Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN hướng đọc hiểu truyện ngắn “một người hà nội” của nguyễn khải

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"HƯỚNG ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN “MỘT NGƯỜI HÀ NỘI”
CỦA NGUYỄN KHẢI"

1


I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Đối với giáo viên, việc tiếp cận với chương trình sách giáo khoa cải cách đã khó, giảng
dạy đạt hiệu quả, tạo được sức lôi cuốn đối với học sinh lại càng khó hơn. Đặc biệt là
những bài mới được đưa vào chương trình. Tài liệu tham khảo thiếu, thời gian tìm hiểu,
nghiên cứu ít, đây thực sự là điều những giáo viên tâm huyết với nghề trăn trở. Trong bối
cảnh môn Ngữ văn ngày càng ít được học sinh chú ý việc đưa ra một cách tiếp cận tác
phẩm thật nhẹ nhàng, đơn giản nhưng hiệu quả thực sự là một điều mà bất cứ giáo viên
nào cũng hướng tới nhằm thu hút học sinh gắn bó và yêu mến bộ môn văn. Một cách tiếp
cận mới, một định hướng hay thực sự là điều mà tôi và các đồng nghiệp luôn mong
muốn.
So với chương trình và SGK cũ, chương trình và SGK Ngữ văn mới của Bộ (ấn hành
tháng 6 năm 2008, sử dụng trong cả nước bắt đầu từ năm học 2008 – 2009) có những

thay đổi nhất định trong việc lựa chon tác phẩm. Các nhà biên soạn đã đưa vào chương
trình những tác phẩm tiêu biểu của Văn học Việt Nam sau năm 1975 như: Đò Lèn
(Nguyễn Duy), Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo), Ai đã đặt tên cho dòng sông?
(Hoàng Phủ Ngọc Tường), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Một ngưòi Hà Nội
(Nguyễn Khải), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Hồn Trương Ba, da hàng
thịt (Lưu Quang Vũ) ...Tuy độ lùi thời gian chưa xa, sự đánh giá, thẩm định chỉ mới ở
giai đoạn bước đầu nhưng cho thấy đây là bộ phận văn học có nhiều thành tựu. So với
văn học giai đoạn 1945 – 1975, văn học sau 1975 có nhiều đổi mới về đề tài, quan niệm
nghệ thuật về con người, về kết cấu, điểm nhìn nghệ thuật và bút pháp.
Nhìn một cách tổng quát có thể dễ dàng nhận thấy văn học giai đoạn 1945 – 1975 các tác
phẩm hầu như đều có chung khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Với đặc điểm
đó văn học thời kì này đã dựng lên một bức tranh hoành tráng về lịch sử, tái hiện một thời
kì đau thương nhưng hào hùng của dân tộc. Tuy nhiên, trước sự chuyển biến mau lẹ của
đời sống xã hội cùng sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, đề tài của văn học
sau 1975 ngày càng được triển khai mở rộng. Văn xuôi nước nhà chuyển mạnh sang cảm
hứng thế sự, sinh hoạt. Nhận định về văn xuôi giai đoạn này giáo sư Phan Cự Đề cho
rằng: “truyện và tiểu thuyết đi sâu hơn vào đời sống “thế tục”, cuộc sống hàng ngày, bình
thường của con người với nhiều vấn đề xã hội ngổn ngang phúc tạp; giải quyết tốt mối
quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, con người công dân, con người xã hội và con người
tự nhiên”. Một người Hà Nội (Nguyễn Khải) là một tác phẩm xuất sắc, tiêu biểu của văn
học thời kì đổi mới được đưa vào chương trình phổ thông. Đây là một tác phẩm có vấn
đề, gợi lên khá nhiều cách hiểu, cách tiếp cận không giống nhau. Để tiến tới cách tiếp cận
văn bản đúng, toàn diện, tôi xin nêu một hướng đọc hiểu văn bản mà tôi đã thực hiện trên
các lớp và bước đầu cho kết quả khả quan. Bên cạnh đó bản thân muốn thông qua việc
2


thiết kế dạy học một tác phẩm để học sinh hoàn thiện, nâng cao phương pháp đọc hiểu tác
phẩm văn xuôi thời kì đổi mới. Vì những lí do trên tôi xin trình bày đề tài: Một hướng
đọc hiểu văn bản “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Một số đặc điểm của văn xuôi Việt Nam sau năm 1975:
Văn xuôi trước 1975 viết về đời sống chiến tranh thường phản ánh con người trong mối
quan hệ với cộng đồng, với giai cấp, với dân tộc. Hình tượng trung tâm của văn học trong
giai đoạn này là những người lính, gánh vác trên vai nhiệm vụ nặng nề mà cao cả của dân
tộc. Họ mang trong mình những phẩm chất cao đẹp, ý chí và sức mạnh phi thường. Kết
tinh vẻ đẹp tinh thần và lí tưởng cao cả của một dân tộc anh hùng. Nhưng với cái nhìn lí
tưởng, sử thi hoá về con người văn học một thời đã không tránh khỏi những hạn chế thiếu
sót. “Các tác phẩm viết về chiến tranh nhân vật thường có khuynh hướng một chiều”.
Sau 1975 con người trở về với cuộc sống đời thường, đối mặt với bao vấn đề phức tạp

bộn bề của đời sống. Điều này đòi hỏi văn học cần phải thay đổi cách nhìn nhận, cách
đánh giá con người và hiện thực. Lúc này đổi mới là vấn đề tất yếu, là nhu cầu thường
xuyên, liên tục cần thiết cho sự tồn tại và phát triển. Quá trình đổi mới văn học diễn ra
đặc biệt sôi nổi từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) với tinh thần dân chủ, nhìn thẳng
vào sự thật đã thực sự thổi một luồng gió mới vào đời sống văn học góp phần đổi mới về
tư duy nghệ thuật. Chính hiện thực mới, tư duy nghệ thuật mới đã thúc đẩy mạnh mẽ sự
tìm tòi, thể nghiệm về cách tiếp cận thực tại về các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật, phát
huy cá tính và phong cách nhà văn.
Văn học thời kì sau năm 1975 đặc biệt quan tâm tới con người cá nhân. Nguyễn Khải là
một trong những nhà văn có nhiều nỗ lực tìm tòi, khám phá quan tâm tới con người cá
nhân. Nguyễn Khải đã tìm cách lí giải sự tồn tại của con người trên nhiều chiều thời gian:
thời gian quá khứ, thực tại, tương lai từ đó làm nổi bật vẻ đẹp của con người. Một người
Hà Nội là một tác phẩm như thế.
2. Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Khải:
Quan niệm nghệ thuật về con người là cốt lõi tư tưởng, là thước đo sự tiến bộ nghệ thuật
của một nhà văn. Theo quan điểm của thi pháp học, quan niệm nghệ thuật về con người
là một trong những yếu tố cơ bản, then chốt nhất của chỉnh thể nghệ thuật. Nó góp phần
chi phối sự độc đáo của tác phẩm. Do thế giới quan, lí tưởng thẩm mỹ và cá tính sáng tạo
khác nhau mà mỗi nhà văn có cách lựa chọn thể hiện nhân vật riêng. Nếu các nhà văn
trong Tự lực văn đoàn quan niệm: con người lí tưởng là con người ái tình, con người ảo
vọng thì các nhà văn hiện thực quan tâm đến con người lao động của đời thường. Nếu

3


văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 con người được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ
sử thi thì sau 1975 con người trong văn học thường gắn với các quan hệ đời thường.
Cùng trong dòng văn học sau 1975 ta vẫn nhận thấy có sự khác biệt giữa các nhà văn.
Nếu truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu mang đến cho người đọc một quan niệm mới
mẻ về con người và cuộc đời mà nền tảng là chiều sâu triết học và nhân bản; truyện ngắn
của Ma Văn Kháng đưa ra quan niệm đạo đức về con người: con người vĩnh hằng bất
biến, con người bản năng, con người của đà văng quán tính, con người hành động và lựa
chọn thì truyện ngắn của Nguyễn Khải luôn tạo ra những nhân vật có bộ mặt tinh thần
hoàn toàn riêng biệt, những tình huống có chiều sâu triết học và tâm lí để hướng tới cái
đẹp trong đời sống của con người.
Nhân vât trong các truyện ngắn của Nguyễn Khải trước năm 1975 chủ yếu được soi chiếu
trên bình diện giai cấp và cuộc sống tập thể. Sự khắc hoạ miêu tả nhân vật thường để làm
nổi bật một khía cạnh, một vấn đề nào đó đang đặt ra trong đời sống xã hội, chính trị của
đất nước. Tính vấn đề tồn tại như một yếu tố trước nhất có sức chi phối mọi suy nghĩ,
quan sát của nhà văn và đặc biệt trong khi xây dựng nhân vật Nguyễn Khải thường rất
tỉnh táo khi dẫn dắt nhân vật theo một đường hướng nhất định, luôn chỉ cho họ phải làm
gì để phục vụ cho mục đích, tư tưởng mà tác giả đề xuất.
Sau năm 1975, văn học sau những bước chuyển thăng trầm mà dữ dội đang trở nên lắng
đọng hơn và cũng đích thực hơn. Cùng với sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật, Nguyễn
Khải có một quan niệm đầy đủ hơn về con người. Con người trong sáng tác của ông được
đặt trong nhiều chiều, được định vị với những giá trị có tính căn bản, bền vững, phổ quát
chứ không chỉ là tiên tiến hay lạc hậu, đề cao hay phê phán một chiều. Đề cập đến cuộc
đời, số phận con người trong đời thường, ngòi bút của Nguyễn Khải đã đạt tới chiều sâu
nhân bản đáng trân trọng. Với cái nhìn hiện thực toàn vẹn hơn, Nguyễn Khải thực sự đã
trở thành nhà văn của đời thường quan tâm nhiều đến những vấn đề có tính chất triết lí
nhân sinh hơn là đưa ra những vấn đề có tính chất chính luận. Viết về con người “hôm
nay”, Nguyễn Khải chú ý đến khát vọng tinh thần và những giá trị đạo đức, nhân cách
bền vững trước mọi tác động của hoàn cảnh. Vì thế những nhân vật mà nhà văn tâm đắc
thường có trí tuệ, có cốt cách, biết lựa chọn cho mình một lối sống, một cách sống mà họ
tin là đúng.
Quan niệm con người gắn liền với thời thế, nhà văn quan tâm đến khả năng thích ứng với
thời cuộc, thích ứng nhưng không phải là cơ hội vì mỗi thời con người cần có sự lựa chọn
phù hợp với chuẩn thời đại, nhưng mặt khác vẫn không đánh mất mình. Với thế giới nhân
vật của mình, Nguyễn Khải dần đi đến việc tìm những giá trị tương ứng với con người,
với thời đại những giá trị nhân bản bền vững đó là cái thiện và những giá trị văn hoá tinh
thần của đời sống. Coi con người là trung tâm của sự khám phá và nghiền ngẫm hiện
4


thực. Nhà văn đặt vấn đề qua nhân vật, lấy nhân vật làm nơi thể hiện các quan niệm nghệ
thuật và ý đồ của mình. Khác với nhân vật tính cách, là sản phẩm của sự quan sát, tuởng
tượng. Nhân vật tư tưởng là sản phẩm của cảm hứng nghiên cứu. Vì thế, Nguyễn Khải ít
chú ý khắc hoạ ngoại hình nhân vật, mà khi miêu tả diện mạo nhân vật nhà văn chỉ tập
trung vào miêu tả những chi tiết ngoại hình tiêu biểu, gợi được nét tính cách và dự báo
được số phận của nhân vật. Nhà văn ít chú ý tới việc khắc hoạ tính cách nhân vật qua
hành động mà tập trung sử dụng ngôn ngữ đối thoại như một phương tiện quan trọng giúp
cho nhân vật tự biểu hiện mình một cách rõ nhất. Để có thể nghiên cứu hiện thực một
cách khách quan, nhà văn đã trao cho nhân vật của mình quyền bình đẳng về tư tưởng.
Ông hay đưa cái tôi cá nhân của mình hoặc của những người gần gũi với mình thành
nhân vật trong tác phẩm để nói đến những vấn đề của ngày hôm nay, những vấn đề thế sự
và để khai thác một cách triệt để tính cách số phận nhân vật.
Như vậy sức sống và sự lôi cuốn của kiểu nhân vật mới là một thành công của Nguyễn
Khải trong nghệ thuật viết truyện ngắn sau 1975, thể hiện những chuyển biến về chất
trong quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn. Tuy không ở vào vị trí “người mở
đường tài năng và tinh anh” như Nguyễn Minh Châu nhưng với những đóng góp của
mình, Nguyễn Khải xứng đáng là một trong những nhà văn tiên phong của văn học Việt
Nam thời kì đổi mới. Đến với truyện ngắn “Một người Hà Nội” người đọc sẽ thấy được
cái mới trong cách nhìn nhận đánh giá về vẻ đẹp con người trong sáng tác của Nguyễn
Khải.
3. Vấn đề của truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn khải:
3.1. Về thể loại:
Một người Hà Nội là truyện ngắn giàu tính triết luận, được sáng tác trong bối cảnh đổi
mới văn học sau 1986. Triết luận vốn là một nét trội trong phong cách văn xuôi Nguyễn
Khải thuộc giai đoạn sáng tác từ cuối những năm bảy mươi (của thế kỉ XX) trở đi, gắn
liền với việc soi xét đối tượng dưới các góc độ văn hoá, lịch sử và triết học. Trước đó,
sáng tác của Nguyễn Khải đầy ắp cảm hứng chính luận, chuyên đề cập các vấn đề thời sự,
chính trị của đất nước và thường lấy tiêu chí chính trị, đạo đức cách mạng để bàn luận,
đánh giá sự kiện, con người. Rõ ràng, sự chuyển đổi từ cảm hứng chính luận sang cảm
hứng triết luận đánh dấu một bước phát triển đáng ghi nhận trong tư duy nghệ thuật của
nhà văn. Hứng thú quan sát, thể hiện những vấn đề thế sự, đặc biệt là vấn đề khẳng định
bản lĩnh cá nhân của con người giữa một hoàn cảnh sống mà cái "tôi" chưa được nhìn
nhận công bằng, thoả đáng, tất cả đều liên quan tới việc chuyển đổi cảm hứng nói trên.
Các sáng tác lúc này vẫn không thiếu tính thời sự, nhưng giá trị của chúng đã vượt ra
khỏi cái khung thời sự nhất thời để gây ám ảnh lâu dài. Việc nhà văn có ý thức tô đậm
kinh nghiệm, thể nghiệm của cá nhân mình trong việc trình bày mọi vấn đề đã làm cho
5


những trang viết của ông thấm đượm tinh thần đối thoại dân chủ, thoát li dần kiểu áp đặt
chân lí một chiều trước đây.
Với một sáng tác mang tính triết luận, việc xếp đặt các nhân vật được miêu tả trong đó
vào các phạm trù tốt - xấu, chính diện - phản diện quen thuộc một thời đã trở nên bất cập.
Sự đánh giá về nhân vật có thể rất đa chiều. Lời khen hay lời chê của tác giả (thể hiện qua
nhân vật kể chuyện xưng "tôi") lúc này cũng chỉ có giá trị tham khảo thuần tuý, không hề
mang tính chất "chân lí", không phải là kết luận tối hậu. Trong Một người Hà Nội, "tôi"
nhìn nhận bà Hiền là "một hạt bụi vàng", đó là quyền của "tôi". Người khác có thể có
cách nhìn nhận khác, tất nhiên, không thể không tham khảo cách nhìn có tính chất gợi ý
mà "tôi" đưa ra. Nếu không hiểu nguyên tắc đánh giá này, lại lấy cách xây dựng nhân vật
trong truyện của Nguyễn Khải ở giai đoạn sáng tác trước làm hệ quy chiếu, độc giả rất dễ
có những phán quyết vô lí về tác giả trên các vấn đề quan điểm, lập trường chính trị, hoặc
ngược lại, ra sức tán dương nhân vật bà Hiền, gán cho bà những phẩm chất tốt đẹp (theo
mong muốn của chính độc giả) mà bản thân nhân vật "tôi" không nói tới trong câu
chuyện của mình.
3.2. Tiếp cận văn bản:
Nếu căn cứ vào những gì đã được thể hiện trong truyện ngắn, độc giả có thể đặt lại tên
tác phẩm Một người Hà Nội thành: Nghĩ về một người Hà Nội. Dĩ nhiên, đây là đặt cho
mình, nhằm mục đích lĩnh hội đúng tinh thần tác phẩm, cảm nhận đúng ý nghĩa của
"thành phần" suy nghĩ trong kết cấu truyện ngắn này. Quả là chuyện kể không có gì thật
đặc biệt, nhưng suy nghĩ, đánh giá của nhân vật "tôi" thì lại chứa đựng nhiều điều thú vị.
Đặc trưng truyện ngắn Nguyễn Khải vốn là thế: tỉ trọng những lời phân tích, bình luận
bao giờ cũng lớn, nhiều khi lấn át cả sự miêu tả, trần thuật khách quan về đối tượng.
Viết Một người Hà Nội, điều cơ bản mà nhà văn hướng đến chưa hẳn là ca ngợi một con
người, cho dù người đó đáng ca ngợi bao nhiêu đi chăng nữa. Cảm hứng chính của ông là
khám phá bản sắc văn hoá Hà Nội - cái quyết định vận mệnh và vị thế của Hà Nội trong
lịch sử, cũng là cái làm nền tảng cho bước phát triển mới của nó trong tương lai. Không
phải ngẫu nhiên mà khi ngắm hình ảnh bà Hiền "lau đánh cái bát bày thuỷ tiên", ông đã
có một ghi chú tưởng như là bâng quơ : "nếu là một thiếu nữ thì phải hơn", rồi cảm thán :
"thấy Tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội". Cũng hoàn
toàn hợp lô gích việc nhà văn đã kết lại truyện ngắn như thế này: "Một người như cô phải
chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ.
Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho
đất kinh kì chói sáng những ánh vàng !". Lô gích thì lô gích nhưng vẫn lạ. Ai đã từng
quen với giọng văn tinh sắc, tỉnh táo, thậm chí là "lọc lõi" của Nguyễn Khải, hẳn phải
ngỡ ngàng trước cái giọng "bốc" lên khá đột ngột mà nhà văn biểu lộ ở đây. Một chút
6


giỡn đùa với chính văn mình hay niềm xúc động tận đáy tâm can cứ bật ra không nén
được? Trả lời quyết hẳn theo bề nào cũng khó, nhưng điều có thể khẳng định chắc chắn
là: Nguyễn Khải thật sự yêu quý Hà Nội, có những suy nghĩ thâm trầm về "đất kinh kì"
và tha thiết được thấy một Hà Nội hiện đại, đẹp, sang, xứng với bề dày văn hoá truyền
thống của nó.
Hình tượng bà Hiền được xây dựng lên như để chứng minh có một tinh thần Hà Nội, một
linh hồn Hà Nội thực sự đã và đang tồn tại, để lại dấu ấn đậm nét trong những người con
của nó. Bà Hiền không phải là một "tấm gương" kiểu mẫu hiểu theo nghĩa thông thường
để các tổ chức xã hội nêu lên cho mọi người học tập, theo cách người ta vẫn thường làm
nhằm mục đích tuyên truyền, vận động. Bà chỉ là người dân bình thường, dù xuất thân là
con nhà "tư sản", dù đã có một thời "vang bóng". Tác giả và người kể chuyện hiểu vậy
nên chọn cách giới thiệu, chuyện trò về bà thật dung dị. Bà là một người bà con xa, người
dì họ của "tôi", thế thôi! Mọi việc bà làm đều tự nhiên, như cuộc sống hàng ngày, chẳng
gây chấn động gì tới xung quanh cả. Ấy vậy, ai dám bảo chất Hà Nội ở bà không đậm
đặc? Vả lại, muốn khám phá bề sâu văn hoá của một vùng đất, tuyệt đối không được bỏ
qua những điều tưởng là nhỏ nhặt. Nhiều khi chính chúng lại cung cấp cứ liệu thuyết
minh về vấn đề có sức nặng hơn hẳn những chuyện to tát. Dõi theo mạch kể của nhân vật
"tôi", người đọc thấy quả không có gì đáng gọi là "sự kiện" việc bà Hiền lấy chồng, quản
lí gia đình, sinh con, dạy con, cho con đi bộ đội, tiếp khách, bài trí nơi ở, duy trì nếp sinh
hoạt riêng,... Một câu bình phẩm của "tôi", rằng, việc bà lấy ai không lấy, lại lấy một ông
giáo cấp tiểu học hiền lành chăm chỉ làm chồng đã "khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc",
thực chất chỉ là một cách nói phóng đại. Nếu quả người ta có kinh ngạc, thì đó là sự kinh
ngạc trước một chuyện không ngờ lại xảy ra bình thường quá như thế. Tuy vậy, nếu bình
tâm suy xét, ta lại thấy trong tất cả những cái bình thường kia lại chứa đựng một triết lí
sống đáng nể, vừa thể hiện bản lĩnh cá nhân một con người, vừa bộc lộ lối sống đặc trưng
của đất kinh kì. Bà Hiền biết rõ mình là ai (câu tuyên bố "thẳng thừng" của bà đối với
nhân vật "tôi" đã chứng thực điều đó "Một đời tao chưa từng bị ai cám dỗ, kể cả chế độ"),
và cũng tương tự thế, bà hiểu sâu xa mình là người Hà Nội. Sau năm 1954, gia đình bà
chẳng di cư vào Nam vì "không thể rời xa Hà Nội". Đây không đơn giản chỉ là một biểu
hiện của tình yêu đối với nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, mà còn là một biểu hiện của
niềm tin vào thế tồn tại bền vững của mảnh đất đã trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử,
có văn hoá riêng đã thấm vào máu thịt cư dân nơi này. Bà Hiền có thể không nghĩ một
cách rành rọt như vậy, nhưng tác giả và nhân vật "tôi" - một sự hoá thân của ông - thì ý
thức về điều này quá sâu sắc. Nhân vật "tôi" cũng khó lòng quên lời bà Hiền răn lũ con
của anh : "Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không
được sống tuỳ tiện, buông tuồng". Hoá ra vậy, làm người Hà Nội vừa là một vinh dự, vừa
là một trách nhiệm. Bà Hiền hẳn là luôn đau đáu về vấn đề này, chẳng thế mà dù đã ngoài
7


bảy mươi, bà vẫn để lộ tâm sự đó của mình khi hỏi người cháu ("tôi") vừa mới từ thành
phố Hồ Chí Minh ra thăm "Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá thế nào, dân tình thế nào?"
Ngỡ đó chỉ là một câu hỏi xã giao thông thường mà thực chất lại gửi gắm bao nỗi niềm,
bao phấp phỏng và hi vọng về tương lai của Hà Nội.
4. Thiết kế bài giảng
Đọc văn
Tiết: 90
MỘT NGƯỜI HÀ NỘI
(Nguyễn Khải)
I. Yêu cầu cần đạt:
- Về kiến thức:
+ Giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp và chiều sâu văn hoá của người Hà Nội qua hình
tượng nhân vật bà Hiền.
+ HS nắm được một số nét cơ bản trong nghệ thuật văn xuôi của Nguyễn Khải: cách kể
chuyện, giọng văn, chất triết lí…
- Về kĩ năng: rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản văn học sau năm 1975.
- Về tư tưởng: Bồi dưỡng tình cảm yêu mến các giá trị văn hoá và tình yêu quê hương đất
nước.
II. Phương tiện thực hiện:
- Sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng, tuyển tập truyện ngắn Nguyễn
Khải.
III. Phương thức tiến hành:
- Giáo viên tổ chức giờ học theo hướng kết hợp các phương pháp đàm thoại, phát vấn,
nêu vấn đề, diễn giảng…
IV. Tiến trình lên lớp:
- Ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số.
- Kiểm tra bài cũ: Nhân vật chị Hoài trong tác phẩm “Mùa lá rụng trong vườ” để lại cho
anh / chị ấn tượng gì? Vì sao mọi người trong gia đình, với những tính cách khác nhau,
nhưng tất cả đều yêu quý chị Hoài?

8


- Gợi ý: + Ngoại hình: trạc 50 tuổi, người thon gọn trong chiếc áo bông chần hạt
lựu, khuôn mặt rộng, có cặp mắt hai mí đằm thắm và cái miệng tươi.
+ Vẻ đẹp tâm hồn:
=> Chị Hoài là người phụ nữ nông thôn đẹp người đẹp nết, sống tình nghĩa, thuỷ chung.
Là mẫu người phụ nữ vẫn giữ được nét đẹp truyền thống quý giá trước những “cơn địa
chấn” của xã hội.
- Bài mới:
Mỗi con người khi sinh ra đều có một nơi để thương, để nhớ, để trở về. Đó là
mảnh đất “chôn nhau, cắt rốn”. Với Nguyễn Khải đó là Hà Nội, dù đã rời xa quê hương
nhưng vẻ đẹp của Hà Nội luôn hằn sâu trong trái tim ông. “Một người Hà Nội” chính là
nơi để Nguyễn Khải trả lòng mình với mọi người về một Hà Nội đằm thắm, yêu thương,
giàu giá trị văn hoá.
Hoạt động của GV&HS

Yêu cầu cần đạt

Hoạt động 1: Tìm hiểu I. Tìm hiểu chung
những nét chính về tác giả 1. Tác giả:
và tác phẩm.
a. Cuộc đời:
- Nguyễn Khải (1930-2008) tên khai sinh là
Nguyễn Mạnh Khải, quê ở Hà Nội .
GV: Căn cứ vào phần tiểu
dẫn và các kênh thông tin
khác nhau hãy trình bày
những nét chính về tác giả?

- Xuất thân trong một gia đình công chức.
Thủa nhỏ sống ở nhiều nơi, sau chuyển vào
sinh sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí
Minh.
b. Sự nghiệp:

- Nguyễn Khải viết văn từ năm 1950, bắt đầu
HS: đọc phần Tiểu dẫn và được chú ý từ tiểu thuyết Xung đột. Ông tự
xác định các vấn đề trọng chia sáng tác của mình thành hai giai đoạn:
tâm.
+ Trước cách mạng, sáng tác của Nguyễn
Khải chủ yếu quan tâm đến những vấn đề
mang tính thời sự chính trị, con người được
đánh giá chủ yếu qua tiêu chí đạo đức và tiêu

9


chí chính trị. Văn ông lúc này dồi dào nhiệt
huyết chính luận.
Mùa lạc(1960), Một chặng đường (1962),
Tầm nhìn xa (1963), Chủ tịch huyện (1972)
GV gợi dẫn: chú ý các giai Ra đảo (1970), Chiến sĩ (1973)....
đoạn sáng tác, tác phẩm
+ Sau năm 1975, sáng tác của ông dành sự
chính.
quan tâm nhiều hơn đến “cái đời thường”.
Tiêu chí đánh giá con người được mở rộng
thêm với các góc độ văn hoá, lịch sử và triết
học. Hứng thú chính luận chuyển dần thành
triết luận. Cha và con, và .... (1970), Gặp gỡ
cuối năm (1982)...
=>Năm 2000, Nguyễn Khải được tặng giải
thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
GV: Nêu vài nét về tác 2. Tác phẩm:
phẩm?
a. Xuất xứ:
- Tác phẩm được in lần đầu trong tập “Một
HS: Xác định hoàn cảnh ra người Hà Nội” (NXB Hà Nội 1990); In lần
hai trong tập truyện “Hà Nội trong mắt tôi”
đời của tác phẩm.
(NXB Hà Nội 1995).
=> Một người Hà Nội đã thể hiện những
khám phá, phát hiện của Nguyễn Khải về vẻ
đẹp trong chiều sâu tâm hồn, tính cách con
người Việt Nam qua bao biến động thăng
trầm của đất nước.

GV: Hãy trình bày suy nghĩ
của mình về nhan đề tác b. Nhan đề tác phẩm:
phẩm?
- Nhan đề của truyện thể hiện khá rõ chủ đề
HS: Thảo luận và trình bày. tư tưởng của tác phẩm. Một người Hà Nội là
sự trình bày cách nhìn quan niệm về người
Hà Nội của nhà văn. Nó giúp người đọc hiểu
GV: Hãy xác định hướng được ý đồ nghệ thuật của nhà văn.
tiếp cận tác phẩm
c. Hướng tiếp cận tác phẩm:
HS: Đọc thảo luận và xác
Căn cứ vào hình tượng các nhận vật để làm
10


định

nổi bật giá trị của tác phẩm

Hoạt động 2: Hướng dẫn II. Đọc - hiểu văn bản:
đọc - hiểu văn bản
1. Hình tượng nhân vật cô Hiền:
a. Tính cách, phẩm chất:
1. GV tổ chức cho HS tìm - Nhân vật trung tâm của truyện ngắn là cô
hiểu các giá trị của văn bản. Hiền cũng như những người Hà Nội khác, cô
đã cùng Hà Nội, cùng đất nước trải qua nhiều
biến động thăng trầm nhưng vẫn giữ được cái
cốt cách người Hà Nội. Cô sống thẳng thắn,
GV: Vẻ đẹp phẩm chất chân thành, không giấu giếm quan điểm, thái
nhân vật cô Hiền được khác độ của mình với mọi hiện tượng xung quanh.
họa như thế nào trong tác
- Suy nghĩ và cách ứng xử của cô trong từng
phẩm?
thời đoạn của đất nước.
+ Hoà bình lập lại ở miền Bắc, cô Hiền nói về
niềm vui và cả những cái có phần máy móc,
cực đoan của cuộc sống xung quanh: “vui hơi
HS: suy nghĩ, thảo luận, nhiều, nói cũng hơi nhiều”, theo cô “chính
phát biểu nhận xét, bổ sung phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá” ....
Cô tính toán mọi việc trước sau rất khôn khéo
để hoàn chỉnh các vấn đề.
và “đã tính là làm, đã làm là không để ý đến
những đàm tiếu của thiên hạ”...
+ Miền Bắc bước vào thời kì đương đầu với
chiến tranh phá của Mĩ. Cô Hiền dạy con
cách sống “biết tự trọng, biết xấu hổ”, biết
sống đúng với bản chất người Hà Nội. Đó
cũng là lí do vì sao cô sẵn sàng cho con trai ra
GV: Định hướng cho HS trận: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao
tập trung vào các phương không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của
diện: Biến cố xã hội, hoàn bạn. Nó giám đi cũng là biết tự trọng”...
cảnh gia đình.... để làm nổi + Sau chiến thắng mùa xuân 1975, đất nước
bật vể đẹp nhân vật.
trong thời kì đổi mới, giữa không khí xô bồ
của thời kinh tế thị trường, cô Hiền vẫn là
“một người Hà Nội của hôm nay, thuần tuý
Hà Nội, không pha trộn”. Từ chuyện cây si cổ
11


thụ ở đền Ngọc Sơn, cô Hiền nói về niềm tin
vào cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
GV: Vì sao tác giả nhận b. Cô Hiền- "một hạt bụi vàng của Hà
định cô Hiền là “một hạt Nội":
bụi vàng” của Hà Nội?
- Nói đến hạt bụi, người ta nghĩ đến vật nhỏ
bé, tầm thường. Có điều là hạt bụi vàng thì dù
nhỏ bé nhưng có giá trị quí báu.
- Cô Hiền là một người Hà Nội bình thường
nhưng ở cô thấm sâu những cái tinh hoa trong
HS: Thảo luận, trảo đổi bản chất người Hà Nội. Bao nhiêu hạt bụi
trong nhóm và xác định.
vàng, bao nhiêu người như cô Hiền sẽ hợp lại
thành những “áng vàng” chói sáng. áng vàng
ấy là phẩm giá người Hà Nội, là cái truyền
thống cốt cách người Hà Nội.

GV mở rộng

=> Một so sánh độc đáo nằm trong mạch trữ
tình ngoại đề của người kể chuyện. Bản sắc
Hà Nội, văn hoá Hà Nội là chất vàng 10 là
mỏ vàng trầm tích được bồi đắp, tính tụ từ
biết bao hạt bụi vàng như là Hiền
2. Các nhân vật khác trong truyện:

2. GV tổ chức các nhóm
học tập, giao việc cho mỗi
nhóm tìm hiểu về một nhân
vật trong tác phẩm:
- Nhân vật “tôi”.
- Nhân vật Dũng- con trai
cô Hiền.
- Những thanh niên Hà Nội
và cả những người đã tạo
nên “nhận xét không mấy
vui vẻ" của nhân vật “tôi”

a. Nhân vật "tôi":
- Thấp thoáng sau những dòng chữ là hình
ảnh nhân vật “tôi” - đó là một người đã chứng
kiến và tham gia vào nhiều chặng đường lịch
sử của dân tộc. Trên những chặng đường ấy,
nhân vật tôi đã có những quan sát tinh tế, cảm
nhận nhạy bén, sắc sảo, đặc bịêt là về nhân
vật cô Hiền, về Hà Nội và người Hà Nội. Ẩn
sâu trong giọng điệu vừa vui đùa, khôi hài,
vừa khôn ngoan, trải đời là hình ảnh một con
người gắn bó thiết tha với vận mệnh đất
nước, trân trọng những giá trị văn hoá của
dân tộc. Nhân vật “tôi” mang hình bóng
Nguyễn Khải, là người kể chuyện, một sáng
12


về Hà Nội.

tạo nghệ thuật sắc nét đem đến cho tác phẩm
một điểm nhìn trần thuật chân thật khách
quan và đúng đắn, sâu sắc.

b. Nhân vật Dũng:
HS: Trình bày ngắn gọn
những suy nghĩ của mình - Anh đã sống đúng với những lời mẹ dạy về
về các nhân vật xuất hiện cách sống của người anh cùng với 660 thanh
niên ưu tú của Hà Nội lên đường hiến dâng
trong tác phẩm.
tuổi xuân của mình cho đất nước. Dũng, Tuất
và tất cả những chàng trai Hà Nội ấy đã góp
phần tô thắm thêm cốt cách tinh thần người
Hà Nội, phẩm giá cao đẹp của con người Việt
Nam.
c. Một vài nhân vật khác:
Bên cạnh sự thật về những người Hà Nội
có phẩm cách cao đẹp, còn có những người
tạo nên “nhận xét không mấy vui vẻ” của
GV: Xây dựng hệ thống nhân vật “tôi” về Hà Nội. Đó là “ông bạn trẻ
nhân vật “phụ”, theo em đạp xe như gió” đã làm xe người ta suýt đổ
lại còn phóng xe vượt qua rồi quay mặt lại
dụng ný nghệ thuật của tác
chửi “Tiên sư cái anh già”..., là những người
giả là gì?
mà nhân vật tôi quên đường phải hỏi thăm...
Đó là những “hạt sạn của Hà Nội”, làm mờ đi
nét đẹp tế nhị, thanh lịch của người Tràng
An. Cuộc sống của người Hà Nội nay cần
phải làm rất nhiều điểm để giữ gìn và phát
huy cái đẹp trong tính cách người Hà Nội.
HS: Tổng hợp và xác định.
3. Ý nghĩa của câu chuyện "cây si cổ thụ":
3. GV tổ chức cho HS thảo
luận về chuyện cây si cổ
thụ ở đền Ngọc Sơn bị bão
đánh bật rễ rồi lại hồi sinh.

- Hình ảnh ... nói lên qui luật bất diệt của sự
sống. Quy luật này được khẳng định bằng
niềm tin của con người thành phố đã kiên trì
cứu sống được cây si.

- Cây si cũng là một biểu tượng nghệ thuật,
HS: Suy nghĩ, thảo luận và một hình ảnh ẩn dụ về vẻ đẹp của Hà Nội: Hà
13


Nội có thể bị tàn phá, bị nhiễm bệnh nhưng
=> Chi tiết là một dụng ý vẫn là một người Hà Nội với truyền thống
nghệ thuật của Nguyễn văn hoá đã được nuôi dưỡng suốt trường kì
lịch sử, là cốt cách, tinh hoa, linh hồn đất
Khải.
nước.
trình bày.

4. Giọng điệu trần thuật và nghệ thuật xây
4. GV gợi ý để HS nhận xét dựng nhân vật:
về giọng điệu trần thuật và - Giọng điệu trần thuật:
nghệ thuật xây dựng nhân Một giọng điệu rất trải đời, vừa tự nhiên, dân
vật của Nguyễn Khải trong dã vừa trĩu nặng suy tư, vừa giàu chất khái
tác phẩm.
quát, triết lí, vừa đậm tính đa thanh. Cái tự
nhiên, dân dã tạo nên phong vị hài hước rất
HS: Thảo luận và trình bày. có duyên trong giọng kể của nhân vật “tôi”;
tính chất đa thanh thể hiện trong lời kể: nhiều
giọng (tự tin xen lẫn hoài nghi, tự hào xen lẫn
+ Về giọng điệu trần thuật tự trào... Giọng điệu trần thuật đã làm cho
truyện ngắn đậm đặc chất tự sự rất đời
thường mà hiện đại.
+Về nghệ thuật xây dựng
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
nhân vật.

+ Tạo tình huống gặp gỡ giữa nhân vật “tôi”
và các nhân vật khác.
+ Ngôn ngữ nhân vật góp phần khắc hoạ tính
cách (ngôn ngữ nhân vật “tôi” đậm vẻ suy tư,
chiêm nghiệm, lại pha chút hài hước, tự trào;
ngôn ngữ của cô Hiền ngắn gọn, rõ ràng, dứt
khoát ...).

Hoạt động 3: Tổ chức III. Tổng kết:
tổng kết
- Trong Một người Hà Nội, Nguyễn Khải đã
có những khám phá sâu sắc về bản chất của
nhân vật trên dòng lưu chuyển của hiện thực
lịch sử:
GV: Từ quá trình tìm hiểu
van bản em hãy đánh giá - Là một con người, bà Hiền luôn giữ gìn
những thành công nỗi bật phẩm giá người;Là một công dân, bà Hiền chỉ
14


của Nguyễn Khải trong tác làm những gì có lợi cho đất nước; Là một
phẩm Một người Hà Nội.
người Hà Nội, bà đã góp phần làm rạng rỡ
thêm cái cốt cách, cái truyền thống của một
Hà Nội anh hùng và hào hoa - tôn thêm vẻ
đẹp thanh lịch quyến rũ của “người Tràng
HS: Thảo luận và trình bày. An”.
=>Chất nhân văn sâu sắc của ngòi bút
Nguyễn Khải chính là ở đó.
GV: Khái quát lại vấn đề.

“Muốn hiểu con người thời đại với tất cả
những cái hay, cái dở của họ, nhất là muốn
hiểu cách nghĩ của họ, cuộc sống tinh thần
của họ, phải đọc Nguyễn Khải”. (Vương Trí
Nhàn )

Củng cố, dặn dò
GV: - Nhấn mạnh các đơn vị kiến thức cơ bản
- Hướng dẫn học sinh về học và soạn bài.
HS: - Về học bài và soạn bài mới.

III. KẾT LUẬN:
1. Hiệu quả của đề tài:
1.1. Với người dạy:
Thiết kế này rất thuận lợi cho giáo viên trong tổ chức cho học sinh thực hiện việc đọc
hiểu văn bản văn học. Ở thiết kế này giáo viên chỉ đóng vai trò tổ chức, tư vấn, làm trọng
tài cho học sinh học tập. Tiết học đáp ứng được yêu cầu của phương pháp dạy học tích
cực: lấy học sinh làm trung tâm.
1.2. Với người học:
Từ đọc hiểu tình huống truyện, học sinh dễ dàng chủ động chiếm lĩnh những giá trị cơ
bản về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm. Các câu hỏi, các vấn đề nêu ra
được học sinh nhận thức, trao đổi, và trả lời tương đối rành mạch và thấu đáo. Bên cạnh

15


việc nắm được giá trị thẩm mỹ của một tác phẩm văn chương, hướng thiết kế này giúp
rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu văn bản cho học sinh. Vì thế từ một tiết học, bài học của đề
tài có ảnh hưởng tốt cho việc học một kiểu bài đọc hiểu văn bản hiện đại. Đáng lưu ý
hơn, qua cách thiết kế bài học này các em biết vận dụng kiến thức đọc - hiểu và kĩ năng
luyện tập, tạo lập văn bản. Các bài tập, đề kiểm tra … được học sinh giải quyết rất thấu
đáo. Như vậy việc dạy kiến thức và phương pháp là một yêu cầu lớn của việc giảng dạy
môn Ngữ văn trong nhà trường. Qua thực hiện theo phương pháp này tôi và một số đồng
nghiệp thấy có hiệu quả cao hơn so với các phương pháp truyền thống.
2. Kết quả thực nghiệm:
Bằng thực tiễn giảng dạy ở lớp 12 tôi đã tiến hành thực nghiệm ở hai lớp cơ bản (12CA4
và 12CA5 với đối tượng học sinh tương đương), một theo phương pháp truyền thống,
một theo hướng đi sâu vào tìm hiểu các nhân vật rồi tổng hợp khái quát lên giá trị của tác
phẩm. Kết quả thông qua kiểm tra như sau:


số

Chất lượng

TT

Lớp

Phương pháp

1

12CA4 50

Dạy học theo phương
3%
pháp truyền thống

2

12CA5 50

Dạy học theo phương
14% 37% 46% 3%
pháp mới

Giỏi Khá TB

Yếu

Ghi
chú

26% 55% 16%

3. Một số kiến nghị, đề xuất:
Trong hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài, giáo viên cần phải xây dựng
một cách hợp lí để từ bài học này học sinh có thể vận dụng một cách sáng tạo vào việc
tìm hiểu các văn bản khác cùng thể loại trong chương trình.
Một điều mong mỏi của giáo viên là trong các tài liệu hướng dẫn giảng dạy của cấp trên
đề nghị bộ phận phụ trách nên lưu tâm tới các bài mẫu với tinh thần đổi mới để giáo viên
các trường (đặc biệt là giáo viên trường miền núi) được tham khảo, học hỏi.
Trên đây là những tìm tòi, trăn trở của bản thân để thực hiện đề tài. Tuy thời gian sử dụng
chưa lâu nhưng với phương pháp này tôi đã thu được những kết quả khá tốt. Các em học

16


sinh được rèn luyện kĩ năng đọc hiểu, khắc phục được tình trạng học tác phẩm chủ yếu là
mô tả và tái hiện. Học sinh biết cách vân dụng kiến thức đã lĩnh hội được vào làm bài
văn nghị luận.
Trong việc thực hiện đề tài do tầm bao quát vấn đề và năng lực còn hạn chế nên khó
tránh khỏi những thiếu sót. Với tinh thần cầu thị và học hỏi tôi mong các đồng nghiệp,
các thầy cô giáo trong Hội đồng khoa học có những góp ý xác đáng để đề tài của tôi được
hoàn thiện. Góp thêm một cách tiếp cận những tác phẩm văn học sau năm 1975.
Xin trân trọng cảm ơn!

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×