Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN về phương pháp dạy thơ trung đại việt nam lớp 7

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“BÀN VỀ MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY THƠ TRUNG ĐẠI
VIỆT NAM Ở MÔN NGỮ VĂN 7 TRONG NHÀ TRƢỜNG
THCS”


PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I. Lí do chọn đề tài.
1.Cơ sở lí luận:
Văn thơ trung đại Việt Nam là bộ phận văn học gắn liền với một giai đoạn cực
kì quan trọng trong lịch sử đất nước - giai đoạn nhà nước phong kiến Việt Nam được
xác lập, đi tới chỗ cực thịnh rồi chuyển dần tới chỗ suy vi. Giai đoạn văn học này đã
để lại một di sản vô cùng quý báu, đồ sộ về khối lượng, phong phú, đa dạng về nội
dung, đạt tới nhiều đỉnh cao về nghệthuật. Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này,
chúng ta càng thêm gắn bóvới truyền thống cao đẹp của dân tộc. Bởi lẽ “Mỗi tác giả
với thiên tài của mình và giới hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu
một bước tiến của văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt
Nam”(Phạm Văn Đồng). Chúng ta có thể tìm thấy trong di sản này những điều giúp

lại quá khứ vinh quang nhưng không ít phần gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể
nhìn lại hiện tại một cách thấu đáo hơn và hướng về tương lai một cách tin tưởng hơn.
Đối với nhà trường THCS, di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trongviệc giáo
dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ...cho học
sinh, thông qua những thành quả nổi bật của người xưa trong lĩnh vực sáng tạo nghệ
thuật ngôn từ, kết tinh trong các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu.

2


Việc dạy văn học ở nhà trường nói chung và dạy thơ trữ tình trung đại theo
hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh là một vấn đề đã và đang được
nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học văn cũng như nhiều giáo viên giảng
dạy văn học quan tâm.

2. Cơ sở thực tiễn:
Chương trình Ngữ văn 7 kì I có một số lượng tương đối lớn các văn bản thuộc thể
loại thơ trữ tình trung đại. Đó là các văn bản nghệ thuật được các nhà thơ Việt Nam sáng
tác trong thời kì phong kiến. Các tác giả thơ trữ tình trung đại phần nhiều là những thi nhân
nổi tiếng, tâm hồn nặng những nỗi đời. Làm thơ với họ là mượn cảnh, mượn việc để kí
thác tâm sự, bày tỏ nỗi lòng nhân thế...
Qua thực tế giảng dạy thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở trường THCS chúng
tôi nhận thấy: Đây là thể loại văn học tương đối khó, hơn nữa các tác phẩm văn học
trung đại được tính từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX đã cách chúng ta hơn mười thế kỉ,
đến với thế hệ trẻ dưới mái trường phổ thông thế kỉ XXI đã có khoảng cách rất xa
về thời gian. Vì thế, người giảng dạy gặp khó khăn trong soạn giảng, nhiều học sinh
ít hứng thú, không tích cực trong giờ học những bài văn học cổ. Vấn đề đặt ra là
phải có những biện pháp tối ưu nhằm giúp giáo viên và học sinh đạt hiệu quả cao
trong giảng dạy và học tập thơ trữ tình trung đại Việt Nam.

3


Đó là lí do thôi thúc tôi lựa chọn đề tài “Bàn về một số phương pháp
giảng dạy thơ trung đại Việt Nam ở Môn Ngữ văn 7 trong nhà trường THCS” với
mong muốn có thể ứng dụng hiệu quả hơn trong giảng dạy để dạy tốt các bài thơ trữ
tình trung đại trong chương trình Ngữ văn 7, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy,
học môn ngữ văn ở trường THCS.
II. Mục đích nghiên cứu:
- Thuận lợi và khó khăn trong việc dạy, học thơ trữ tình trung đại Việt Nam.

- Đề xuất những biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy, học thơ
trữ tình trung đại Việt Nam.
III. Đối tƣợng nghiên cứu:
Hoạt động dạy và học các bài thơ trữ tình trung đại Việt Nam của giáo viên
và học sinh lớp 7.
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát việc dạy và học các bài thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở lớp 7 để
nắm bắt hiện trạng một cách chính xác.
- Xây dựng cơ sở lí luận của phương pháp phát huy tính tích cực
- Bước đầu đề xuất một số biện pháp trong dạy học thơ trữ tình trung đại Việt
Nam ở lớp 7 theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh.

4


PHẦN II :NỘI DUNG.

I. Thống kê các văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 7:
Dạy đọc hiểu thơ trữ tình, đặc biệt thơ trữ tình trung đại đòi hỏi một cách tiếp
cận riêng khác với dạy các văn bản tự sự, miêu tả hay nghị luận. Cho nên, trước khi
dạy, người thầy cần nắm được hệ thống các văn bản thơ trữ tình trung đại trong
chương trình Ngữ văn 7 để từ đó có định hướng, cách khai thác riêng cho từng cụm
bài, từng bài. Ta có thể theo dõi các tác phẩm thơ trữ tình trung đại lớp 7 qua bảng hệ
thống sau:
STT Tác phẩm
1

Sông núi nước Nam

Tác giả

Thể loại

Lý Thường Kiệt

Thất

ngôn

tứ

ngôn

tứ

tuyệt
2

Phò giá về kinh

Trần Quang Khải

Ngũ
tuyệt

3

Côn Sơn ca

Nguyễn Trãi

Lục bát

4

Buổi chiều đứng ở phủ Trần Nhân Tông

Thất

Thiên Trường trông ra

tuyệt

ngôn

tứ

5

Bánh trôi nước

Hồ Xuân Hương

6

Sau phút chia li

Đặng Trần Côn (Đoàn Song thất lục bát
Thị Điểm dịch)

5

Tứ tuyệt


7

8

Qua đèo Ngang

Bạn đến chơi nhà



Huyện

Thanh Thất ngôn bát cú

Quan

đường luật

Nguyễn Khuyến

Thất ngôn bát cú
Đường luật

Như vậy, phần phần lớn các bài thơ Trung Đại Việt Nam thời kì này chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ bởi phong cách thơ Đường của Trung Quốc. Chính vì vậy, trong qúa trình
dạy, cần bám sát đặc trưng thể loại, các tín hiệu nghệ thuật (chủ yếu là các thể thơ cổ
điển, nghệ thuật đối, ước lệ, cách sử dụng từ ngữ) để trên cơ sở đó, dẫn dắt HS đi tìm
cái hay, cái đẹp trong tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm.
II. Một số nét khái quát về thơ trữ tình Trung đại Việt nam .
1. Đặc trƣng thi pháp của thơ trung đại
Văn học Trung đại Việt Nam nói chung và Thơ trữ tình Trung đại nói riêng
được ra đời trong bối cảnh xã hội phongkiến phát triển. Nó phản ánh thực tế lịch sử xã
hội phong kiến từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX. Đặc biệt là những biến động của xã hội
và thân phận con người. Chủ đề xuyên suốt như sợi chỉ đỏ của thơ Trung đại Việt Nam
là cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo. Các tác giả thơ Trung đại Việt Nam chủ
yếu là những người có địa vị xã hội, có những ảnh hưởng quan trọng cho sự phát triển
của xã hội…Chính vì thế khi giảng dạy hoặc phân tích, bình giảng cần phải chú ý đến
các đặc điểm cơ bản sau :

6


* Quan niệm “Văn dĩ tải đạo” : Vănchương phải chuyên chở đạo lý.
*Tính ƣớc lệ, tƣợng trƣng, quy phạm: Đây là đặc điểm nổi bật của văn thơ
Trung đại. Khi sáng tác, các tác giả thường vay mượn văn thi liệu điển cố, điển tích lấy
từ sách vở Thánh Hiền và kinh sách của các tôn giáo. Chẳng hạn nói đến cây và hoa
thì tùng, trúc, cúc, mai, sen…bởi chúng là những biểu tượng để chỉ những phẩm chất
cốt cách, khí tiết của người quân tử, của bậctrượng phu; nói đến con vật thì phải long,
ly, quy, phượng ; nói đến người thì ngư, tiều, canh, mục; nói đến hoa bốn mùa thì phải
là xuân lan, thu cúc, hạ sen,đông sen; tả mỹ nhân thì làn thu thủy, nét xuân sơn, tóc
như mây, da như tuyết …
* Tính giáo huấn, bác học,cao quý, trang nhã: Đối tượng, mục đích của văn
thơ chủ yếu là đề cao thần quyền, cường quyền mang tính giáo hóa, giáohuấn con
người với khuôn phép định sẵn. Ngôn từ diễn đạt diễm lệ, tránh nói thô tục, nếu có thì
dùng ngụ ý, ám chỉ chứ ít khi nói thẳng…
* Cảm thức về thế giới con ngƣời thời Trung đại Việt Nam: Con người thấy
mình trong tự nhiên, với suy nghĩ trong vũ trụ có ta và trong ta có cả vũ trụ… Vì thế
khi nói về trời đất, về không gian, thời gian với nhiều cách thể hiện bằng nhiều sắc thái
biểu cảm khác nhau như thời gian chu kỳ tuần hoàn,thời gian tuyến tính, thời gian vĩnh
cửu, thời gian không gian được cảm nhận bằng nhiều giác quan khác nhau…Cho nên
con người khi bất đắc chí tìm về thiên nhiên, vũ trụ như tìm về cội nguồn. Khi ngắm
cảnh trời mây, họ cũng như mơ về nguồn cội. Người Trung Quốc ý thức gia tộc, gia

7


hương rất mạnh mẽ như Lý Bạch nhìn trăng mà nhớ đến quê nhà (Tĩnh dạ tứ), cũng
như trong thơ Đường luật của Việt Nam, Bà Huyện Thanh Quan nhìn cảnh đèo Ngang
mà nhớ về quê cũ; với Bác Hồ trong bài : “Tức cảnh Pác Bó” thì đó là không gian bờ
suối, hang đá …
* Cách biểu hiện: Cái tôi trữ tình hoà lẫn vào trong thiên nhiên ngoại cảnh, nó
tỉnh lượt chủ ngữ, nó tan trong cảm xúc, cái tôi nó đạt tính phổ quát .
* Cách diễn đạt: Gợi mà không tả, hoà quyện giữa thi, nhạc và hoạ.
* Ngôn ngữ: Từ ngữ sử dụng ở thơ Đường là những từ ngữ quen thuộc nhưng
lại có khả năng diễn đạt vô cùng tinh tế, phong phú. Sở dĩ đạt được như thế là vì công
phu tinh luyện của các nhà thơ. Vì thế, học thơ Đường là học tinh thần lao động và
sáng tạo của nhà thơ với vốn từ hữu hạn.
* Đề tài: Đề tài trong thơ Đường không lấy gì làm phong phú nhưng không hề
trùng lặp vì những mối quan hệ từ ngữ. Vì thế phải hướng dẫn học sinh chú ý những từ
ngữ đắc giá( nhãn tự) vì đó là những từ có tính khái quát cao.
* Tứ thơ: Cái quan trọng nhất trong thơ Đường là tứ thơ. Tư duy thơ Đường là
kiểu tư duy quan hệ, học sinh phải cảm nhận mối quan hệ giữa các sự vật trong không
gian, quan hệ giữa con người với vũ trụ và quan hệ giữa con người với con người. Thơ
ca nói chung cũng như thơ Đường nói riêng, nó không nói hết, không nói trực tiếp ý
mình muốn nói mà để cho người đọc cùng suy nghĩ, cùng sáng tạo. Chính đặc điểm

8


này đã tạo nên cái gọi là “ý tại ngôn ngoại”, “ngôn tận ý bất tận”. Nói gọn lại: chính
đặc điểm này mà thơ Đường cô đọng, súc tích, giàu tính biểu tượng. Nó gợi mà không
tả để tạo nên một môi trường liên tưởng rộng. Vậy, ta giúp học sinh tham gia đồng
sáng tạo cùng tác giả, học sinh cảm nhận được cái mạch ngầm của những tác phẩm thơ
ca.
2. Đặc điểm hình thức .
Ở bậc Trung học cơ sở, thơ Đường luật các em được học một số thể thơ như: ngũ
ngôn, thất ngôn với số dòng là tứ tuyệt, bát cú. Vậy, trước hết ta phải hướng dẫn học
sinh nắm được đặc điểm hình thức của thể thơ này.
a. Ngũ ngôn tứ tuyệt Đƣờng luật:
- Thể thơ này, bài thơ có bốn dòng, mỗi dòng có năm chữ, vần ở cuối các câu
một, hai, bốn hoặc cuối câu hai, bốn.
- Xét về thanh điệu: tiếng thứ hai với thứ tư trong mỗi câu phải đối nhau và tiếng
thứ hai, thứ tư trong mỗi cặp câu cũng phải đối nhau. Nghĩa là trong một dòng, nếu
tiếng thứ hai là tiếng bằng thì tiếng thứ tư phải là tiếng trắc, và ngược lại nếu tiếng thứ
hai là tiếng trắc thì tiếng thứ tư phải là tiếng bằng.
b. Thể thơ thất ngôn bát cú:
- Về số chữ trong câu, số câu trong bài: Bài thơ có tám câu, mỗi câu có bảy chữ.
- Về vần: Độc vận, vần chân ở cuối câu một và các câu chẵn và là vần bằng.

9


- Về đối: Hai câu thực và hai câu luận thường đối nhau. Có khi đối ngay ở hai câu
đề và trốn đối ở hai câu thực và hai câu luận.
- Về niêm: Niêm nghĩa là dính. Câu một niêm với câu tám, câu hai niêm với câu
ba, câu bốn niêm với câu năm, câu sáu niêm với câu bảy.
- Về luật: Theo hệ thống thanh ngang. Cho phép: “ Nhất tam ngũ bất luận” và buộc
phải: “ Nhị tứ lục phân minh”. Có luật bằng vần bằng và luật trắc vần bằng.
c. Thất ngôn tứ tuyệt:
- Là dạng rút gọn của thể thơ thất ngôn bát cú: gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ.
- Vần: Vần bằng và là vần chân ở câu một, hai, bốn; có khi chỉ ở câu hai và câu bốn.

KẾT CẤU CỦA CÁC THỂ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT VÀ THẤT NGÔN BÁT

Thất

ngôn Thất

ngôn
Mục đích

tứ tuyệt

bát cú

Phần 1

Khai

Đề

Giới thiệu tựa đề

Phần 2

Thừa

Thực

Giải thích, triển khai tự đề

Phần 3

Chuyển

Luận

Bàn luận ý nghĩa của bài

Phần 4

Hợp

Kết

Tóm tắt ý nghĩa, bày tỏ thái độ, tình

10


cảm

III. Thực trạng việc giảng- dạy các tác phẩm văn học trung đại ViệtNam trong
nhà trƣờng THCS hiện nay.
1.Về việc dạy của giáo viên :
Chúng ta đều biết rằng văn học Trung đại là bộ phận văn học đồng hành với sự
phát triển của xã hội phong kiến. Trong các tác phẩm đều viết bằng ngôn ngữ Hán văn
cổ hay chữ Nôm có phần xa lạ với ngôn ngữ Tiếng Việt hiện đại ngày nay. Vì vậy tìm
hiểu, phân tích một tác phẩm văn học Trung đại là việc làm không đơn giản. Trong
những năm vừa qua đội ngũ giáo viên dạy văn nói riêng đã được trang bị nhiều
phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực đã thực sự mang lại hiệu quả tốt. Mặc dù vậy
vẫn còn những hạn chế trong cách vận dụng phương pháp từ đội ngũ. Bản thân những
người dạy văn về cơ bản đã tận tâm tận lực với nghề, tích cực nghiên cứu tìm hiểu các
kiến thức. Tuy nhiên với sự đa dạng và phức tạp của văn học Trung đại thì hiệu quả
dạy phần văn học này vẫn không tránh khỏi những hạn chế. Các điển tích, điển cố của
văn học trung đại là phức tạp và đa nghĩa. Vì vậy đòi hỏi phải có một tư duy hết sức
khoa học, hết sức sáng tạo đối với đội ngũ giáo viên khi thực hiện phần văn học quan
trọng này.
2.Việc học của học sinh:

11


Thể loại, thi pháp văn học cổ có nhiều xa lạ với thi pháp văn học đương đại nên
đó là điều khó khăn cho học sinh tiếp nhận.Vốn sống kinh nghiệm thực tế học sinh còn
ít, học sinh khó khăn khi tái hiện hoàn cảnh xã hội, hiểu các điển tích, điển cố được sử
dụng trong tác phẩm văn học cổ. Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển đi lên của đât
nước, chúng ta có những thành tựu quan trong về lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên với cơ
chế nền kinh tế thị trường đã tạo ra những phức tạp và những ảnh hưởng không lành
mạnh đối với đời sống con người, nhất là thế hệ trẻ. Đặc biệt là đối tượng học sinh,
trong đó có học sinh bậc trung học cơ sở. Một bộ phận lớn học sinh chịu ảnh hưởng
của các yếu tố tiêu cực của XH chi phối nên ý thức học tập không cao, thiếu tự giác.
Trong khi đó, phần văn học trung đại là phần văn học khó nhất. Vì thế, chất lượng học
sinh thuyên giảm. Ngoài ra, sự quan tâm, cách nhìn nhận của phụ huynh học sinh là
sính học các môn Khoa học tự nhiên cũng có những ảnh hưởng không tích cực đến
việc nỗ lực phấn đấu của học sinh đối với môn Ngữ văn. Điều đó càng đòi hỏi phải có
những giải pháp tích cực để nâng cao chất lượng học bộ môn ngữ văn của học sinh,
trong đó có phần văn học trung đại Việt Nam.
IV. Một số phƣơng pháp dạy thơ trữ tình trung đại lớp 7
1. Đối với khâu chuẩn bị
- Về phía giáo viên: tìm hiểu bài kĩ lưỡng nhuần nhuyễn đến mức thuộc thơ,
sống với bài thơ, tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để hiểu được thấu
đáo nội dung tư tưởng của tác phẩm. Hướng dẫn HS soạn kĩ ở nhà, kiểm tra kĩ bài

12


soạn của HS, có biện pháp nhắc nhở, phê bình hay báo với giáo viên chủ nhiệm nếu
HS có biểu hiện soạn chống đối như: soạn sơ sài, soạn nhưng chỉ là chép lại mà không
hiểu, không nhớ.
- Về phía học sinh: cần chuẩn bị bài soạn chu đáo trên cơ sở hướng dẫn của hệ
thống câu hỏi trong sách giáo khoa và sự hướng dẫn của giáo viên. Với HS học tốt,
cần đọc thêm tư liệu để bước đầu hiểu được tác phẩm, sưu tầm các câu thơ, bài thơ có
nét tương đồng với tác phẩm sắp học hay các nhận định về tác phẩm.

2. Đối với hoạt động dạy học trên lớp lớp:
Bƣớc 1: Giáo viên nên hết sức coi trọng khâu kiểm tra sự chuẩn bị của HS, bởi
đây chính là tiền đề quan trọng để HS cảm thụ được tác phẩm ngay trên lớp.
Bƣớc 2: Giáo viên cần chú ý khâu vào bài để tạo không khí phù hợp với
bài học. Có thể là một bài hát, một bản nhạc, một bức tranh... mang nội dung tư
tưởng tương đồng với tác phẩm chuẩn bị học.
Bƣớc 3: Với phần đọc văn bản:
- Đọc thơ: Đọc thơ là để tạo tâm thế ban đầu cần thiết cho học sinh cũng chính là
bước đầu tiếp cận hình tượng thơ. Cần đọc cả bản phiên âm, dịch nghĩa (nếu có), dịch
thơ
- Đọc diễn cảm là tạo điều kiện cho cảm xúc của học sinh được khởi động theo
âm- vang của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ thơ, và ngôn ngữ nhân vật trữ tình, cái mà

13


đọc bằng mắt nhiều khi không đạt được. Đọc chính là tạo lên rung động thơ, tạo lên sự
đồng điệu về tâm hồn để rồi tiến tới sự đồng tình và đồng ý với tác giả
Bƣớc 4: Với phần phân tích:
* Cho học sinh tìm hiểu kĩ về tác giả, về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm:
Dạy thơ trung đại, cần lưu ý xác lập một cái nhìn biện chứng và lịchsử. Các tác
phẩm văn học trung đại được sáng tạo và truyền bá trong những hoàn cảnh lịch sử nhất
định. Tựu chung những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa của cuộc sống văn hoá,
tinh thần của dân tộc đã in đậm dấu ấn trên những tác phẩm này. Nếu không đặt tác
phẩm trong mối liên hệ với hoàn cảnh lịch sử, bản thân tác giả.... nhiều khi chúng ta
không thể hiểu, lí giải chính xác và thấu đáo những vấn đề trong tác phẩm.
* Chú ý đến đặc trƣng thể loại:
Cho học sinh tìm hiểu về thể loại và đặc trưng của từng thể loại. Mỗi thể loại
văn học trung đại nói chung, Thơ trung đại nói riêng có dạng thức tồn tại và phương
thức biểu đạt nhất định. Phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại là đi vào thi phápđi lại con đường của người sáng tác để có thể thâm nhập và hiểu tác phẩm được dễ
dàng. Cho học sinh nắm được thi pháp của thơ trung đại. Thơ Đường luật gồm có các
thể thơ: Tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú...Dạy thơ Đường luật thất ngôn bát cú ( thể thơ
được học nhiều ở THCS)cần chú ý các đặc điểm về vần, niêm luật, đối và kết cấu,
ngôn ngữ.

14


Ví dụ: Khi dạy bài thơ “Qua Đèo Ngang” (Bà huyện Thanh Quan), đây là một
bài thơ tuân theo các quy định nghiêm ngặt của phong cách thơ Đường. Vì vậy, giáo
viên có thể hướng dẫn HS khai thác theo bố cục của bài thất ngôn bát cú, gồm 4 phần
đề - thực – luận – kết. Ở mỗi phần luôn có sự song hành bức tranh cảnh và bức tranh
tâm trạng, giáo viên cần chú ý hướng dẫn HS khai thác tìm hiểu.
Hoặc chia bài bát cú thành 2 phần: bốn câu đầu gọi là “nửa trên” thì nặng cảnh
nhẹ tình ; bốn câu sau gọi là “nửa dưới” thì nặng tình nhẹ cảnh.
Nhưng với bài thơ “Bạn đến chơi nhà” (Nguyễn Khuyến), vẫn là đề - thực - luận-kết
với niêm, luật, vần, đối rất chuẩn như luật thơ Đường quy định nhưng phá cách ở ý
tưởng, ở cấu tứ bài thơ. Vì thế, khi dạy bài thơ này nên đi theo diễn biến tự nhiên quá
trình cảm xúc của nhân vật trữ tình, nên chia bài thơ theo 3 ý như sau: 1-Cảm xúc khi
bạn tới chơi (câu 1); 2-Cảm xúc về gia cảnh (câu 2 đến câu 7); 3-Cảm xúc về tình bạn
(câu 8)
* Suy ngẫm để thấy các tầng ý nghĩa sau những ngôn từ hàm súc.
Ngắn gọn, hàm súc vốn là những tiêu chuẩn của cái hay, cái đẹp trong hoạt động
nghệ thuật ngôn từ thuở trước. Bởi vậy nếu chỉ đọc và suy diễn qua loa sẽ không thể
hiểu, cảm thụ hết giá trị của tác phẩm. Cần đọc chậm, đi sâu từng bước và thường
xuyên đọc đi đọc lại để suy ngẫm.
VD: Nếu không tìm hiểu kĩ, ta chỉ thấy được nội dung tả cảnh đèo núi lúc chiều tà
trong 4 câu thơ sau:

15


“ Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.”
( “Qua đèo Ngang”- Bà Huyện Thanh Quan)
Thực ra 4 câu thơ tả ít mà gợi nhiều. Tả cảnh đèo Ngang hoang vắng trong buổi hoàng
hôn, qua đó mà gửi gắm tâm trạng, tình cảm cô đơn, buồn nhớ dằng dặc trong lòng
người lữ khách. Đó chính là bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, là tính hàm súc “ý tại
ngôn ngoại” thường thấy trong thơ văn trung đại.
* Khai thác đặc trƣng về ngôn từ, hình ảnh trong tác phẩm trung đại.
- Về ngôn ngữ thơ đã là thơ thì ngôn ngữ phải cô đọng, hàm súc, giàuhình tượng,
cảm xúc... Ngôn ngữ thơ Trung đại ảnh hưởng ngôn ngữ của Đường thi càng như thế.
Đặc biệt các bài thơ tuyệt cú, bát cú dùng rất ít chữ. Cho nên người làm thơ Đường
coi trọng từng chữ một. Ngôn ngữ thơ Đường bao giờ cũng súc tích, công phu, điêu
luyện. Thơ Đường nói riêng và thơ nói chung thường có “nhãn tự” hoặc “thi nhãn”
(những chữ mà thơ dùng hay nhất, khéo nhất, thể hiện rõ nhất cái “thần” của câu
thơ). Một bài thơ có thể có một, hai “nhãn tự” cũng có thể không có “nhãn tự” .
VD:

ở bài “Nam quốc sơn hà”, chữ “Nam quốc”, “Nam đế”;

trong “Truyện

Kiều”những chữ như “tót” trong câu “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, “lẻn” trong “ Đẩy
song đã thấy Sở Khanh lẻn vào”, hay “ngây” trong câu “Lạ cho mặt sắt cũngngây vì

16


tình”...đều có thể coi là “nhãn tự”; Với bài thơ “ Qua đèo Ngang ” cụm từ “Ta với ta”
là nhãn tự . tác giả sử dụng nghệ thuật điệp đại từ “ta” sáng tạo để cho thấy nữ thi sỹ
Bà Huyện thanh quan đang đối diện với chính nỗi buồn, cô đơn, nỗi nhớ của mình đã
cực tả nỗi cô đơn đến mức tuyệt đối.
- Khi khai thác bài, giáo viên cần chú ý đến hệ thống từ ngữ được sử dụng, đó là các
tính từ, các từ láy gợi hình gợi cảm, các động từ, các hình ảnh thơ... để thể hiện sâu
sắc, rõ nét bức tranh cảnh và bức tranh tâm trạng của nhân vật trữ tình.
VD: Trong bài “Qua Đèo Ngang, đó là hệ thống các từ láy mang giá trị gợi hình gợi
cảm: “lom khom”, gợi lên hình ảnh những tiều phu bóng dáng nhỏ bé, nhạt nhòa như
muốn chìm lắng vào trong không gian núi rừng hiu hắt, vắng lặng; “lác đác” gợi lên
sự thưa thớt, vắng vẻ của những ngôi nhà chợ ven sông...Tất cả đều nhằm làm nổi bật
lên bức tranh thiên nhiên đèo Ngang heo hút lúc chiều tà, ẩn trong đó là tâm trạng
buồn bã cô đơn của người “lữ khách”
* Một trong những biểu hiện tích cực của đổi mới phƣơng pháp dạy học
trong giờ Đọc – hiểu thơ trữ tình là giảng bình.
Những lời bình giảng, phân tích của giáo viên trong giờ đọc – hiểu văn bản là rất
cần thiết, quan trọng góp phần làm nên dư vị ngọt ngào, khơi gợi cảm xúc của học sinh
khi tiếp nhận các giá trị văn chương. Và có một thực tế là những giáo viên có những
lời bình hay, độc đáo sẽ được học sinh nhớ mãi, ấn tượng mãi.

17


VD: Khi hướng dẫn HS phân tích hết bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn
Khuyến, giáo viên có thể cho HS so sánh cụm từ “ta với ta” trong bài thơ này với cụm
từ “ta với ta” trong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà huyện Thanh Quan, trên cơ sở đó
giáo viên có thể bình về tình cảm của Nguyễn Khuyến đối với bạn: Nếu “ta với ta”
trong bài “Qua Đèo Ngang” là mình ta đối diện với chính ta, là sự cực tả nỗi cô đơn
đang xâm chiếm toàn bộ cõi lòng người lữ khách thì “ta với ta” trong bài “Bạn đến
chơi nhà” ấm áp tình bạn, ta với ta là tôi với bác, tuy hai mà một, là sự gắn bó thắm
thiết của một tình bạn chân thành, trong sáng, cao đẹp.
*Khi hƣớng dẫn HS phân tích, cần chú ý xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lí
để khai thác nghệ thuật và nội dung của bài:
- Các câu hỏi đàm thoại ngoài tính chất xác định rõ ràng, phải có màu sắc văn
học, có khả năng khêu gợi tình cảm, cảm xúc, xúc động thẩm mỹ cho học sinh.
- Câu hỏi phải vừa sức học sinh, thích hợp với khuôn khổ một giờ học trên lớp,
vừa phải có khả năng “gợi vấn đề” suy nghĩ tìm tòi sáng tạo cho học sinh.
- Câu hỏi không tuỳ tiện, phải được xây dựng thành một hệ thống lôgíc, có tính
toán giúp học sinh từng bước đi sâu vào tác phẩm như một chính thể.
- Cần có sự kết hợp cân đối giữa các loại câu hỏi cụ thể và loại câu hỏi tổng hợp
gợi vấn đề. Câu hỏi có khi theo lối diễn dịch, có khi theo lối qui nạp nhưng đều nhằm
cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vững chắc.
+Khi đặt câu hỏi, chúng ta có thể thực hiện một số giải pháp:

18


- Suy nghĩ thật kĩ vấn đề mình sắp dạy:
- Tham khảo các câu hỏi gợi ý trong SGK, SGV, sách bài soạn. Xây dựng hệ
thống câu hỏi riêng của mình cho bài soạn.
- Cố gắng sử dụng nhiều hình thức diễn đạt khác nhau để hỏi về cùng một nội
dung;
- Chú ý đón bắt, khơi gợi những ý tưởng mới mẻ của học sinh, từ thực tế trả lời
của các em, điều chỉnh lại cách hỏi cho phù hợp.

3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học, nâng cao hiệu quả giảng dạy, cầnsử dụng
phần mềm Power Point vào việc soạn giáo án điện tử. Có thể khaithác mạng Internet
để có ảnh các tác giả, tranh minh họa, nhân vật hoặc chitiết, cảnh tượng… trong tác
phẩm. Có thể dùng phần mềm sơ đồ tư duy Mind-map để chia bố cục hoặc tổng kết,
khái quát nội dung bài học.
4. Cần chú ý tính tích hợp trong môn Ngữ Văn.
Tích hợp là sự kết hợp biện chứng giữa các yếu tố bộ môn Ngữ văn, baogồm
phần Văn – Tiếng việt – Tập làm văn. Thực tế chứng minh rằng, bộ mônngữ văn rất
cần quá trình tích hợp. Vì vậy, trong mỗi giờ ngữ văn, giáo viêncần nhấn mạnh yêu
cầu này để hiệu quả bộ môn ngữ văn ngày càng được nângcao. Đặc biệt, việc tích hợp

19


sẽ góp phần rèn luyện các kỹ năng cơ bản là:nghe, nói, đọc, viết cho học sinh theo mục
tiêu của môn học.
- Tích hợp ngang giữa các phân môn- văn, tiếng Việt , tập làm văn.
- Tích hợp dọc nội dung học tập đồng tâm giữa các khối lớp.
- Tích hợp giữa môn Ngữ văn với các môn học khác như: Lịch sử, Địalý...

20


PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận:
Như trong phần lí do chọn đề tài đã từng nói: Cảm nhận thơ Đường, thơ Đường
luật là một vấn đề khó; nhưng tổ chức, hướng dẫn để học sinh cảm nhận được nó lại là
một vấn đề còn khó hơn. Nó đòi hỏi người giáo viên đứng lớp phải công phu và thực
nghiệm. Là những giáo viên trực tiếp giảng dạy bản thân chúng tôi đã tìm tòi, học hỏi
và nghiên cứu tài liệu để từ đó đúc kết thành kinh nghiệm về phương pháp tiếp cận và
cảm thụ các tác phẩm thơ Trung đại Việt nam. Dù sao đi nữa, đây cũng chỉ là một kinh
nghiệm của một nhóm nên không thể nào tránh khỏi những sai sót nhất định. Kính
mong các thầy cô giáo và đồng nghiệp góp ý kiến chân thành để kinh nghiệm này hoàn
thiện hơn!
II. Kiến nghị:
- Thư viện nhà trường nên bổ sung nguồn tài liệu mới giới thiệu về cuộc đời, sự
nghiệp của các tác giả thơ trữ tình trung đại Việt Nam .
- Các tài liệu văn học giới thiệu về các giai đoạn phát triển của văn học nước
nhà gắn với các giai đoạn lịch sử của dân tộc.

Duyệt của BGH

Liên Châu, ngày 10 tháng 10 năm 2012
Người thực hiện

21


Nguyễn Thu Hƣơng

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×