Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN sử dụng phương pháp dạy học vấn đáp, đàm thoại để tạo bầu không khí văn chương trong giờ dạy – học văn

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC VẤN ĐÁP, ĐÀM THOẠI
ĐỂ TẠO BẦU KHÔNG KHÍ VĂN CHƢƠNG TRONG GIỜ DẠY –
HỌC VĂN"

1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài
1.1. Lưu Hiệp trong “Văn tâm điêu long” đã từng nói: “Tri âm thực khó thay. Âm đã khó
tri mà người tri cũng khó gặp, họ hoàn gặp được nghìn năm có một”. Điều ấy có nghĩa là:
Người sáng tác nào, dù tâm hồn có bay bổng đến đâu nhưng khi sáng tác cũng muốn tìm
đến những bạn đọc tri âm, tri kỉ, những người muốn cùng tác giả đi đến cùng những miền
sâu kín nhất của cuộc đời, của trái tim. Bởi vì: Văn chương bao giờ cũng là sản phẩm của
một tâm hồn, một tấc lòng nghệ sĩ rung động trước cuộc đời.
Và bạn đọc cũng vậy, đọc văn chương họ cũng muốn tìm nơi để gửi gắm tấc lòng,
để thể nghiệm, nếm trải. Song không phải bao giờ tác giả và bạn đọc cũng gặp nhau trong
văn bản. Muốn bạn đọc và tác giả cùng gặp nhau trong văn bản, phải tùy thuộc vào nhiều

yếu tố: trình độ văn hóa, vốn sống, trình độ nhận thức, thẩm mĩ… Để làm được điều này,
nhà trường chính là môi trường văn hóa thuận lợi nhất. Ở đó, những tác giả nào mà tác
phẩm của họ được chọn vào chương trình sách giáo khoa để dạy và học, thì họ sẽ tìm
được lớp bạn đọc lí tưởng (giáo viên văn và học sinh) .

2


1.2. Vì vậy, nhiệm vụ vô cùng quan trọng của người giáo viên dạy văn trong trường phổ
thông là phải hướng dẫn học sinh đi khám phá cái đẹp đang tìm ẩn đằng sau câu chữ.
1.3. Năm học 2006 -2007, Bộ giáo dục và Đào Tạo đã quyết định thực đổi chương trình
sách giáo khoa mới với mục tiêu hàng đầu là nâng cao tính độc lập, sáng tạo của học
sinh, coi học sinh là chủ thể của quá trình dạy học. Trong chương trình giáo dục phổ
thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ
trưởng Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động
sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều
kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sính phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn
luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo đó, mỗi
thầy cô giáo khi đứng trên bục giảng luôn sát sao với từng động thái của học sinh, trăn trở
với từng hoạt động trong mỗi giờ dạy – học. Trong đó, việc tạo mối quan hệ bình đẳng
giữ thầy – trò để tạo bầu không khí văn chương cho giờ dạy – học văn là một công việc
vô cùng quan trọng.
1.4. Có nhiều phương pháp dạy học tích cực giúp người giáo viên và học sinh trên hành
trình khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn chương,trong đó: phương pháp dạy học vấn đáp,
đàm thoại hay nói một cách khác: xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm từng bước tạo ra bầu

3


không khí văn chương trong giờ học văn là vô cùng quan trọng, nhằm thúc đẩy quá trình
tiếp nhận tác phẩm văn học ở mỗi học sinh. Phương pháp dạy học tích cực trên không chỉ
là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.
Với những lí do nêu trên, tôi đã chọn đề tài: “Sử dụng phương pháp dạy học vấn
đáp, đàm thoại để tạo bầu không khí văn chương trong giờ dạy – học văn”

II. Mục đích của đề tài:
Thực hiện đề tài “Sử dụng phương pháp dạy học vấn đáp, đàm thoại để tạo bầu không
khí văn chương trong giờ dạy – học văn”, tôi hướng tới mục đích:
- Đưa ra một phương pháp học tích cực góp phần phát triển năng lực tự khám phá vẻ đẹp

của tác phẩm văn chương.
- Với hình thức đàm thoại, vấn đáp qua hệ thống câu hỏi có vấn đề, góp phần tạo sự bùng
nổ kiến thức văn chương, tạo bầu không khí văn chương cho giờ dạy – học văn.
III. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu:
1. Những vấn đề chung về đổi mới Giáo dục THPT môn Ngữ Văn ( Nhà xuất bản Giáo
dục 2007 ).
2. Tài liệu bồi dưỡng Giáo viên môn Ngữ văn ( Nhà xuất bản Giáo dục 2007 ).

4


3. Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường THPT ( Nguyễn Thị Thanh Hương
– Nhà xuất bản Giáo dục 1998 ).

B – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận của vấn đề
1.1 Theo quan điểm truyền thống, khi nói đến nhà trường, người ta chỉ chú trọng đến vai
trò của người thầy. Thầy giáo là tất cả, là nguồn kiến thức. Do vậy người Giáo viên
thường che lấp tài liệu học tập, người học sinh trở thành đối tượng, thành khách thể của
quá trình nhận thức, thành đối tượng, thành “bình chứa” để giáo viên rót kiến thức. Vì
thế, tài liệu học tập dường như không được chú ý. Theo quan niệm này thì phương pháp
dạy học theo kiểu thông tin – tái hiện và diễn giải là phương pháp chủ đạo. Trên lớp,
Thầy trở thành người diễn thuyết, người thuyết giảng. Và như thê, người học trò được
đào tạo trở nên ít sáng tạo, trở nên thụ động trong công việc bởi từ trong nhà trường các
em đã có thói quen học vẹt, học theo điệu sáo.
1.2 Trong những năm gần đây, do yêu cầu mới mà xã hội đặt ra cho nhà trường,
buộc những người làm công tác nghiên cứu lí luận dạy – học phải suy nghĩ, tìm tòi những
con đường, cách thức đổi mới phương pháp dạy – học, buộc người Giáo viên phải thay
đổi cách dạy. Trong đổi mới phương pháp dạy – học đó, người Giáo viên phải coi học

5


sinh là trung tâm. Và phương pháp dạy học vấn đáp, đàm thoại là phương pháp tối ưu để
phát huy vai trò của học sinh trong giờ văn. Vì có phát huy được vai trò tích cực của học
sinh thì mới tạo được bầu không khí văn chương sôi nổi trong giờ dạy – học văn.
1.3 Vấn đáp, đàm thoại là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi để học
sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả Giáo viên, qua đó Học sinh lĩnh hội
được nội dung bài học.
Mục đích của phương pháp này là nâng cao chất lượng của giờ dạy – học bằng cách
tăng cường hình thức hỏi đáp, đàm thoại giữa Giáo viên và Học sinh, rèn cho học sinh
bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể. Muốn thực hiện điều đó, đòi
hỏi Giáo viên phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp
dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò, chức năng của từng câu hỏi, mục đích hỏi, các
yếu tố kết nối các câu hỏi, thứ tự hỏi. Giáo viên cũng cần dự kiến các phương án trả lời
của Học sinh để có thể chủ động thay đổi hình thức, cách thức, mức độ hỏi, có thể dẫn
dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu, nhàm chán, nặng nề, bế tắc, tạo hứng thú học tập
của học sinh và tăng hấp dẫn cho giờ học.
1.4 Cái khó đối với người giáo viên dạy văn là làm sao trong giờ học có thể tạo ra bầu
không khí văn chương. Sẽ tẻ nhạt nếu giờ học văn chỉ là giờ truyền đạt kiến thức đơn
thuần: thầy nói, trò ghi, không khác gì giờ học chính trị, lịch sử, đạo đức… Nhưng như

6


thế nào là bầu không khí văn chương ? Làm thế nào để tạo ra bầu không khí văn chương
? Có thể giờ văn nào cũng tạo được bầu không khí văn chương.
Bầu không khí văn chương là bầu không khí trong đó Giáo viên và Học sinh cùng
bình đẳng, cùng thảo luận về một vấn đề, một hiện tượng văn học hay một nhân vật nào
đó trong một tác phẩm cụ thể. Trong quá trình thảo luận, thầy – trò không chỉ khẳng định
xuông những kết luận quen thuộc mà đẩy suy luận theo một hướng mới, biến nó thành
một cuộc tìm kiếm chân lí. Trong bầu không khí đó, học sinh hoặc cố gắng tự khẳng định
những suy nghĩ có tính chất phát hiện, độc đáo và phù hợp với nội dung bài học, hoặc có
thể hình thành những cảm xúc mới, đạt tới mức trí tuệ và thay đổi cách nghĩ cũ.
II. Thực trạng của vấn đề
2.1 Một nhược điểm cũng là khuyết điểm khá nghiêm trọng kéo dài và phổ biến trong
giảng dạy văn học hiện nay là lối dạy văn theo thuyết trình tràn lan, dàn trải những điều
giáo viên cảm thụ, suy nghĩ. Học sinh chỉ ngồi nghe một cách thụ động, ghi chép rồi học
thuộc lòng. Lối “sáo”, hình thức ấy thực tế đến nay vẫn còn tồn tại. Những nhược điểm
của kiểu tư duy máy móc, chủ nghĩa sơ lược, những khái niệm sai về phản ánh, về nội
dung tác phẩm, về cơ chế hoạt động của cảm thụ nghệ thuật đã dẫn tới những lối dạy
nông cạn, liên hệ máy móc, gò bó, thô thiển.

7


2.2 Trong những năm trở lại đây, theo xu thế của xã hội, đại bộ phận học sinh không học
khối C, chỉ chạy theo những môn khoa học tự nhiên để sau này dễ chọn ngành, trường,
công ăn việc làm. Vì vậy, học sinh trong trường Phổ thông gần như không chú ý học môn
Văn, chỉ coi môn Văn như là một môn điều kiện.
Từ những thực trạng trên, khiến cho học sinh chán những giờ Văn dẫn đến những
giờ dạy – học Văn tẻ nhạt, nhàm chán, trôi qua một cách vô vị. Từ chỗ môn Văn là một
môn nghệ thuật, hướng học sinh tới “chân, thiện, mĩ”, đã trở thành một môn học bị coi
nhẹ trong nhà trường. Đây là những lí do khiến cho giờ dạy học Văn thực sự mất chất
văn, không còn bầu không khí văn chương như thưở xưa nữa.
Để có một giờ dạy – học Văn tốt, người Giáo viên Văn ngày nay cần phải luôn luôn ý
thức được vai trò, trách nhiệm và đặc thù bộ môn. Luôn luôn xây dựng được một kế
hoạch day – học đúng đắn, trong đó phương pháp “Sử dụng phương pháp dạy học vấn
đáp, đàm thoại để tạo bầu không khí văn chương trong giờ dạy – học văn” là vô cùng
quan trọng.
III. Giải pháp và tổ chức thực hiện:
3.1. Giải pháp
- Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực trạng của vấn đề về dạy – học Văn trong nhà trường
như đã trình bày ở trên. Bản thân tôi đã mạnh dạn áp dụng phương pháp “Sử dụng

8


phương pháp dạy học vấn đáp, đàm thoại để tạo bầu không khí văn chương trong giờ
dạy – học văn” vào các giờ Văn ở trường THPT Hoằng Hóa 4. Để có được những giờ
dạy – học Văn có hiệu quả, tôi thường phải đầu tư thời gian, công sức cho việc tìm hiểu,
xây dựng hệ thống câu hỏi đàm thoại.
- Thường tôi phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi cho một bài giảng trước đó cả một tuần
(thông qua việc: đọc sách, thu thập tư liệu trên mạng, Internet, tiếp thu từ đồng nghiệp,
kết hợp với tư duy khoa học của bản thân).
- Về phía học sinh: để hướng dẫn học sinh chuẩn bị soạn bài ở nhà, ngoài hệ thống câu
hỏi trong Sách giáo khoa, tôi thường hướng dẫn các em đọc tài liệu tham khảo mà trong
các tài liệu đó có đề cập đến nội dung các câu hỏi tôi sẽ sử dụng trong bài giảng của
mình. Tôi tuyệt đối không tung hệ thống câu hỏi trước để học sinh chuẩn bị, vì như thế
vô hình trung sẽ tạo sự đơn điệu của giờ học khi các em đã chuẩn bị sẵn, đứng lên đọc
như một cái máy. Và như thế sẽ không tạo được những mâu thuẫn giữa các ý kiến của
học sinh trong lớp, sự bùng nổ không khí văn chương sẽ bị tiêu diệt.
3.2. Tổ chức thực hiện:
a. Những hướng thiết lập bầu không khí văn chương qua việc xây dựng hệ thống câu hỏi:
* Xây dựng những câu hỏi chủ đạo:

9


- Câu hỏi loại này là sự mở đầu cũng là động lực để hình thành bầu không khí văn
chương. Yêu cầu đặt ra ở đây là: Câu hỏi có thể đi từ đơn giản đến phức tạp, mỗi câu hỏi
phải tìm ẩn trong nó khả năng đa dạng hóa câu trả lời để châm ngòi cho sự bùng nổ của
cuộc tranh luận. Như vậy, bầu không khí văn chương được hình thành từ chính nhu cầu
tìm ra lời giải đáp đúng đắn cho câu hỏi một cách tự nhiên, thoải mái. Học sinh được
phép phát biểu những ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau, từ đó các em có thể đào
sâu, khám phá ra những cách giải quyết mới và tự các em so sánh những phương án trả lờ
để đi tới kết luận thống nhất. Từ đó trí tuệ mới được hình thành cho cả lớp.
- Các câu hỏi để tạo bầu không khí văn chương khác các câu hỏi bình thường ở chỗ :
+ Các câu hỏi này luôn luôn phải chứa đựng tính phức tạp, đôi khi có dạng mâu thuẫn,
làm cho học sinh không dễ trả lời (trên nền nội dung của tác phẩm, cần tìm ra những ý
ngầm của tác phẩm đó ).
+ Câu hỏi phải làm nhiệm vụ thu hút, lôi cuốn học sinh, phải đáp ứng nhu cầu và có khả
năng xâu chuỗi các phạm vi hiểu biết của các em, đồng thời phải tương ứng với bản chất
của văn chương, với lôgic khoa học về văn học.
+ Câu hỏi phải có khả năng bao quát không chỉ những sự kiện cụ thể mà còn bao quát
một hệ thống các dữ liệu.
Ví dụ minh họa:

10


1. Bài giảng “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu):
Khi dạy phần: Hai phát hiện của ngƣời nghệ sĩ nhiếp ảnh.
Giáo viên cần sử dụng những câu hỏi sau để đƣa học sinh đi từ đơn giản đến phức
tạp, đến tình huống có vấn đề, tạo sự bùng nổ để đốt lên không khí văn chƣơng
trong giờ học. Những câu hỏi đó là:
Câu hỏi 1: Phát hiện thứ nhất của người nghệ sĩ nhiếp ảnh tại vùng biển nọ là “một cảnh
đắt trời cho”. Anh (chị) hiểu một “cảnh đắt trời cho” ở đây nghĩa là thế nào? Và vì sao
người nghệ sĩ lại gọi cái cảnh tượng ấy như vậy?
Câu hỏi 2: Cảm nhận của người nghệ sĩ khi được chiêm ngưỡng “bức ảnh nghệ thuật
của tạo hóa” là thế nào? Vì sao trong lúc cảm nhận vẻ đẹp của bức tranh, anh lại nghĩ
đến lời đúc kết của một ai đó “bản thân cái đẹp chính là đạo đức” ?
Câu hỏi 3: “Bản thân cái đẹp chính là đạo đức”, suy nghĩ của nghệ sĩ Phùng giúp anh
(chị) liên tưởng tới quan niệm nghệ thuật của những ai trong trào lưu Văn học lãng mạn
Việt Nam 1930 – 1945.
Câu hỏi 4: Tuy nhiên ngay khi tâm hồn đang bay bổng trong những xúc cảm thẩm mĩ,
đang tận hưởng cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn thì người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã
kinh ngạc phát hiện ra điều gì tiếp theo ngay sau bức tranh? Vì sao anh lại kinh ngạc đến
mức như vậy ?
11


Câu hỏi 5: Qua hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng, Nguyễn Minh Châu muốn người đọc
nhận thức gì về cuộc đời?
Câu hỏi 6: (Câu hỏi nêu tình huống có vấn đề) Giả sử có ai đó muốn can thiệp
vào tác phẩm của nhà văn bằng cách đảo vị trí hai phát hiện này, tức là để cho người
nghệ sĩ chứng kiến bi kịch của gia đình hàng chài hôm trước rồi sáng hôm sau mới phát
hiện vẻ đpẹ của cảnh biển mờ sương. theo anh (chị), điều đó có được không ? Vì sao ?
Từ đó anh (chị) hãy đọc ra ý tưởng nghệ thuật của nhà văn về cách nhìn nhận và đánh
giá con người vào mọi sự vật, hiện tượng trong đời sống.
Khi dạy sang phần: Câu chuyện của ngƣời đàn bà ở tòa án huyện.
Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Trước hết, anh (chị) hãy tìm hiểu xem vì sao người đàn bà hàng chài lại xuất
hiện ở Tòa án huyện?
Câu hỏi 2: Người đàn bà hàng chài có làm theo sự gợi ý, đề nghị ấy không? Vì sao?
Câu hỏi 3: Trước khi nghe câu chuyện của người đàn bà vùng biển, thái độ của chánh án
Đẩu là rất cương quyết. Nhưng sau khi nghe những gì mà người phụ nũ vùng biển giãi
bày, Đẩu cảm thấy thế nào ?
Câu hỏi 4: Dù nhà văn không trực tiếp nói ra nhưng theo anh (chị), chánh án Đẩu đã
“vỡ ra” điều gì và đang “suy nghĩ” những gì sau khi nghe xong câu chuyện của người
12


đàn bà hàng chài? Mỗi người hãy tự đặt mình vào vị trí của Đẩu và ghi ra những suy
nghĩ của mình lúc đó.
Câu hỏi 5: Theo anh (chị), câu chuyện mà người đàn bà kể ở Tòa án đã giúp Phùng hiểu
ra điều gì về người phụ nữ này, và về người bạn của mình – chánh án Đẩu và về chính
mình?
Câu hỏi 6: (Câu hỏi gợi mở) Đến đây, nếu được phép thay mặt nhà văn chuyển dến
người đọc, nhất là người nghệ sĩ, những thông điệp nghệ thuật về cách nhìn nhận con
người và cuộc đời thì anh (chị) sẽ nói những gì?
Câu hỏi 7: Trở lại với câu chuyện của người phụ nữ vùng biển, trong câu chuyện ở Tòa
án, người đàn bà ấy đã kể những gì về người chồng vũ phu của mình? Qua đó có thể
nhận thấy thái độ của chị đối với người chồng thế nào?
Câu hỏi 8: Từ nhan vật người đàn ông hàng chài này, có bạn học sinh đã nghĩ đến một
số nhân vật trong sáng tác của Nam Cao (chí Phèo, Hộ). Theo anh (chị), vì sao bạn học
sinh đó lại có liên tưởng như vậy ? Sự liên tưởng này có giúp anh ( chị) hiểu ra điều gì về
giá trị nhân đạo của tác phẩm ?
Khi giảng phần: Tấm ảnh đƣợc chọn trong “Bộ lịch năm ấy” ở cuối tác phẩm.
Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi :

13


Câu hỏi 1: Mỗi khi ngắm bức ảnh được chọn, người nghệ sĩ nhiếp ảnh đều nhìn thấy
những gì đằng sau bức tranh? Theo anh (chị), những hình ảnh ấy tượng trưng cho điều
gì?
Câu hỏi 2: Vậy Nguyễn Minh Châu muốn phát biểu điều gì giữa mối quan hệ về nghệ
thuật và cuộc đời qua bức ảnh ấy?
Phần tổng kết, Giáo viên sử dụng những câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Trong phần Tiểu dẫn của bài học, tác giả Sách giáo khoa giới thiệu: Truyện
ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” kể lại chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh và
những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời. Qua bài học, anh (chị)
đã hiểu điều đó như thế nào?
Câu hỏi 2: So với một số tác phẩm của các tác giả khác viết trong 2 cuộc kháng chiến
chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ (Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu… ), “Chiếc thuyền
ngoài xa” đã cho thấy những đổi mới nào của văn học Việt Nam sau 1975 (về đề tài, bút
pháp, cái nhìn nghệ thuật về con người…” ?
2. Bài giảng “Việt Bắc” (Tố Hữu )
Hệ thống câu hỏi để đàm thoại trong giờ dạy – học của bài này như sau:
Câu hỏi 1. Đọc lại phần Tiểu dẫn và cho biết bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nào
? Tâm trạng bao trùm trong đoạn trích bài thơ là gì ?
14


Câu hỏi 2. Nhận xét về cách kết cấu của bài thơ (chú ý cảnh chia tay, lời hỏi và lời đáp).
Cách kết cấu ấy có gì gần gũi với ca dao, dân ca và có tác dụng như thế nào đối với việc
thể hiện tư tưởng, tình cảm trong bài thơ ?
Câu hỏi 3. Nhận xét về cách sử dụng hai từ "mình" và "ta" trong bài thơ ("mình", "ta" là
ai ?). Sự thống nhất và chuyển hoá của hai "nhân vật" ấy. "Mình", "ta" trong bài Việt
Bắc giống và khác như thế nào với "mình", "ta" trong ca dao ?
Câu hỏi 4. Trong đoạn thơ từ dòng 25 đến dòng 52, những hình ảnh nào của thiên nhiên
và con người Việt Bắc đã được tái hiện ? Trong không gian và thời gian nào ? Giữa cảnh
và người có sự gắn bó như thế nào ? Nêu cảm nhận của anh (chị) về tình cảm của người
cán bộ miền xuôi với Việt Bắc qua những hình ảnh ấy. Nhận xét về bút pháp miêu tả và
giọng điệu của đoạn thơ này?
Câu hỏi 5. Trong đoạn thơ từ dòng 53 đến dòng 88, khí thế hào hùng của cuộc kháng
chiến đã được tái hiện qua những hình ảnh, sự việc nào ? Bút pháp và giọng điệu trong
đoạn thơ này có gì khác với đoạn thơ trước (từ dòng 25 đến dòng 52)
Câu hỏi 6. Phân tích tính dân tộc trong nội dung và nghệ thuật của đoạn trích bài thơ
Việt Bắc (ở bức tranh đời sống và nội dung tình cảm ; ở các hình thức nghệ thuật nổi bật
như thể thơ, lối kết cấu, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu).

15


Rõ ràng hệ thống câu hỏi trên còn quá chung, chưa thể hiện được ý đồ tiếp cận tác phẩm
theo hệ thống. Trong khi ở câu 1, câu 2, câu 3 thì yêu cầu HS tiếp cận đoạn trích theo lối
"bổ dọc" đến câu 4, câu 5 thì lại tiếp cận theo lối "bổ ngang". Hơn thế nữa nhiều câu hỏi
quá khó so với trình độ của HS ở vùng sâu: "Nhận xét về cách kết cấu của bài thơ". Sau
đó lại yêu cầu so sánh với kết cấu của ca dao ([2]). Hoặc nhận xét về cách sử dụng hai
từ "mình" và "ta" trong bài thơ ("mình", "ta" là ai ?). Sự thống nhất và chuyển hoá của
hai "nhân vật" ấy. "Mình", "ta" trong bài Việt Bắc giống và khác như thế nào với "mình",
"ta" trong ca dao. Đây là một câu hỏi rất khó, HS phải có một sự am hiểu rất sâu về đặc
điểm sử dụng đại từ nhân xưng trong ca dao mới có thế giải quyết được vấn đề này. Tuy
nhiên qua khảo sát hệ thống văn bản ca dao mà HS được học trong chương trình Ngữ
văn 10 (nâng cao) chúng tôi nhận thấy không có văn bản nào có xuất hiện hai từ "mình",
"ta". Như vậy HS lấy kiến thức ở đâu để hoàn thành được câu hỏi này. Tình hình này
cũng không khác lắm ở sách giáo khoa Ngữ văn 12 (chương trình chuẩn).
b. Bầu không khí văn chương đôi khi hình thành ngay cả ở dạng những câu hỏi cắt nghĩa
một khái niệm, một tiêu đề của tác phẩm hay khi cả giáo viên và học sinh khám phá ra
tính mâu thuẫn của ấn tượng ban đầu. Các câu hỏi được đặt ra và giả quyết trong bầu
không khí văn chương.
Ví dụ minh họa:

16


Khi giảng “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên, Giáo viên đƣa ra câu hỏi: Chế Lan
Viên viết: “Tây Bắc ư? Người là mẹ của hồn thơ”. Em hiểu “mẹ của hồn thơ” là gì ?.
Hoặc nhan đề “Tiếng hát con tàu” có ý nghĩa nhƣ thế nào?
Lúc này, học sinh sẽ vận dụng, huy động kiến thức về lịch sử, văn học sử, lí luận văn
học và cả vốn sống của mình để giải thích khái niệm “Mẹ của hồn thơ”. Sự nỗ lực
trả lời câu hỏi đã tạo ra bầu không khí văn chƣơng sôi nổi, hiểu quả, gây hứng thú
cho giáo viên và học sinh.

C. KIỂM NGHIỆM
Trong 3 năm vừa qua, trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi đã có thử nghiệm đối với
biện pháp dạy – học tích cực: “dạy học vấn đáp, đàm thoại để tạo bầu không khí văn
chương trong giờ dạy – học văn” như đã trình bày ở trên. Thực tế đã chứng minh, biện
pháp trên đưa lại hiệu quả khá khả quan. Số lượng học sinh tích cực tham gia phát biểu
trong các buổi học tăng lên rõ rệt, không khí của các giờ học Văn không còn nặng nề,
căng thẳng như trước, mà rất sôi nổi. Các em đua nhau để trình bày các suy nghĩ của
mình, đôi khi mạnh dạn trình bày cả những suy nghĩ rất mới mẻ chưa từng có trong tài
liệu. Điều đó chứng tỏ đây là một phương pháp ưu việt.

17


Cụ thể, trong năm học vừa qua 2012- 2013 vừa qua, tôi áp dụng phương pháp này vào
lớp cơ bản tự nhiên, nhưng các em không còn chán học văn như hồi đầu lớp 10 nữa, mà
rất sôi nổi, tích cực, thậm chí có những em tâm sự rằng: “Chúng em chỉ mong đến giờ
học Văn để được sống đúng là mình”.
Và kết quả cuối năm học: Ở 2 lớp ban cơ bản tự nhiên này tỉ lệ học sinh đtạ điểm khá giỏi
chiếm 80%.
Sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã mạnh dạn đề xuất với tổ chuyên môn áp dụng vào năm
học tới. Hi vọng rằng các bạn đồng nghiệp trong tổ Văn trường Hoằng Hóa 4 sẽ gặt hái
được những thành công như tôi.

18


D. PHẦN KẾT LUẬN

1. Văn học có sức tác động sâu sắc đến bạn đọc. Tiếp nhận văn học lại phụ thuộc vào
trình độ, năng lực, thi hiếu của từng người. Việc dạy –học Văn có những khả năng giáo
dục rất quan trọng:
- Làm phong phú hơn kinh nghiệm sống và kinh nghiệm thẩm mĩ ở bạn đọc.
- Giờ Văn có vai trò quyết định trong việc đào tạo nhân cách và niềm tin cho học sinh.
- Tạo dựng những tình huống quan trọng cho sự nhận thức sáng tạo nghệ thuật, xây dựng
cho học sinh những tình cảm đẹp đẽ, cao thượng, giúp các em có những hoạt động và ứng
xử cụ thể cho những tình huống nhất định và phát triển tài năng của các em.
Vì vậy: Nhiệm vụ của người Giáo viên dạy Văn là tận dụng những điều kiện thuật lợi của
bộ môn để làm sao mỗi giờ dạy – học Văn là một giờ các em được sống thực sự trong
bầu không khí Văn chương, để các em hoàn thiện và lớn dần lên về nhân cách, trở thành
CON NGƯỜI đúng theo ý nghĩa viết hoa mà Thượng đế ban tặng.

19


2. Đề tài pháp “Sử dụng phương pháp dạy học vấn đáp, đàm thoại để tạo bầu không
khí văn chương trong giờ dạy – học văn” là một đề tài có tính thực tiễn, có khả năng
ứng dụng cao. Chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển đề tài, để hoàn thiện hơn nữa một công
việc rất quan trọng của người giáo viên là: “hướng dẫn học sinh tích cực, chủ động, sáng
tác trong quá trình thâm nhập tác phẩm văn học”. Hi vọng đề tài này sẽ nhận được sự
đóng góp của đồng nghiệp trong Tỉnh.

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×