêu nguyên lý và nội dung giáo dục của Đảng; góp phần tích cực và
có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý học sinh sau khi tốt nghiệp.
Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng
dẫn học sinh chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, đồng thời phù hợp với
thể lực và năng khiếu của cá nhân. Nó là một quá trình giáo dục lâu dài, gian khổ và phức
tạp. Với tư cách là một bộ phận cấu thành của nền giáo dục phổ thông, hướng nghiệp là
một vấn đề giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ góp phần vào việc bồi dưỡng phẩm chất đạo

đức, bồi dưỡng ý thức đúng đắn đối với lạo động, nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra
những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho thế hệ trẻ tham gia lao động sản xuất và đào tạo
nghề. Chính vì vậy công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là một công tác giáo
dục toàn diện.
Tổ chức lao động sản xuất và dạy nghề trong nhà trường là biện pháp rất quan trọng để
thực hiện công tác hướng nghiệp. Qua lao động sản xuất, giáo dục quan điểm, thái độ, ý
thức lao động cho học sinh; trên cơ sở đó giáo dục ý thức đúng đắn đối với nghề nghiệp,
tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với nghề và lao động trong các dạng nghề nghiệp
khác nhau, phát triển hứng thú, năng lực của học sinh đối với một vài dạng lao động nhất
định, hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và
phù hợp với năng lực của bản thân.
2.Cơ sở lý luận của hoạt động giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề
a.Lịch sử chọn đề tài:
Thi hành Quyết định số 126-CP ngày 19 tháng 3 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ về
công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các
cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường. Hội nghị lần thứ hai của
BCH TW khóaVIII (12/1996) đã nêu 6 quan điểm chỉ đạo định hướng chiến lược phát
triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ CNH-HĐH. Quan điểm mới của Đảng ta là phát
triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, những tiến bộ khoa học
công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh. Giáo dục là một hoạt động có mục đích, có
chương trình, nội dung, phương pháp và phương tiện giáo dục nhằm giáo dục và đào tạo
học sinh trở thành những người lao động có trình độ, có kỹ năng nghề nghiệp. Phát triển
1


giáo dục gắn với tiến bộ khoa học - công nghệ là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt quá trình
phát triển của giáo dục.Vào những năm 60 ở miền Bắc cùng với sự phát triển cũ nền giáo
dục công tác hướng nghiệp đã được đặt ra dưới hình thức là trường vừa học vừa làm,
song hình thức đó tổ chức chưa được qui mô, rải rác chỉ vài trường.
Giáo dục kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội nói chung. Ngày nay, khái niệm giáo dục không
còn hạn chế trong việc "Dạy người - Dạy chữ" mà toàn diện hơn, bao gồm tất cả hoạt
động nhằm chuẩn bị cho con em tham gia vào đời sống xã hội với tư cách là người lao
động chân chính, có văn hóa, có nghề nghiệp.
Trong "Chiến lược phát triển Giáo dục 2001-2010 được Thủ tướng Chính phủ ký ban
hành ngày 28/12/2002 kèm theo Quyết định số: 201/2001/QĐ-TTg trong giải pháp đổi
mới giáo dục", "tiến hành dự báo thường xuyên và tăng cường cung cấp thông tin và nhu
cầu nhân lực của xã hội cho các ngành, các cấp, các cơ sở Giáo dục để điều tiết quy mô
cơ chế ngành nghề và trình độ đào tạo cho phù hợp với nhu cầu sử dụng".
Nhìn chung các trường đã quán triệt được những văn bản đó song việc thực hiện chưa

đồng bộ,việc dạy nghề thường chuyển giao cho trung tâm HN-DN còn việc hướng
nghiệp chưa được chú trọng khoán cho giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo viên bộ môn, chưa
có sự kiểm tra đánh giá cụ thể.
Theo chỉ thị 33/2003/CT-BGDĐT, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bằng
các hình thức: tích hợp nội dung hướng nghiệp vào các môn học, lao động sản xuất và
học nghề phổ thông, hoạt động sinh hoạt hướng nghiệp và các hoạt động ngoại khóa
khác. Trong đó, ba hình thức được đánh giá có tầm quan trọng đối với các em là sinh hoạt
hướng nghiệp, hoạt động dạy nghề và hoạt động ngoại khoá..
Từ năm học 2004-2005 đến nay ngành giáo dục đã quyết định đưa công tác hướng
nghiệp và dạy nghề vào trường phổ thông xem đây là một hoạt động có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình dạy học.
Có thể hiểu rằng Nhà nước ta tập trung chỉ đạo và đầu tư cho phát triển Giáo dục, Giáo
dục phải là quốc sách hàng đầu, Giáo dục phát triển kèm theo các lĩnh vực khác cùng
phát triển trí tuệ và nghề nghiệp tinh thông là chủ thể làm cho đất nước ngày càng giàu
mạnh
b.Một số vấn đề lý luận về hoạt động hướng nghiệp.
b.1.Khái niệm:

2


Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có
được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần
nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Hướng nghiệp là một hệ thống biện pháp tác động của nhà trường, gia đình, xã hội trong
đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị nghề cho thế hệ trẻ sẵn
sàng đi vào ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển đồng thời phù hợp với
hứng thú năng lực cá nhân.
b.2.Vị trí và nhiệm vụ công tác hướng nghiệp:
*Vị trí:
Ðể công tác hướng nghiệp ở nước ta đi vào chiều sâu, đạt được hiệu quả mong muốn,
GDHN và TVHN phải được Chính phủ và toàn xã hội quan tâm đúng mức, được các cấp,
các ngành liên quan đề ra những cơ chế chính sách đồng bộ, hợp lý. Cùng đó, các cơ sở
giáo dục và đào tạo cần được đầu tư thích đáng trong việc tổ chức GDHN, TVHN. Ðặc
biệt, Bộ GD-ÐT cần chú trọng đến việc đào tạo đội ngũ làm công tác hướng nghiệp, nhất
là các chuyên gia hướng nghiệp. Các cơ sở giáo dục có chức năng hướng nghiệp, dạy
nghề... ở các địa phương cần được củng cố và phát triển chứ không phải sáp nhập với các
trung tâm khác. Mặt khác, rất cần tăng cường hiệu quả các cơ quan có chức năng thông
tin, dự báo về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, nhu cầu nhân lực...
* Nhiệm vụ :
- Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn về nghề nghiệp;
- Tổ chức cho học sinh thực tập, làm quen với một số nghề chủ yếu trong xã hội và các
nghề truyền thống của địa phương;
- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích,
hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất;
- Động viên hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần lao động trẻ tuổi
có văn hoá.
Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ trên, các trường cần quán triệt các vấn đề sau:
- Hướng nghiệp phải dựa trên cơ sở giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục toàn diện;
- Hướng nghiệp phải căn cứ vào phương hướng phát triển kinh tế, văn hoá và nhu cầu sử
dụng nguồn lao động dự trữ của đất nước và địa phương;
- Mức độ nội dung, hình thức và phương pháp hướng nghiệp phải phù hợp với đặc điểm
của học sinh (sức khoẻ, lứa tuổi, trình độ học tập, xu hướng v.v...)

3


b.3.Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp:
*Ý nghĩa giáo dục:
- Giúp học sinh có hiểu biết về thế giới nghề nghiệp
- Hình thành nhân cách nghề nghiệp cho học sinh
- Giáo dục thái độ đúng đắn đối với lao động
- Tạo ra sự sẵn sàng tâm lí đi vào lao động nghề nghiệp
*Ý nghĩa kinh tế :
- Góp phần phân luồng học sinh PT tốt nghiệp các cấp, giảm ách tắc giao thông
- Góp phần bố trí hợp lí 3 nguồn lao động dự trữ bảo đảm sự phù hợp nghề
- Giảm tai nạn lao động
- Giảm sự thuyên chuyển nghề, đổi nghề
- Là phương tiện quản lí công tác kế hoạch hoá phát triển kinh tế, xã hội trên cơ sở khoa
học

-

* Về xã hội
- Giúp học sinh tự giác đi học nghề

-

- Khi có nghề sẽ tự tìm việc làm

-

- Giảm tỉ lệ thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội, giảm tội phạm

-

- Ổn định được xã hội

*Ý nghĩa chính trị :
Hướng nghiệp có tác dụng góp phần làm cụ thể hoá mục tiêu đào tạo của trường phổ
thông thì điều đó có nghĩa là công tác hướng nghiệp có chức năng thực hiện đường lối
giáo dục của Đảng và nhà nước, thực hiện đường lối giáo dục trong đời sống xã hội.
Hướng nghiệp sẽ tạo nên những yếu tố mới trong con người lao động, yếu tố cơ bản của
việc tăng năng suất lao động xã hội.
b.4. Nội dung và hình thức hoạt động hướng nghiệp:
4


Công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là giai đoạn mở đầu của công tác hướng
nghiệp toàn xã hội. Dưới góc độ xã hội, công tác hướng nghiệp có 3 mặt hoạt động chủ
yếu sau:
- Định hướng nghề nghiệp
- Tư vấn nghề nghiệp
- Tuyển chọn nghề nghiệp
Ba mặt hoạt động này có quan hệ với nhau rất chặt chẽ.Cho học sinh phổ thông tiến hành
hướng nghiệp chủ yếu là định hướng nghề nghiệp và một phần tư vấn nghề, còn tuyển
chọn lao động do các cơ quan nhà nước, các cơ sở sản xuất tiến hành.
Ở trường THPT hiện nay hướng nghiệp cho học sinh theo 4 tuyến song hành (4 hình thức
hướng nghiệp)
*Hướng nghiệp qua các môn học
Trong cơ cấu chương trình tất cả các môn học ở THPT đều có khả năng hướng nghiẹp
cho học sinh, vấn đề là giáo viên bộ môn phải ý thức được vấn đề này trước hết là dạy
các kiến thức cơ bản sau đó tuỳ đặc trưng môn học mà chỉ cho học sinh những kiến thức
và kỹ năng của bài đó liên quan đến hướng nghiệp giúp học sinh hiểu biết và làm quen
với thế giới nghề nghiệp.
*Hướng nghiệp thông qua dạy học môn Công nghệ
Với tư cách là môn khoa học ứng dụng, bộ môn công nghệ cung cấp cho học sinh những
nguyên lý chung của các quá trình sản xuất chủ yếu, củng cố những nguyên lý khoa học
và làm cho học sinh hiểu được những ứng dụng của chúng trong sản xuất, trong các dạng
nghề nghiệp khác nhau. Do đó giảng dạy môn công nghệ quán triệt tinh thần kỹ thuật
tổng hợp có tác dụng hướng nghiệp cho thế hệ trẻ.
*Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp
Thông qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp nhằm giúp học sinh làm quen với những
nghề của quê hương, nghề phổ biến ở địa phương, nghề truyền thống của địa phương như
nông nghiệp,tiểu thủ công,tiểu công nghiệp...
Khác với các môn học, các buổi sinh hoạt hướng nghiệp được tổ chức không nhất thiết
trình bày tại lớp mà có thể tại các triển lãm hướng nghiệp, tại phòng hướng nghiệp, tại cở
sở sản xuất, tại câu lạc bộ, qua phim...
*Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khoá

5


Bên cạnh những biện pháp hướng nghiệp trên mang tính giáo dục trong nội khoá, hoạt
động ngoại khoá cũng có tác dụng to lớn trong việc giới thiệu tuyên truyền cho học sinh.
Những hoạt động ngoại khoá bao gồm: Xây dựng tổ ngoại khoá, tham quan hướng
nghiệp, phòng hướng nghiệp, câu lạc bộ, qua hoạt động của Đoàn thanh niên, qua hội phụ
huynh học sinh.
3.Cơ sở thực tiễn
Những năm trước đây, ngành giáo dục đã chú ý quan tâm đến công tác hướng nghiệp dạy
nghề cho học sinh phổ thông song công tác này chỉ giao trách nhiệm chính cho TTKTHN
-DN .Trong những năm gần đây để đáp ứng yêu cầu của mục tiêu phát triển giáo dục đến
năm 2010 công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đã được ngành giáo dục chú
trọng .Cụ thể là từ năm 2004-2005 đã đưa chương trình dạy nghề cho học sinh khối 11
vào kế hoạch dạy học cụ thể, đến nay thì công tác hướng nghiệp và dạy nghề cho học
sinh khối 10->12 được xem là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở khoa học
cho việc tuyển chọn lao động trong chừng mực nhất định ,hướng nghiệp dạy nghề còn
góp phần vào việc phân công sử dụng hợp lý học sinh tốt nghiệp ra trường.Trong thời
gian qua cán bộ quản lý ở các trường đã làm tốt công tác hướng nghiệp cho học sinh ở
trường mình. Đa số các nhà quản lý đã vận dụng phương châm" Học đi đôi với hành",
đưa hoạt động hướng nghiệp- dạy nghề vào hoạt động dạy học cụ thể .Tuy nhiên chất
lượng của công tác hướng nghiệp của phần lớn các trường THPT hiện nay còn thấp, đặc
biệt là các trường ở địa bàn nông thôn, miền núi vùng sâu, vùng xa chưa thực hiện một
cách có hiệu quả, chưa phát huy được tác dụng của việc dạy học, chỉ thực hiện trên lý
thuyết suôn hoặc giao trách nhiệm cho TTKTHN-DN.Các hình thức tổ chức hướng
nghiệp chưa phong phú, chưa có tính sáng tạo, hiệu quả chưa cao, việc phân công giảng
dạy chưa hợp lý, chưa phù hợp với năng lực của mỗi người.Việc kiểm tra, đánh giá chưa
được chú trọng, còn khoán trắng cho giáo viên, tổ chức thi nghề chưa hợp lý.
Từ năm học 2005-2006 đến nay công tác hướng nghiệp cho HS khối 10->12
được đưa vào kế hoạch hoạt động dạy học chính khoá. Với yêu cầu đó đòi hỏi người
quản lý , GVCN, GV bộ môn phải thực hiện một cách nghiêm túc.Trong những năm qua
hoạt động giáo dục hướng nghiệp của trường đã đạt được một số kết quả trong việc thực
hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và ngành:
a. Về nhận thức
*Ưu điểm:
Cán bộ quản lý và phần lớn giáo viên trong nhà trường đã nhận thức được vai trò vị trí
của hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông xem đây là mục tiêu giáo
dục nhằm phát triển toàn diện học sinh là trách nhiệm của toàn xã hội
6


-Phần lớn học sinh thấy được tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp -DN trong nhà
trường phổ thông, giúp các em định hướng được nghề nghiệp,làm quen được với một số
nghề cơ bản, lựa chọn được nghề mình yêu thích sau này.
-Về phụ huynh và lực lượng ngoài xã hội: Xem đây là một hoạt động cần thiết , bổ ích
giúp các em hiểu biết cơ bản về một số nghề để các em lựa chọn sau này.
* Tồn tại
GVCN,GVBM chỉ quan tâm đến chất lượng các bộ môn văn hoá, chưa quan tâm đến chất
lượng của hoạt động hướng nghiệp- dạy nghề. Một số giáo viên cho rằng hoạt động HNDN chỉ là hoạt động phụ trách nhiệm chính phải là Trung tâm giáo dục thường xuyên.
Việc hướng nghiệp cho học sinh không phải thực hiện trong thời gian dài chỉ cần tập
trung một vài buổi là có thể làm tốt công tác đó.
-Việc dạy nghề cho học sinh chỉ tập trung vào một số môn vì thiếu giáo viên và thiếu tài
liệu.
-Về học sinh: Một số học sinh khối 10 –> 12 cho rằng công tác hướng nghiệp là hoạt
động phụ không liên quan đến kết quả học tập, trong giờ học không chú ý,các em cho
rằng việc chọn nghề bây giờ chưa quan trọng, sau này nếu không vào được đại học, Cao
đẳng thì cứ chọn một nghề nào đó rồi đi học là được.
-Về phụ huynh và lực lượng ngoài xã hội : Một số phụ huynh cho rằng chỉ cần học văn
hoá cho tốt là được, còn việc định hướng nghề và học nghề biết cũng được mà không
cũng chẳng sao, học nghề cũng chỉ để cộng vào điểm thi tốt nghiệp.
b. Thực hiện kế hoạch và chương trình hoạt động
*Ưu điểm:
Về cán bộ quản lý, hội đồng sư phạm quán triệt được đường lối, chủ trương của
Đảng,nhà nước và ngành
Hiệu trưởng có kế hoạch cụ thể và đã thực hiện chường trình hoạt động HN-DN theo yêu
cầu của Sở và Bộ GD- ĐT.
- Đưa hoạt động HN-DN vào hoạt động dạy học chính khoá hướng nghiệp được bố trí 9
tiết/năm học bằng việc đưa một số nội dung GDHN tích hợp sang hoạt động ngoài giờ
lên lớp và tích hợp ở một số môn học trong chương trình chính khóa.
- Về học sinh: Tham gia khá đầy đủ các buổi học HN và học nghề, nắm được một số kiến
thức cơ bản về nghề nghiệp các em tự chọn.

7


- Về phụ huynh và lực lượng ngoài nhà trường: Đã nắm được cơ bản của công tác HNDN thông qua dịp họp phụ huynh học sinh đầu năm của trường tổ chức
*Tồn tại :
- Một số giáo viên bộ môn, GVCN chưa coi trọng công tác HN-DN cho học sinh chưa
thấy được trách nhiệm của mình, công tác HN thì trách nhiệm thuộc người phụ trách
hướng nghiệp, công tác DN thì trách nhiệm thuộc về một số giáo viên dạy bộ môn công
nghệ hoặc môn sinh học. GVCN chỉ nhắc nhở HS tham gia học đầy đủ các buổi học
nghề, học HN
- Học sinh chưa thấy được tầm quan trọng của công tác HN và học nghề . Nhiều buổi học
sinh nghỉ học với lý do học bù hoặc lý do cá nhân khác.
- Trong số 450 em được hỏi về suy nghĩ của em về công tác HN trong trường phổ thông
có tầm quan trọng như thế nào thì có 80% học sinh thấy đựoc công tác HN trong trường
PT rất cần thiết cho các em định hướng nghề nghiệp sau này, còn 20% cho rằng hoạt
động HN chưa cần thiết cho lúc này.
Câu hỏi

Suy nghĩ của học sinh

Theo em công tác hướng
Không
nghiệp-dạy nghề có cần thiết Cần thiết
thiết
không?

cần

Có cũng được
và không cũng
được

- Các lực lượng ngoài nhà trường: Đa số chưa nắm rõ nội dung chương trình hoạt động
hướng nghiệp - dạy nghề nên thiếu sự quan tâm, chưa tạo điều kiện về cơ sở vật chất
cũng như tinh thần. Phụ huynh có suy nghĩ học nghề để được cộng điểm còn không thì
thôi.
c. Nội dung và hình thức tổ chức:
*Ưu điểm:
+ Cán bộ quản lý cùng hội đồng sư phạm đã bám sát nội dung chương trình,kế hoạch của
công tác HN- DN
+ Đã tổ chức hướng nghiệp cho HS khối 10 một tháng 3 tiết, dạy nghề cho khối 11 là 105
tiết một tuần 1buổi (3tiết), khối 12 một tháng 3 tiết.
+ Công tác HN-DN được tiến hành ngay đầu năm học .
8


* Tồn tại :
+ Hình thức tổ chức hướng nghiệp chưa phong phú,công tác hướng nghiệp trên hình thức
thuyết trình, giáo viên chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản về mặt lý thuyết trên lớp,
chưa có điều kiện để tổ chức cho học sinh tham quan học tập một số nghề ở địa phương,
hoặc chưa mời nghệ nhân giới thiệu một số ngành nghề mà địa phương có.
+ Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên làm công tác HN với GVCN, GVBM.
+ Công tác hướng nghiệp chưa được tập huấn thường xuyên.
+ Chưa thành lập được ban quản lý chỉ đạo hoạt động hướng nghiệp-dạy nghề trong
trường học.
d. Cơ sở vật chất:
*Ưu điểm:
Với ưu thế một đơn vị có bề dày thành tích hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Trường
THPT Hà Trung phát huy những tiềm năng, lợi thế, ra sức khắc phục khó khăn, hoàn
thành nhiệm vụ chính trị, nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng toàn diện. Nhà trường
tập trung cao độ cho việc nâng cao chất lượng giờ dạy trên lớp bằng nhiều biện pháp
trong đó đặc biệt nhất là tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy và
học. Bên cạnh việc trang bị kiến thức cơ bản cho học sinh, Nhà trường cũng chủ động mở
rộng nồng ghép công tác hướng nghiệp và dạy nghề .
*Tồn tại :
- Thời gian dành cho việc hướng nghiệp dạy nghề trong dạy học chính khoá là “ít” và
giáo viên lồng ghép ở “bất cứ thời điểm” nào thích hợp trong quá trình giảng dạy, nhưng
việc lồng ghép đó rất ít nội dung không phong phú, hình thức chưa sinh động.
- Chưa tranh thủ các nguồn đóng góp của các lực lượng xã hội việc huy động cộng đồng
còn hạn chế
Với những tồn tại trên cho nên nó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công tác
giáo dục HN-DN.
e. Quản lý chỉ đạo
* Ưu điểm
- Cán bộ quản lý có sự quan tâm chỉ đạo việc dạy HN-DN cho học sinh khối 10 –> 12
phù hợp với yêu cầu và chỉ tiêu đề ra của Sở GD-ĐT, Bộ GD-ĐT
- Xây dựng được kế hoạch thực hiện chương trình.
* Tồn tại
9


- Đội ngũ cán bộ QL chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo HN-DN,một số
nghề không có giáo viên dạy.
- Chưa chỉ đạo tốt trong việc phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường như
GVCN, GVBM, hội cha mẹ HS,TTGDTX, các cơ quan sản xuất kinh doanh đóng trên
địa bàn huyện.
g.Công tác kiểm tra đánh giá
- Việc kiểm tra công tác dạy HN-DN chưa được thường xuyên
- Chưa có qui định rõ ràng trong việc đánh giá công tác DN của giáo viên
- Thực chất của việc kiểm tra công tác dạy nghề chỉ thể hiện qua kết quả thi nghề của học
sinh, kiểm tra chỉ trên hình thức thực hiện chương trình còn chất lượng dạy nghề ra sao
thì chưa đánh giá được.
Qua thực trạng hoạt động giáo dục HN- DN của khối 10->12 ở trường THPT Hà Trung
tôi nhận thấy rằng, công tác HN-DN được đưa vào trường là một việc làm rất cần thiết,
trường đã có nhiều cố gắng trong việc triển khai kế hoạch và quản lý chỉ đạo cụ thể song
chưa quán triệt được tất cả những yêu cầu nội dung chương trình của Bộ GD-ĐT, chưa
đáp ứng mục tiêu đào tạo, yêu cầu của xã hội do ảnh hưởng nhiều nguyên nhân khách
quan và chủ quan nên đã có một số tồn tại đáng kể. Trên cơ sở những mặt đã làm được và
những mặt tồn tại nêu trên, tôi xin nêu một số giải pháp đã và đang thực hiện sau:
Phần II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỈ ĐẠO HOẠT ĐỘNG GDHN-DN Ở KHỐI 10 >12 TRƯỜNG THPT HÀ TRUNG
1) Giải pháp 1:
Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên, học sinh và lực lượng ngoài nhà trường.
Nhận thức là một vấn đề rất quan trọng trong công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động
giáo dục HN-DN, đây là một hoạt động để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học
sinh.
a. Đối với cán bộ giáo viên.
Cán bộ giáo viên là lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng các hoạt động trong
nhà trường vì vậy nâng cao nhận thức là một việc làm cần thiết.
Trước hết là đối với hiệu trưởng, người cán bộ quản lý trường học phải nhận thức
được tầm quan trong của công tác HN - DN ở trường phổ thông nhận thức được sự chỉ
10


đạo, tổ chức hoạt động HN-DN là nhiệm vụ của hiệu trưởng và Hội đồng giáo dục. Thấy
được tầm quan trọng của công tác HN-DN trong trường phổ thông, giúp học sinh định
hướng được nghề nghiệp hoặc làm quen được một số nghề sau này có cơ sở để chọn nghề
mà mình yêu thích. Qua đó hiệu trưởng không được xem nhẹ công tác này và biết đầu tư
thích đáng để công tác HN-DN hoạt động có chất lượng và đạt được hiệu quả cao nhất.
Đối với khối 12 là khối cuối cấp, chương trình hướng nghiệp được đưa vào dạy học
chính khoá, hiệu trưởng cùng giáo viên phải có sự quan tâm đến việc nâng cao nhận thức
cho các em, các em phải có sự nhìn nhận, hiểu được tầm quan trọng của công tác HNDN, đây là mục tiêu của việc giáo dục toàn diện học sinh.
b. Đối với giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm.
Sự hợp tác của GVCN và GVBM có vai trò quyết định cho sự thành công của công
tác hướng nghiệp vì vậy nâng cao nhận thức cho giáo viên là việc cần làm.
Thông qua hoạt động ngoại khoá như tổ ngoại khoá, tham quan hướng nghiệp,
phòng hướng nghiệp dạy nghề...giúp giáo viên nhận thức tầm quan trọng của công tác
hướng nghiệp, đây là nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục nói chung và trường nói
riêng nhằm góp phần giáo dục toàn diện học sinh. Đặc biệt đối với GVCN khối 12 phải
nhận thức được hoạt động HN-DN là một môn học chính khoá, hiểu được tầm quan trọng
của bộ môn này từ đó có hướng giáo dục học sinh, tìm phương pháp giảng dạy phù hợp
để công tác giáo dục HN-DN đạt hiệu quả cao nhất.
c. Đối với học sinh khối 10
Chưa có sự hiểu biết sâu sắc về tầm quan trong của hoạt động HN-DN.
Vì vậy nhiệm vụ của CBGV là giúp các em hiểu được tầm quan trọng của công tác HNDN để các em tham gia đầy đủ, tích cực và có ý thức hoạt động tốt.
Thông qua các buổi ngoại khoá, chào cờ đầu tuần, sinh hoạt lớp, hoặc các bộ môn
văn hoá như: Công nghệ, Giáo dục công dân, Sinh học...CBGV giúp học sinh nhận thức
được trong thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ngoài việc đào tạo những
người thầy phải cần đến những người thợ. Những kiến thức mà các em được học trên lớp
cần phải được vận dụng vào thực tiễn.Thông qua hoạt động này sẽ giúp các em tìm hiểu
một số nghề để các em định hướng đựoc nghề nghiệp trong tương lai của mình.
d.Đối với lực lượng ngoài xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay nước ta đang trên đà phát triển, nhu cầu về nhân lực đi
hỏi ngày càng cao, để đáp ứng được nhu cầu đó thì yêu cầu học tập, hoạt động giáo dục
nhà trường cũng được nâng cao. Để thực hiện mục tiêu giáo dục thì nhà trường cần có sự
tiếp sức của lực lượng xã hội một cách có trách nhiệm. Nhà trường có trách nhiệm giúp
11


phụ huynh học sinh, các lực lượng khác ngoài xã hội nhận thức đúng đắn vai trò, ý nghĩa
của hoạt động HN-DN. Hoạt động này không thể ảnh hưởng đến chất lượng các môn văn
hoá mà đây là công tác giúp các em phát triển toàn diện. Từ nhận thức đầy đủ về hoạt
động này nhà trường dễ dàng tranh thủ sự hỗ trợ, hợp tác của họ trong qúa trình giáo dục.
2) Giải pháp 2:
Xây dựng kế hoạch và chương trình hoạt động:
Theo mục tiêu giáo dục của thời kỳ CNHĐH để phát triển toàn diện học sinh ngoài
việc học các bộ môn văn hoá cần phải cung cấp thêm cho học sinh một số kiến thức cơ
bản về một số nghề quen thuộc, giúp các em làm quen được với một số nghề mà em yêu
thích, hiểu được ý nghĩa tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Biết
được một số thông tin cơ bản về định hướng phát triển KT-XH của đất nước, khu vực và
địa phương, về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, hệ thống giáo dục phổ thông,
THCN và dạy nghề cao đẳng, đại học ở địa phương và cả nước. Để giúp học sinh hiểu
được tầm quan trọng của hoạt động này cần phải chỉ đạo xây dựng kế hoạch từ đầu năm
học.
Công tác HN-DN được đưa vào kế hoạch hoạt động của năm học, đảm bảo đúng
chỉ tiêu của Sở giáo dục đề ra tối thiểu là 80% học sinh khối 11 tham gia học nghề.
Người phụ trách công tác hướng nghiệp của các lớp là GVCN.
GVCN phối hợp với GVBM để làm tốt công tác.
Công tác hướng nghiệp một tháng tổ chức một tiết , giáo viên lên lớp phải có giáo
án và dạy theo đúng chủ đề của từng tháng.
Tháng 9: Ý nghĩa tầm quan trọng của việc chọn nghề .
Tháng 10: Định hướng phát triển KT-XH của đất nước và địa phương.
Tháng 11: Thế giới nghề nghiệp quanh ta.
Tháng 12: Tìm hiểu thông tin một số nghề phổ biến ở địa phương.
Tháng 1: Thông tin về thị trường lao động.
Tháng 2: Tìm hiểu năng lực bản thân và truyền thống nghề nghiệp của
gia đình.
Tháng 3: Tìm hiểu hệ thống GDTH và đào tạo nghề của TW và
địa phương.
Tháng 4: Các hướng đi sau khi tốt nghiệp THPT .
12


Tháng 5: Tư vấn hướng nghiệp.
Hiệu trưởng chỉ đạo GVCN phối hợp GVBM thực hiện đúng chương trình do Bộ,
Sở giáo dục đào tạo quy định.
Giáo viên phụ trách công tác hướng nghiệp có thể tổ chức nhiều hoạt động giáo dục
hướng nghiệp bằng nhiều phương pháp:
- Thuyết trình.
- Tổ chức học sinh điều tra thông tin nghề.
- Tổ chức thảo luận lớp về chủ đề hướng nghiệp.
- Tổ chức học sinh học theo nhóm nhỏ.
- Tổ chức trò chơi theo chủ đề hướng nghiệp.
- Phương pháp đóng vai ( Diễn kịch ) mô phỏng.
Phương pháp tổ chức hoạt động hướng nghiệp phải phù hợp với chủ đề từng tháng.
Đối với chủ đề tìm hiểu thông tin nghề ở địa phương, hiệu trưởng chỉ đạo GVCN
có thể mời một số thợ giỏi giới thiệu các nghề mà phổ biến ở địa phương như: Nghề dệt
zèn, làm mặt mây, làm chổi đót...Hoặc cho các tham quan các cơ sở sản xuất chổi đót,sản
xuất mặt hàng thổ cẩm ở địa phương.
Đối với GVBM công nghệ, vật lý, sinh học, Giáo dục công dân...cần hướng nghiệp
cho học sinh qua các tiết dạy, bài dạy.
Sưu tầm một số mẫu vật giới thiệu một số nghề mà các em chưa biết hoặc những tài
liệu có mục đích tư vấn nghề nghiệp.
Khi học lớp 12 học sinh nào cũng có những dự định chọn một hướng cho bản thân
mình như: Một trường Đại học, Cao Đẳng , trường TCCN, hoặc về gia đình tham gia lao
động sản xuất... kèm theo dự định thường là những ước mơ về sự thành đạt trong tương
lai. Sự hình thành dự định chọn một hướng đi này gần như bao giờ cũng gắn việc xem
xét, cân nhắc các yếu tố ảnh hưởng như hứng thú, năng lực bản thân với những khó khăn
thuận lợi sẽ gặp. Đây là lần đầu tiên trong đời các em phải đối đầu với việc lựa chọn này.
Do vậy, học sinh sẽ gặp không ít khó khăn hoặc mắc phải những sai lầm khi chọn cho
mình một hướng đi phù hợp. Vì vậy thông qua buổi thảo luận lớp, giáo viên cần cho các
em nhận thức những thuận lợi, khó khăn khi quyết định lựa chọn hướng đi của mình.
3. Giải pháp 3:
Tổ chức và chỉ đạo hoạt động, bồi dưỡng giáo viên và ban quản lý hoạt động HN-DN.

13


Hiệu trưởng chỉ đạo GVCN, GVBM, TPT đặc biệt là GVCN khối 12 phải nắm
vững nội dung chương trình hoạt động HN-DN theo chương trình hướng dẫn của Bộ giáo
dục đào tạo, chương trình được xây dựng theo chủ đề hàng tháng.
GVCN, GVPT công tác hướng nghiệp phải chuẩn bị hồ sơ giáo án, có kế hoạch,
hình thức tổ chức cụ thể tránh tình trạng soạn đối phó.
Ngoài việc thực hiện đúng, đủ nội dung chương trình phần bắt buộc cần phải
thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức để tạo hứng thú cho học sinh.
Thành lập Ban chỉ đạo hướng nghiệp .
- Phó hiệu trưởng: Trưởng ban
- Tổ trưởng CM : Phó ban
- GVCN :

Ủy viên

- Tổng phụ trách: Ủy viên
Huy động học sinh học nghề tại trung tâm GDTX và trường phải đạt tối thiểu là
80% .
Ban chỉ đạo hướng nghiệp mỗi tháng họp một lần và có sự phân công trách nhiệm
cụ thể.
Hiệu trưởng chỉ đạo GVCN, GVBM cho học sinh tham quan học tập cách ươm
giống cây ở vườn ươm của Lâm trường Hà Trung , mời Kỹ sư khuyến nông
tập huấn cho học sinh cách trồng trọt chăn nuôi gia đình. Mời thợ dệt zèn giới thiệu nghề
và kỹ thuật dệt các mặt hàng truyền thống, cho học sinh tham quan học tập ở cơ sở sản
xuất đồ mộc gia dụng, sản xuất nứa cuốn, móc túi hộp….
Để hoạt động hướng nghiệp có hiệu quả, có chất lượng thì không chỉ là nhiệm vụ
của cán bộ quản lý, GVCN, GVBM, Tổng phụ trách (TPT ) mà là nhiệm vụ của tất cả hội
đồng sư phạm và học sinh. Vì vậy bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ giáo viên là
một việc làm cần thiết.
Hiện nay nội dung chương trình hướng nghiệp có yêu cầu cao song CBGV, Tổng
phụ trách (TPT) chưa được tập huấn nhiều vì vậy để làm tốt công tác hướng nghiệp cần
tổ chức các đợt tập huấn bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ tổ chức công tác hướng
nghiệp, cho giáo viên tham quan học tập một số cơ sở sản xuất ở địa phương mình hoặc
địa phương khác.
Đối với TPT thông qua hoạt động GDNGLL giáo dục cho học sinh ý thức tham gia
hoạt động HN và các buổi học nghề.
14


Ngoài các nghề mà trường để tổ chức cần phối hợp với trung tâm GDTX tổ chức
cho học sinh học tập các nghề khác như: Nhiếp ảnh, điện dân dụng, nữ công gia chánh ...
Tổ chức kiểm tra việc tham gia học tập hướng nghiệp và học nghề theo sự hướng
dẫn của Bộ, Sở GD-ĐT.
4) Giải pháp 4:
Tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động.
Công tác hướng nghiệp được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau đi hỏi phải
đầu tư nhiều kinh phí cho việc xây dựng phòng hướng nghiệp đặc biệt là việc mua sắm
trang thiết bị để phục vụ cho hoạt động này. Hàng năm huyện đều dành một phần kinh
phí trong ngân sách để xây dựng cơ sở vật chất mua sắm trang thiết bị dạy học. Ngoài
việc Huyện tạo điều kiện để sử dụng nguồn kinh phí từ quỹ học phí, thì nhà trường phải
huy động cộng đồng bằng cách vận động sự giúp đỡ của cá nhân phụ huynh, các cơ quan
đoàn thể các doanh nghiệp đóng trên địa bàn,các tổ chức phi chính phủ ...ủng hộ cơ sở
vật chất, thiết bị cho nhà trường.
Tham mưu với Đảng bộ, UBND Thị trấn Hà Trung , Hội phụ huynh để tranh thủ hỗ
trợ xây dựng vườn trường. Đầu tư một số kinh phí để mua sắm trang thiết bị giảng dạy
cho giáo viên bộ môn, GVCN, những người phụ trách công tác hướng nghiệp như sách
tham khảo, tài liệu hướng nghiệp, những mô hình sản phẩm mô tả nghề .
5) Giải pháp 5:
Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động HN-DN ở khối 12.
Kiểm tra, đánh giá là một biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng hoạt động
HN-DN. Bất kỳ một hoạt động nào ở trường cũng phải chú ý đến khâu kiểm tra, đánh
giá. Không kiểm tra, đánh giá có nghĩa là không có quá trình quản lý. Vì vậy CBQL phối
hợp với Ban chỉ đạo hướng nghiệp, các đoàn thể trong
nhà trường phải thường xuyên kiểm tra đánh giá cụ thể công tác HN-DN của
GVCN,GVBM.
Thường xuyên dự giờ, kiểm tra các buổi hoạt động HN và các tiết dạy nghề để
đánh giá chất lượng và hiệu quả của tiết dạy, hình thức tổ chức không phù hợp để kịp thời
điều chỉnh và có biện pháp bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ cho giáo viên.
Kiểm tra việc thực hiện chương trình theo đúng quy định của Bộ và Sở GD-ĐT.
Sau khi kiểm tra cần đánh giá cụ thể những mặt mạnh, mặt yếu từ đó rút ra kinh
nghiệm về hình thức, phương pháp hoạt động để bổ sung vào kế hoạch.

15


Phần III: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1)

Kết quả đạt được

Nhờ sự quản lý chỉ đạo sát sao của Sở GD-ĐT, và Hiệu trưởng cùng với Hội đồng
sư phạm để triển khai cụ thể các biện pháp nên hoạt động giáo dục HN-DN có bước
chuyển biến rõ rệt. Giáo viên để nhận thức được vai trò vị trí của công tác HN trong
trường phổ thông xem đây là một hoạt động tích cực thiết thực giúp học sinh phát triển
toàn diện, định hướng được nghề nghiệp trong tương lai, có sự cân nhắc khi lựa chọn
nghề sau khi tốt nghiệp bậc THPT. Học sinh ý thức được nhiệm vụ của mình là phải tham
gia đầy đủ các buổi tổ chức HN và các buổi học nghề tại trường hoặc tại trung tâm
GDTX.

Kết quả đã huy động được số học sinh tham gia học nghề như sau:
Năm học 20011-2012
Các nghề

Tổng số HS
tham gia học

Tỉ lệ

Được cấp
chứng chỉ nghề

Lâm sinh

360

66,8%

360

Điện dân dụng

90

16,6%

90

Tin học

90

16,6%

90

Tổng cộng

540

100%

540

Năm học 2012-2013
Các nghề
Lâm sinh

Tổng số HS
tham gia học
510

Tỉ lệ
100%

Được cấp
chứng chỉ nghề
510

16


Trường đã tổ chức được 3 buổi hoạt động GDNGLL cho học sinh khối 12 ,ngoài ra ở các
tiết sinh hoạt lớp giáo viên chủ nhiệm đều có lồng ghép để tư vấn hướng nghiệp cho các
em theo chủ đề từng tháng. 98% học sinh tham gia đầy đủ các buổi hướng nghiệp và tư
vấn hướng nghiệp
Tóm lại với vị trí, vai trò tầm quan trọng và hình thức tổ chức thực hiện các biện
pháp chỉ đạo trên ở trường THPT Hà Trung hiện nay hoạt động hướng nghiệp để thật sự
trở thành bộ phận quan trọng của nền giáo dục phổ thông.Thực hiện công tác HN là một
yêu cầu cần thiết của cải cách giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý và nội dung
giáo dục của Đảng. góp phần tích cực có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý
học sinh sau khi tốt nghiệp.
Thực hiện hoạt động HN tích cực có hiệu quả sẽ góp phần gắn lý thuyết với thực
tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của học sinh. Gắn liền nhà
trường và cuộc sống, đáp ứng được mục tiêu KT-XH và Quốc phòng.
2) Bài học kinh nghiệm:
Mặc dù chương trình HN mới được đưa vào học chính khoá ở trường phổ thông ,
công tác dạy nghề đang còn một số tồn tại nhưng qua việc thực hiện chương trình HNDN ở khối 10 -> 12 trường THPT Hà Trung cho thấy nội dung chương trình hoạt động
HN-DN rất phù hợp, hình thức tổ chức rất phong phú. Để hoạt động HN-DN có chất
lượng, hiệu quả thì đội ngũ CBQL, Hội đồng sư phạm nhà trường phải có sự chuyển biến
tích cực trong nhận thức và năng lực tổ chức quản lý hoạt động HN-DN ở khối 10 –> 12 .
Hiệu trưởng phải xây dựng kế hoạch, phương hướng chỉ đạo hoạt động HN-DN
Xây dựng Ban hướng nghiệp và có sự phân công cụ thể, đánh giá trách nhiệm của
từng bộ phận.
Cần phải xây dựng nội dung hoạt động cụ thể để hướng dẫn học sinh chọn nghề.
Nghiên cứu xây dựng phần mềm cho bộ môn Công Nghệ phù hợp với sự phát triển
KT-XH của địa phương.
Muốn thực hiện công tác HN có hiệu quả phải có sự phối hợp 4 thành phần: Nhà
trường, chính quyền địa phương, cơ sở sản xuất địa phương, cha mẹ học sinh.
Phải tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động HN-DN thường xuyên đưa
hoạt động này vào tiêu chí thi đua của trường.

17


Phần IV : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
1.Kết luận
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp dạy nghề được áp dụng đối với THPT trong nhà
trường đã trên 30 năm. Song tới nay, cho dù số lượng học sinh học nghề tăng nhanh hằng
năm nhưng chất lượng và hiệu quả dạy nghề hướng nghiệp trong các trường phổ thông
vẫn là điều cả thầy, trò và các bậc phụ huynh còn trăn trở.
Dạy nghề, hướng nghiệp là một hoạt động giáo dục mà điểm của nó không được cộng
vào các môn học để tính bình quân chung mà qua đó để đánh giá ý thức, hạnh kiểm của
học sinh. Sau khóa học, học sinh được cấp chứng chỉ (nhưng không được hành nghề) và
dựa vào học lực để được cộng từ 0,5 đến 2 điểm cho các kỳ thi tốt nghiệp. Kỳ vọng của
Bộ GD&ĐT về công tác tư vấn hướng nghiệp dạy nghề là giúp các em làm quen với các
nghề phổ thông, rèn luyện trải nghiệm lao động và giúp học sinh lớp 11-12 lựa chọn
ngành nghề, trường học. Tuy nhiên có một thực tế: theo chương trình cải cách môn nghề
phổ thông hiện nay thì học sinh THPT có 81 tiết Giáo dục hướng nghiệp, mỗi năm 27 tiết
học, tức là mỗi tháng có 3 tiết kéo dài trong 3 năm. Ngoài ra, còn duy trì môn giáo dục
học nghề có 105 tiết 3 tiết mỗi tuần cho riêng HS khối 11. Nhưng trong các nhà trường
không có biên chế cho giáo viên dạy nghề, hướng nghiệp phổ thông chuyên trách. Hầu
hết giáo viên dạy Vật lý kiêm dạy nghề điện dân dụng, giáo viên Sinh học kiêm dạy lâm
sinh, thậm chí không có tiêu chuẩn gì cả mà bất cứ một thầy, cô giáo chưa đủ giờ dạy của
bất kể môn nào đều có thể dạy môn hướng nghiệp dạy nghề. Hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở những địa phương có trung tâm KTTH-HN thì học sinh chủ yếu học hướng
nghiệp trong nhà trường và học hướng nghiệp qua dạy nghề phổ thông tại các trung tâm.
với rất ít thiết bị, vật liệu để thực hành. Giáo viên trong nhà trường dạy được lý thuyết,
còn thực hành thì chỉ "cưỡi ngựa xem hoa". Từ đó mọi việc dạy và học nghề, hướng
nghiệp chỉ là để cho có, tiền xây dựng cho công tác dạy nghề thì không có, vật liệu bị tiêu
hao, dụng cụ dạy nghề hao mòn, hư hỏng hầu như không có kinh phí để bổ sung trang bị
lại... Đã có không ít các thầy giáo, cô giáo chẳng ngần ngại gì khi nói ra cái điều xem như
là mặt trái của học nghề phổ thông rằng: Dạy nghề chỉ là hình thức, nhưng cái chính là
học sinh được cấp chứng chỉ học nghề phổ thông sẽ được cộng từ 0,5 đến 1,5 điểm cho
kỳ thi tốt nghiệp. Thế là học nghề trở thành cứu cánh cho các trò lực học yếu.
Đa số học sinh và phụ huynh quan niệm học nghề phổ thông trong nhà trường chỉ để
được cộng điểm thi tốt nghiệp. Do vậy số học sinh dùng chứng chỉ học nghề để nâng bậc
trong khóa học nghề tiếp theo rất ít. Đây là thực trạng đáng buồn với dạy nghề, hướng
nghiệp. Nhiều ý kiến cho rằng: Hiệu quả dạy nghề còn quá thấp chỉ vì chương trình
không được đổi mới, phù hợp các đối tượng học sinh từng khu vực. Bên cạnh đó, hướng
nghiệp cho học sinh các bậc học rất cần thì lại chưa được đầu tư thỏa đáng.
18


2.Kiến nghị
- Theo ý kiến riêng tôi, không thể bắt các em phải học theo một nghề nhất định (trong khả
năng của trung tâm, của trường) mà các em không thích, không mong muốn khi bước vào
đời. Và như vậy, việc đưa các nghề như: Lâm sinh, nấu ăn, điện kỹ thuật, may, mộc, cơ
khí và cả làm vườn ….vào dạy đại trà cho học sinh lớp 11 THPT, ở các khu vực khác
nhau là chưa phù hợp. Cần phải nhận thức định hướng nghề là để các em nhìn nhận một
cách tổng thể nghề nghiệp cho phù hợp năng lực và sở thích, do đó không nhất thiết phải
tổ chức cho học sinh phổ thông học nghề trong nhà trường. Đã học nghề phải đến trung
tâm, đội ngũ giáo viên chuyên trách, học đi đôi với hành, với thiết bị đầy đủ. Để làm tốt
hướng nghiệp dạy nghề trong nhà trường, nên dành thời gian nhiều hơn cho các giờ học
ngoại khóa, thực tế tại các nhà máy, xưởng sản xuất, các loại hình hoạt động quản lý nhà
nước để các em tiếp cận với các nghề trong xã hội. Tổ chức theo các chuyên đề về nghề
nghiệp với học sinh từng khối lớp, các trường theo vùng miền. Tăng cường đưa tin học
ứng dụng vào học trong các nhà trường để các em có điều kiện tiếp xúc và làm quen sớm
với công nghệ thông tin.
- Thực hiện cuộc vận động "Nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo
dục, không để học sinh không đạt chuẩn lên lớp và không vi phạm đạo đức người giáo
viên" rõ ràng cần phải xem lại có nên để giáo viên không chuyên trách dạy nghề? Có nên
bỏ cộng điểm học nghề cho thi tốt nghiệp THPT ?. Đồng thời phải đổi mới công tác dạy
nghề hướng nghiệp trong trường phổ thông cho phù hợp xu thế chung cả về nội dung
giáo trình và cách thức tổ chức.
Đối với Sở GD-ĐT cần thường xuyên hơn nữa việc tổ chức tập huấn bồi dưỡng chuyên
môn cho cán bộ phụ trách công tác HN, dạy nghề.

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×