Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN khai thác hình ảnh trực quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 – bài 4 “quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội” môn GDCD lớp 12

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"KHAI THÁC HÌNH ẢNH TRỰC QUAN VẬN DỤNG VÀO GIẢNG
DẠY TIẾT 3 – BÀI 4: “QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN
TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI” MÔN
GDCD LỚP 12"

1


PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.
Giáo dục công dân là một môn khoa học xã hội góp phần đào tạo học sinh thành những
người lao động mới, hình thành những phẩm chất tốt đẹp, tích cực của người công dân
tương lai; có thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiến bộ, có đạo đức trong sáng, để
thực hiện đường lối và nhiệm vụ cách mạng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sống và làm
việc theo Hiến pháp và pháp luật, có ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc, với nhân dân, với
gia đình và với bản thân mình.
Tuy nhiên, bộ môn Giáo dục công dân ở trường THPT hiện nay chưa được phụ
huynh, học sinh và một bộ phận giáo viên nhận thức một cách đúng đắn. Cho đến nay,

quan niệm môn GDCD là môn học bổ trợ, môn học phụ rất khô khan, trừu tượng, khó
học, vẫn còn tồn tại khá nặng nề. Tình trạng học sinh làm việc riêng, đưa môn khác ra
học trong giờ GDCD vẫn còn hoặc học sinh có học bài nhưng học theo kiểu ngồi “đọc
vẹt”, học thuộc lòng còn rất nhiều, vì thế mà sau khi học xong các em không nhớ được
nội dung, mà nếu có nhớ thì cũng chỉ nhớ theo kiểu thuộc lòng, chứ không hiểu nội dung
của bài học. Đặc biệt, đối với học sinh 12 - các em chỉ biết đề cao và chú tâm những môn
học theo khối, những môn liên quan đến thi tốt nghiệp mà coi thường môn GDCD. Chính
vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, rèn luyện
thói quen và khả năng tự học, tạo hứng thú học tập của học sinh đối với bộ môn GDCD,
giúp học sinh có thể hiểu, nắm vững được kiến thức là vấn đề quan trọng đang được các
cấp quản lí giáo dục và giáo viên hết sức quan tâm.
Có nhiều phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh, trong đó việc
khai thác hình ảnh trực quan vào giảng dạy môn GDCD là phương pháp thực sự có hiệu
quả. Thông qua hình ảnh trực quan, học sinh không chỉ hiểu kiến thức lý thuyết trong
từng đơn vị kiến thức bài học mà còn nắm được qui luật phát triển của xã hội, hiểu rõ hơn
về những hoạt động thực tiễn cuộc sống đã, đang và sẽ diễn ra; từ hình ảnh, học sinh sẽ
có kĩ năng tư duy, quan sát, trí tưởng tượng, kĩ năng phân tích, mô tả kiến thức thực tế từ
bên ngoài như: Kdusinxky đã từng nói “Hình ảnh được lưu giữ đặc biệt và vững chắc
trong trí nhớ là những hình ảnh mà chúng ta thu thập được từ bên ngoài” vì trong hình
ảnh, nó sẽ phản ánh đầy đủ, sinh động, thực tế cuộc sống của nhân dân với thành quả lao
động mà người dân đã và đang tạo ra. Từ đó, góp phần tạo cho bài giảng GDCD trở nên
sinh động và hấp dẫn hơn.
Trong chương trình GDCD lớp 12 hiện nay, tôi thấy bài “Quyền bình đẳng của công
dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội” (tiết 3) là một bài học hay thiết thực,
cung cấp cho học sinh có vốn hiểu biết ban đầu về pháp luật. Trong đó, tiết 3 - Quyền
2


bình đẳng trong kinh doanh là một tiết học có ý nghĩa quan trọng để các em hiểu được
quyền và nghĩa vụ trong kinh doanh của bản thân mình, từ đó các em biết tôn trọng, có ý
thức bảo vệ và thực hiện đúng pháp luật trong kinh doanh… Với dung lượng kiến thức
như thế, nếu giáo viên chỉ dạy đơn thuần bằng phương pháp thuyết trình, đàm thoại, vấn
đáp thì tiết học sẽ rất nhàm chán, chỉ dừng lại ở việc nhắc lại những kiến thức đã học mà
thôi.
Qua thực tiễn giảng dạy trong nhiều năm của bản thân, tôi đã tiến hành “ khai thác hình
ảnh trực quan” sử dụng vào nhiều bài giảng rất có hiệu quả. Đặc biệt, tôi tiến hành sử
dụng máy tính kết nối máy chiếu để trình chiếu hình ảnh cho học sinh quan sát, sau đó
gợi mở một số câu hỏi để học sinh tìm hiểu kiến thức và đã đem lại hiệu quả cao, gây
hứng thú học tập cho học sinh, học sinh chủ động tìm hiểu kiến thức qua hình ảnh, từ đó
góp phần tạo cho giờ học GDCD sinh động và hấp dẫn hơn. Bởi vậy, tôi chọn đề tài

“Khai thác hình ảnh trực quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 - Bài 4: Quyền bình đẳng
của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội - GDCD 12 THPT ” làm đề tài
sáng kiến kinh nghiệm của mình với mong muốn sẽ góp một phần nhỏ vào việc đổi mới
phương pháp giảng dạy bộ môn GDCD hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu.
Với đề tài này, tôi trình chiếu hình ảnh để học sinh chủ động khai thác kiến thức. Qua đó,
nhằm khắc sâu kiến thức pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh cho học sinh. Thông qua
hình ảnh, ví dụ và bài tập tình huống, học sinh hiểu khái niệm, nội dung và xác định được
trách nhiệm của bản thân mình đối với việc thực hiện quyền bình đẳng trong kinh doanh.
Từ đó góp phần giáo dục và định hướng cho việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai của học
sinh sau này. Quá trình thực hiện đề tài, tôi mong muốn giờ học GDCD thực sự là một
giờ học hấp dẫn, có ý nghĩa giáo dục và thực sự tạo được hứng thú học tập cho học sinh.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Trong phạm vi của đề tài, tôi chỉ tập trung đưa ra những hình ảnh, ví dụ và bài tập tình
huống về hoạt động kinh doanh có liên quan đến phần khái niệm, nội dung để vận dụng
vào dạy Bài 4 - tiết 3: Quyền bình đẳng trong kinh doanh, từ đó yêu cầu học sinh xác
định trách nhiệm của bản thân để góp phần thực hiện tốt quyền bình đẳng trong kinh
doanh.
4. Thời gian nghiên cứu.
Tôi đã tiến hành sử dụng hình ảnh trực quan vào giảng dạy bộ môn trong nhiều năm nay,
với đề tài này, tôi đã tập trung thực hiện trong thời gian học kỳ II, năm học 2011 -2012 và
tiếp tục nghiên cứu, bổ sung thực hiện và hoàn thành trong năm học 2012 - 2013 ở trường
THPT Bá Thước - Thanh hóa..
3


5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở phương pháp luận triết học Mác - Lênin, đề tài được thực hiện dựa trên
phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp tư duy - lôgic, phương pháp phân tích tổng hợp. Ngoài ra đề tài còn được thực hiện dựa trên các phương pháp: Qua thực tiễn
giảng dạy và học tập trên lớp (quan sát, điều tra thực tế), qua các kênh thông tin: Mạng
internet, sách, báo, các tài liệu chuyên ngành có liên quan, qua kinh nghiệm của các đồng
nghiệp, đặc biệt là các đồng nghiệp trực tiếp giảng dạy môn Giáo dục công dân.
6. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu:
- Khách thể: Chương trình SGK GDCD lớp 12 (Đã sửa đổi).
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 12 trường THPT Bá Thước.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƢƠNG 1: PHƢƠNG PHÁP KHAI THÁC HÌNH ẢNH TRỰC QUAN TRONG
VIỆC GIẢNG DẠY BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
1.1.Cơ sở lí luận của khai thác hình ảnh trực quan trong việc giảng dạy môn giáo
dục công dân:
Để khai thác hình ảnh trực quan phù hợp với nội dung của mỗi bài dạy, giáo viên cần
phải xác định kiến thức cơ bản và trọng tâm của bài, sau đó vận dụng khai thác hình ảnh
vào bài dạy linh hoạt, hợp lý. Như vậy, để khai thác hình ảnh trực quan, đòi hỏi giáo viên
phải có sự chuẩn bị chu đáo về mặt kiến thức, thời gian, lựa chọn, phân loại tranh ảnh
phù hợp với nội dung, hình thức tổ chức dạy học của từng bài, từng tiết, từng phần. Đặc
biệt, giáo viên phải biết sử dụng máy tính, máy chiếu thành thạo để soạn thảo và trình
chiếu hình ảnh là yêu cầu hết sức quan trọng, quyết định sự thành công của mỗi tiết học.
1.2. Yêu cầu của tranh ảnh trực quan.
Mỗi hình ảnh trực quan phải có mục đích rõ ràng, phải có nội dung muốn chuyển tải, phải
đảm bảo kích cỡ, độ nét tương ứng.
Để đưa lại hiệu quả cao, khi khai thác hình ảnh, giáo viên cần kết hợp với miêu tả, phân
tích, đánh giá nôi dung trên hình ảnh.
Sau khi quan sát kĩ hình ảnh, học sinh sẽ có kĩ năng tư duy khái quát, phân tích, tổng
hợp...để đưa ra kết luận của mình về nội dung mà hình ảnh muốn chuyển tải.
1.3. Nguồn tranh ảnh.

4


Tiết học “Quyền bình đẳng trong kinh doanh” là tiết học có nguồn tư liệu rất phong phú
nên giáo viên phải biết cách lựa chọn hình ảnh chuẩn xác, gần gũi với học sinh và sát với
nội dung kiến thức chuyển tải.Sử dụng các loại tranh tải từ mạng Intenet,Các loại tranh
sưu tầm từ các tập san, báo chí hay giáo viên dùng máy chụp hình ghi lại những hình ảnh
cần thiết, sau đó phóng theo kích cỡ qui định áp dụng vào bài dạy.
1.4. Sử dụng máy vi tính, máy chiếu.
Để khai thác hình ảnh có hiệu quả, yêu cầu giáo viên phải có kĩ năng sử dụng máy tính
kết nối máy chiếu. Trong quá trình sắp xếp hình ảnh để trình chiếu, có nhiều cách sắp xếp
hình ảnh:
- Sắp xếp hình ảnh cùng một nôi dung trên nhiều Slides khác nhau
- Sắp xếp hình ảnh cùng một nội dung kiến thức trên cùng một Slides
Sau đó, giáo viên cần chọn hiệu ứng phù hợp (nên chọn hiệu ứng Fade)
- Tránh chiếu nhiều hình ảnh chỉ chuyển tải một nội dung kiến thức trên nhiều Slides và
nhiều loại hiệu ứng khác nhau, như thế sẽ không khắc sâu trí nhớ cho học sinh, vả lại
khiến người quan sát sẽ có cảm nhận giờ học “rối”, “lướt nhanh”...quá nhiều hình ảnh.
CHƢƠNG 2:THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC MÔN GDCD NGÀY NAY
Theo quan niệm của nhiều giáo viên cũng như học sinh cho rằng, giảng dạy và học tập
môn GDCD là một môn học khô khan, trừu tượng và khó tiếp thu vì: kiến thức của môn
học là kiến thức về triết học, về đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước Chính vì thề mà nhiều giáo viên và học sinh thường chán nản. Trên thực tế, bên
cạnh những giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học thì vẫn có nhiều giáo viên
không muốn đổi mới hoặc cũng dạy theo hướng đổi mới nhưng còn mang nặng tính hình
thức, đối phó... Thậm chí nhiều giáo viên cho rằng: Việc phát huy tính tích cực của học
sinh ở môn GDCD còn hạn chế là do vị trí của bộ môn ở trường THPT nói chung, ở
trường THPT Bá Thước nói riêng bị xem nhẹ, không phải là môn thi tốt nghiệp, do vậy
học sinh không chịu học…
Xuất phát từ thực tiễn dạy học như vậy và từ chính kinh nghiệm giảng dạy ở trường
THPT Bá Thước của bản thân, tôi nhận thấy rằng với sự phát triển như vũ bão của
KHCN hiện nay cần đào tạo con người một cách toàn diện. Muốn vậy,các em phải hứng
thú say mê trong học tập. Để làm được điều đó, bản thân giáo viên phải kích thích năng
lực tư duy sáng tạo của học sinh qua các bài học bằng các phương pháp mới. Chính vì
vậy, tôi đã chọn phương pháp giảng dạy này làm đề tài nghiên cứu của mình.

5


CHƢƠNG 3: KHAI THÁC HÌNH ẢNH TRỰC QUAN VẬN DỤNG VÀO GIẢNG
DẠY BÀI 4: QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG MỘT SỐ LĨNH
VỰC CỦA ĐỜI SỖNG XÃ HỘI – TIẾT 3: QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG KINH
DOANH
3.1. Mục tiêu bài học.
Học xong tiết học này học sinh cần nắm được những những yêu cầu sau:
3.1.1. Về kiến thức:
- Hiểu khái niệm kinh doanh, bình đẳng trong kinh doanh,
- Nội dung quyền bình đẳng trong kinh doanh.
- Từ đó thấy được vai trò của bình đẳng trong kinh doanh với việc xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN.
- Trách nhiệm của công dân trong việc đảm bảo và thực hiện quyền bình đẳng trong
kinh doanh.
3.1.2. Về kỹ năng:
- Biết thực hiện và nhận xét việc thực hiện quyền bình đẳng trong kinh doanh.
3.1.3. Về thái độ:
- Có ý thức tôn trọng quyền bình đẳng của công dân trong kinh doanh.
- Phê phán những hành vi vi phạm quyền bình đẳng trong kinh doanh.
3.2. Tài liệu, phƣơng tiện và các kĩ năng sống.
3.2.1. Tài liệu.
- Sách giáo khoa GDCD lớp 12, sách chuẩn kiến thức kỹ năng GDCD 12
- Sách bài tập tình huống GDCD 12
- Hiến pháp 1992, Luật doanh nghiệp, Luật sỡ hữu trí tuệ
3.2.2. Phương tiện.
- Máy tính kết nối máy chiếu
- Phiếu học tập in sẵn bài tập tình huống để phát cho học sinh
- Tranh ảnh có liên quan đến từng đơn vị kiến thức.
3.2.3. Các kĩ năng sống.

6


- Giáo dục kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin về sự bình đẳng quyền và nghĩa vụ trong
kinh doanh
- Giáo dục kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng ra quyết định trong xử lí tình huống
- Giáo dục kĩ năng hợp tác tìm hiểu nội dung quyền bình đẳng trong kinh doanh
- Giáo dục kĩ năng tư duy phê phán những trường hợp vi phạm quyền bình đẳng trong
kinh doanh.
3.3. Tiến trình lên lớp.
3.3.1. Ổn định tổ chức:
Kiểm tra sĩ số lớp.
3.3.2. Kiểm tra bài cũ:
Thế nào là bình đẳng trong lao động? Là học sinh em cần phải làm gì để góp phần
thực hiện tốt quyền bình đẳng của công dân trong lao động?
3.3.3.Giảng bài mới:
BÀI 4: QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC
CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI (TIẾT 3) - PPCT: TIẾT 11 GDCD 12 THPT.

7


Hoạt động của giáo viên và học sinh

Nội dung chính cần đạt
3. Bình đẳng trong kinh doanh.

Hoạt động1: Tìm hiểu khái niệm kinh a. Thế nào là bình đẳng trong
doanh, khái niệm bình đẳng trong kinh kinh doanh?
doanh.
(Hoạt động này nhằm giáo dục học sinh kĩ
năng tìm kiếm và xử lí thông tin, kĩ năng giải
quyết vấn đề/ra quyết định trong xử lí tình
huống để tìm hiểu quyền bình đẳng trong kinh
doanh)
- Giáo viên: trình chiếu một số hình ảnh về
hoạt động kinh doanh và phân tích nội dung
hình ảnh để học sinh thấy được trong nền kinh
tế thị trường, các hình thức tổ chức kinh doanh
đa dạng, phong phú, tham gia tích cực vào
cạnh tranh (mọi người được tự do kinh doanh
theo pháp luật); “mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật”.

8


Buôn Bán mũ bảo hiểm

SX dệt may

Buôn bán bánh kẹo

Buôn bán hoa quả

Sau đó GV hỏi:
1. Những hình ảnh trên miêu tả hoạt
động gì? Em hãy cho biết mục đích
của hoạt động đó?
HS trả lời: Những hình ảnh trên miêu
tả hoạt động kinh doanh và mục đích
của hoạt động đó là nhằm đem lại lợi
nhuận.
GV: Phân tích hình ảnh để HS thấy
được đó là một quá trình thực hiện liên
tục từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
trên thị trường nhằm đưa lại lợi nhuận
=> kinh doanh.
2. Vậy em hiểu kinh doanh là gì?
HS trả lời.
GV nhận xét cho HS lĩnh hội khái
niệm:

- Kinh doanh là việc thực hiên

9


liên tục một, một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình đầu
tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên
3. Động lực nào để thúc đẩy quá trình thị trường nhằm mục đích sinh
lời.
kinh doanh phát triển?
HS trả lời: Để thúc đẩy kinh doanh
phát triển, chúng ta phải tạo ra một môi
trường kinh doanh tự do, bình đẳng
trên cơ sở của pháp luật.
Sau khi học sinh trả lời động lực để
thúc đẩy kinh doanh phát triển thì GV
chuyển hoạt động bằng việc tổ chức
cho HS thảo luận bài tập tình huống
qua phiếu học tập sau:
Bài tập tình huống: Tốt nghiệp THPT,
đã 18 tuổi, Hoàng quyết định bắt đầu
sự nghiệp bằng nghề kinh doanh. Sau
khi tham dự khóa đào tạo ngắn hạn về
kinh doanh, Hoàng thưa chuyện với bố
mẹ để xin cấp vốn và đã được bố mẹ
đồng ý. Công việc đầu tiên mà Hoàng
phải làm là nộp bộ hồ sơ đăng ký kinh
doanh lên Ủy ban nhân dân huyện. Thế
nhưng, anh cán bộ tiếp nhận hồ sơ thì
lại giải thích rằng, Hoàng không thể
được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký
kinh doanh vì mới tốt nghiệp THPT,
vừa mới qua tuổi vị thành niên. Hoàng
suy nghĩ: Pháp luật đâu có quy định
người đã thành niên nhưng vừa mới tốt
nghiêp THPT không được đăng ký kinh
doanh?
Câu hỏi bài tập:
1. Lời giải thích của anh cán bộ tiếp
10


nhận hồ sơ có đúng pháp luật không?
2. Hoàng có quyền bình đẳng như mọi
người đã thành niên khác trong việc
được cấp Giấy chứng nhận đăng kí
kinh doanh không? Vì sao?
HS: Thảo luận câu hỏi
GV: kết luận: Lời giải thích của anh
cán bộ tiếp nhận hồ sơ là không đúng
pháp luật. Hoàng có quyền bình đẳng
như mọi người đã thành niên khác
trong việc được cấp giấy chứng nhận
đăng kí kinh doanh, vì vừa mới tốt
nghiệp nhưng Hoàng đã tham dự khóa
đào tạo ngắn hạn(có trình độ), được bố
mẹ đồng ý và cấp vốn và đã đủ tuổi
thành niên.
3. Từ bài tập tình huống trên em hiểu
bình đẳng trong kinh doanh là gì?
HS: Trả lời khái niệm.
GV Cho HS lĩnh hội khái niệm:

GV: trình chiếu hình ảnh

- Bình đẳng trong kinh doanh có
nghĩa là mọi cá nhân, tổ chức khi
tham gia vào quan hệ kinh tế, từ
việc lựa chọn ngành nghề, địa
điểm, hình thức tổ chức kinh
doanh đến việc thực hiện quyền
và nghĩa vụ trong quá trình sản

11


xuất kinh doanh đều bình đẳng
theo quy định của pháp luật.

SXKD quần áo

SXKD hàng gia dụng

SXKD dầu ăn

SXKD máy tính

GV: Phân tích những hình ảnh trên cho
HS thấy mọi cá nhân, tổ chức đều có
quyền bình đẳng trong việc lựa chọn
ngành, nghề, địa điểm, hình thức kinh
doanh ngành,
SX giày
thể thao

15


nghề mà pháp luật không cấm
2. Việc doanh nghiệp tự chủ đăng ký khi có đủ điều kiện theo qui định
kinh doanh trong khuôn khổ của pháp của pháp luật.
luật có tác dụng gì?
HS: ND này nhằm đảm bảo sự bình
đẳng, an toàn nằm trong sự kiểm soát
của Nhà nước..để mọi doanh nghiệp
đều có quyền tự chủ đăng kí kinh
doanh. Từ đó, họ sẽ yên tâm sản xuất
và góp phần tạo nên một xã hội trật tự
lành mạnh, bình đẳng.
GV: trình chiếu hình ảnh tiếp theo:

Giá xăng bình đẳng

Dự thảo luật quản lí giá cả

GV: Dù là Công ty xăng dầu của tư
nhân hay của Nhà nước thì giá bán
trên thị trường phải như nhau, bình
đẳng với nhau…có như thế mới đảm
bảo quyền kinh doanh lâu dài cho
doanh nghiệp.
Để thực hiện quyền bình đẳng trên thị
trường nhằm đưa ra khung giá, bình
ổn giá, tạo ra môi trường pháp lí công
khai, minh bạch, Bộ tài chính đã tổ
chức Hội nghị dự thảo luật quản lí giá
cả cho các doanh nghiệp trong phạm
vi cả nước.
GV hỏi: Những hình ảnh vừa quan
16


sát cho các em biết nội dung nào về
quyền bình đẳng trong kinh doanh?
HS trả lời nội dung thứ 3.

- Thứ ba, mọi doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau đều được bình đẳng trong
việc khuyến khích phát triển lâu
GV: Ví dụ: Để đảm bảo việc kinh dài.
doanh lâu dài, hiện nay ở Thanh Hóa
nói riêng và cả nước nói chung, tất cả
các mặt hàng kinh doanh đều phải Niêm yết bảng giá quần áo
được niêm yết bảng giá công khai theo
qui định của pháp luật.

GV: Nhà nước ta khuyến khích mở
rộng sản xuất, kinh doanh dù ở bất kỳ
ngành, nghề nào. Tuy nhiên, trong sản
xuất, kinh doanh không thể tránh khỏi
cạnh tranh trên thị trường nhưng vấn
đề là cạnh tranh phải diễn ra một cách
lành mạnh, không được vi phạm pháp
luật mới đảm bảo sự bình đẳng trong
kinh doanh.
GV hỏi: Em hãy lấy ví dụ về các việc
làm vi phạm pháp luật của một số cá
nhân, doanh nghiệp… mà em biết?

Niêm yết giá rau củ quả.

HS: việc làm hàng giả, hàng nhái kém
chất lượng, tình trạng buôn bán phụ nữ
và trẻ em, kinh doanh mặt hàng không
rõ nguồn gốc xuất xứ, tình trạng đầu
cơ tích trữ (xăng dầu, gạo…ở
TPHCM).
GV: trình chiếu hình ảnh để minh họa
về việc kinh doanh trái pháp luật trên
địa bàn Thanh hóa nói riêng, trong
17


phạm vi cả nước nói chung và đã bị xử
lí theo qui định của pháp luật.

Buôn bán ngà voi

Hồ Viết Hiển - Nghệ An
- SX 300kg mì chính giả

Buôn bán rƣợu giả

Xét xử các đối tƣợng đã buôn bán phụ
nữ và trẻ em tại Hà Giang

GV :Ở hình ảnh dưới là anh Hồ Viết
Hiển, sinh năm 1956 tại Nghệ An đã
cho sản xuất và tiêu thụ 300kg mì chính
giả lấy nhãn hiệu Azinomoto và
Miwuon. Với vai trò của mình, đội
quản lý thị trường đã cho tịch thu toàn
bộ mặt hàng của anh Hiển, đồng thời
tiến hành bắt tạm giam để tiếp tục điều
tra sự việc.
Còn ở hình ảnh bên cạnh là việc đã xẩy
ra tại Hà Giang - Tình trạng buôn bán
phụ nữ và trẻ em bị đưa ra xét xử.
=> Điều đó khẳng định vai trò quan
trọng của pháp luật trong lĩnh vực kinh
doanh hiện nay.
GV: chiếu hình ảnh mở rộng qui mô
kinh doanh.
Vídụ: Ở Bá Thước có nhiều doanh
18


nghiệp, trong đó có doanh nghiệp Hon
đa Cường Nhung. Doanh nghiệp này đã
tự chủ đăng kí kinh doanh để nâng cao
hiệu quả và khả năng cạnh tranh của
mình bằng cách: phục vụ khách hàng
tận tình, đảm bảo chất lượng, giá cả phù
hợp, mẫu mã, hình thức đẹp, bền, giữ
uy tín lâu dài cho khách hàng…

Mở rộng quy mô
KD xe máy

Mở rộng quy mô
KD thủy hải sản

Xuất khẩu

Câu hỏi: Thông qua ví dụ và hình
ảnh trên, em hãy cho biết nội dung
thứ 4 về quyền bình đẳng trong kinh

19


doanh?
HS trả lời nội dung thứ 4.

- Thứ tƣ, mọi doanh nghiệp đều
bình đẳng về quyền tự chủ kinh
doanh để nâng cao hiệu quả và
khả năng cạnh tranh.

GV hỏi: Tương tự, các em hãy cho ví
dụ chứng tỏ việc mở rộng qui mô sản
xuất kinh doanh những ngành nghề
khác trên địa bàn Thanh Hóa mà em
biết?
GV: trình chiếu hình ảnh và chỉ rõ để
HS biết được ở Thanh Hóa có những
làng nghề truyền thống như nghề đúc
đồng ở huyện Thiệu Hóa, nghề dệt
chiếu ở huyện Nga Sơn…đã mở rộng
cơ sở sản xuất kinh doanh trong khuôn
khổ của pháp luật. Hiện nay, những
làng nghề này đang phát triển mạnh và
có uy tín trong tỉnh nói riêng và trong
phạm vi cả nước nói chung.

Nghề đúc đồng Thiệu Hóa

Nghề dệt chiếu Nga Sơn

GV hỏi: Em hãy nêu nội dung thứ 5
của, quyền bình đẳng trong kinh
doanh?
HS trả lời nội dung thứ 5

- Thứ năm, mọi doanh nghiệp
đều bình đẳng về nghĩa vụ trong
20


quá trình hoạt động kinh doanh.
GV giảng giải: Bất kỳ một người kinh
doanh nào ở bất kỳ một ngành nghề
nào đều bình đẳng về nghĩa vụ như
nhau trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
GV hỏi:
1. Theo em, trong quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh, mọi doanh
nghiệp đều bình đẳng về những nghĩa
vụ gì?
HS: Trong quá trình hoạt động kinh
doanh, mọi doanh nghiệp đều bình
đẳng về những nghĩa vụ: kinh doanh
đúng ngành nghề đã đăng ký, nộp thuế,
khai báo tài chính, bảo vệ môi trường,
bảo đảm quốc phòng an ninh..
2. Thực hiện tốt những nghĩa vụ trên
có tác dụng như thế nào?
HS: Thực hiện tốt những nghĩa vụ trên
sẽ đảm bảo quyền bình đẳng cho công
dân trong xã hội, xã hội ổn định, phát
triển bền vững, góp phần xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam.
GV: tiếp tục trình chiếu hình ảnh:

21


Câu hỏi: Quan sát hình ảnh trên cho
các em biết điều gì?
HS: đó là hình ảnh Công ty VEDAN
và dòng sông Thị Vải.
GV giải thích: Công ty này trong quá
trình sản xuất kinh doanh đã vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường, xã
nước thải ước tính mỗi ngày 4000m3
xuống dòng sông Thị Vải. Vì vậy cùng
với đợt thực hiện cuộc vận động “người
Việt Nam dùng hàng Việt Nam” người
dân 3 tỉnh: Vũng Tàu, Đồng Nai,
TPHCM có một thời gian đã cho “tẩy
chay” mặt hàng của công ty VEDAN
để nhằm cảnh cáo sự vi phạm môi
trường của công ty...Sau đó, để lấy lại
uy tín, thương hiệu cho công ty, Tổng
Giám đốc công ty buộc phải xin lỗi và
hứa sẽ bồi thường những thiệt hại mà
công ty đã gây ra cho người dân.
=>Hình ảnh và thông tin trên cũng
muốn nhắc nhở mọi cá nhân, doanh
nghiệp... khi tham gia hoạt động sản
xuất kinh doanh phải thực hiện đúng
nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
trong lĩnh vực kinh doanh.

22


Để khắc sâu kiến thức trọng tâm cho
HS, GV trình chiếu sơ đồ tóm tắt nội
dung quyền bình đẳng trong kinh
doanh :

- Mọi công dân đều có quyền chọn hình thức tổ chức kinh
doanh tùy theo khả năng, sở thích nếu có đủ điều kiện.

NỘI
DUNG
QUYỀN
BÌNH
ĐẲNG
TRONG
KINH
DOANH

- Mọi DN đều có quyền tự chủ đăng kí KD trong những
ngành, nghề mà pháp luật không cấm khi có đủ điều kiện
theo qui định của pháp luật.
- Mọi DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đều được
bình đẳng trong việc khuyến khích phát triển lâu dài.
- Mọi DN đều bình đẳng về quyền tự chủ kinh doanh để
nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh.
- Mọi DN đều bình đẳng về nghĩa vụ trong quá trình hoạt
động kinh doanh .

Sau khi tổng kết mục bằng sơ đồ kiến
thức trên
GV hỏi: Em hãy cho biết vai trò bình
đẳng trong kinh doanh với việc xây
23


dựng nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam?
HS trả lời
GV nhận xét, kết luận:

=> Thực hiện quyền bình đẳng
trong kinh doanh sẽ tạo điều kiện
kinh tế phát triển lâu dài, ổn
định; tạo sự cạnh tranh lành
mạnh; góp phần xây dựng môi
trường kinh doanh bình đẳng
trong xã hội, đưa nền kinh tế thị
trường phát triển mạnh mẽ, đảm
bảo đúng định hướng XHCN.

Để khắc sâu tính thực tiễn của bài, GV
nêu câu hỏi liên hệ: Cho biết tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh trên
địa bàn huyện Bá Thước -Thanh Hóa
diễn ra như thế nào? Đã đảm bảo
quyền bình đẳng trong kinh doanh
cho mọi công dân và mọi doanh
nghiệp hay chưa?
HS tự suy nghĩ trả lời.
GV chuyển ý: Để đảm bảo quyền bình
đẳng trong kinh doanh cho cá nhân,
doanh nghiệp…Nhà nước ta phải có
trách nhiệm gì? (GV nói rõ phần này
đã giảm tải theo qui định của Bộ Giáo
dục nên GV chỉ hướng dẫn HS tìm hiểu,
đọc thêm ở nhà ).
GV chuyển ý: Để góp phần thực hiện
tốt quyền bình đẳng trong kinh doanh,
công dân - học sinh cần phải làm gì?
Hoạt động 3: Tìm hiểu trách nhiệm
của công dân - học sinh.
24


(Hoạt động này nhằm giáo dục HS kĩ
năng tự nhận thức ý thức, trách nhiệm c, Trách nhiệm của công dân của mình và kĩ năng hợp tác để thảo học sinh.
luận trách nhiệm của công dân - học
sinh)
GV: Phát phiếu học tập số 2 cho HS
thảo luận chung cả lớp bằng câu hỏi:
Là công dân - HS, em cần phải làm gì
để góp phần thực hiện tốt quyền bình
đẳng trong kinh doanh hiện nay?

+ Tích cực nâng cao chất lượng
HS: thảo luận xác định trách nhiệm của học tập.
mình.
+ Năng động, sáng tạo trong lao
động.
+ Nắm bắt khoa học tiên tiến,
hiện đại.
+ Tham gia giúp đỡ gia đình làm
kinh tế.
+ Tìm hiểu và có ý thức thực
hiện pháp luật.
+ Tham gia sản xuất kinh doanh
trong bất kỳ thành phần kinh tế
nào.
+ Không vi phạm quyền và lợi
ích của doanh nghiệp và người
tiêu dùng…
4. Cũng cố, luyện tập:
GV đưa các dạng bài tập để cũng cố bài.
5.Dặn dò:
- Về nhà học bài cũ và làm các bài tập trong SGK.
- Đọc trước bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc ,tôn giáo.

25


- Đọc tư liệu tham khảo: Điều 16 Hiến pháp 1992, điều 5 luật Doanh nghiệp,điều 7 luật
Bình đẳng giới.
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
Từ thực trạng giảng dạy môn GDCD ở trường THPT Bá Thước, sau khi tìm hiểu sở
thích, tâm lý của học sinh, chúng tôi đã mạnh dạn vận dụng một số phương pháp mới
trong đó có Phương pháp khai thác hình ảnh trực quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội ở một
số lớp 12. Cụ thể, năm học 2011 - 2012 tôi đã chọn lớp 12A5 và lớp 12A7 (hai lớp có
trình độ tương đương nhau) để làm thực nghiệm, năm học 2012 - 2013, qua đúc rút kinh
nghiệm của năm học trước, kì I của năm học này, tôi tiếp tục thực nghiệm ở hai lớp 12A6
và 12A8.
- Lớp 12A5 và lớp 12A6 tôi tiến hành dạy bằng phương pháp thuyết trình, đàm
thoại, vấn đáp.
- Lớp 12A7 và lớp 12A8 tôi tiến hành dạy bằng phương pháp khai thác hình ảnh trực
quan kết hợp với các phương pháp dạy học khác.
Qua điều tra, tôi đã thu được kết quả như sau:
4.1. Về phía giáo viên
- Đại đa số giáo viên trong tổ, nhóm dự giờ đều ủng hộ và khích lệ tôi sử dụng
phương pháp này.
- Kết quả giờ dạy: Tất cả các giáo viên trong tổ, nhóm đều đồng ý xếp giờ dạy loại
giỏi (17 -> 19điểm)
4.2. Về phía học sinh.
Đối với lớp 12A5 và lớp 12A6, lớp học trầm, tinh thần hợp tác xây dựng bài của học sinh
chưa sôi nổi, một số học sinh cảm thấy nặng nề, mệt mỏi, nhàm chán, khó tiếp nhận kiến
thức.
Đối với lớp 12A7 và lớp 12A8, học sinh làm việc tích cực, xây dựng bài sôi nổi, học sinh
không cảm thấy nhàm chán. Đại đa số học sinh tiếp nhận kiến thức tốt, biết thực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình trong kinh doanh, biết liên hệ thực tiễn và biết xác định trách
nhiệm của bản thân để góp phần thực hiện tốt quyền bình đẳng trong kinh doanh.
Sau khi học xong, tôi đã tiến hành kiểm tra kiến thức của học sinh ở cả 4 lớp 12A5, 12A6
và 12A7, 12A8 với hình thức là kiểm tra viết trong (15 phút).
Câu hỏi: Sau khi tốt nghiệp THPT, nếu em có ý định thành lập doanh nghiệp tư nhân
thì em có quyền thực hiện ý định đó không? Vì sao?
26


Kết quả kiểm tra lớp 12A5 và 12A7 năm học 2011 - 2012 nhƣ sau:
Năm học

Đối tƣợng

Giỏi

Khá

Trung
bình

Yếu

10

21

4

(29%)

(60%)

(11%)

22

11

1

(59%)

(29%)

(3%)

Kiểm tra

2011 - 2012

12A5
HS)

(35 0

12A7
HS)

(38 4

(0%)

(10%)

Kết quả kiểm tra lớp 12A6 và 12A8 năm học 2012 - 2013 nhƣ sau:
Năm học

Đối tƣợng

Giỏi

Khá

Trung
bình

Yếu

15

21`

3

(37%)

(52%)

(8%)

20

9

0

(57%)

(26%)

(0%)

Kiểm tra

2012 - 2013

12A6
HS)

(40 1

12A8
HS)

(35 6

(3%)

(17%)

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận:
Đề tài được nghiên cứu từ thực tiễn và kinh nghiệm giảng dạy của bản thân ở trường
THPT Bá thước, thực sự đem lại cho học sinh kết quả cao trong quá trình học tập, học
sinh không chỉ nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn biết thực hiện tốt pháp luật trong
lĩnh vực kinh doanh, biết tuyên truyền, phổ biến pháp luật về kinh doanh và biết đấu
tranh phê phán những hoạt động kinh doanh trái pháp luật của một số cá nhân, doanh
nghiệp…trong xã hội.
Khai thác hình ảnh trực quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 - bài 4 lớp12 là một phương
pháp quan trọng và mang lại hiệu quả cao trong giờ dạy. Việc vận dụng phương pháp này
làm cho học sinh dễ hiểu, học tập tích cực, ghi nhớ kiến thức lâu hơn, làm cho giờ dạy

27


GDCD trở nên gần gũi, sinh động, lôi cuốn các em vào bài giảng, giúp các em tìm hiểu
khái niệm, nội dung quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực kinh doanh trong đời
sống xã hội. Quan trọng hơn là giáo dục ý thức trách nhiệm công dân - học sinh trong
việc thực hiện pháp luật trong kinh doanh. Bản thân các em không những thực hiện tốt
mà còn góp phần vào việc tuyên truyền cho những người khác cùng thực hiện. Đồng thời,
bài học cũng là hành trang để học sinh bước vào cuộc sống tương lai sau này.
2. Kiến nghị, đề xuất:
Giáo dục công dân là một bộ môn rất quan trọng bởi nó góp phần không nhỏ trong việc
giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh; giáo dục ý thức thực hiện chính sách, pháp luật
của Đảng và Nhà nước, tạo nên những phẩm chất của một công dân trong chế độ XHCN.
Nhưng thực tế bộ môn này chưa thực sự được coi trọng theo đúng nghĩa của nó. Tài liệu
để phục vụ cho giảng dạy và học tập rất nghèo nàn, do đó giáo viên mất rất nhiều thời
gian để thu thập thông tin, xử lí và sắp xếp hình ảnh. Điều chúng tôi mong muốn là có
nguồn thông tin tư liệu chính xác, cập nhật từ những kênh chính thức của nghành giáo
dục. Chúng tôi cũng đề nghị Sở Giáo dục và đào tạo Thanh Hóa thường xuyên mở các
lớp bồi dưỡng để chúng tôi được tiếp nhận những thông tin thời sự mới, chính sách mới,
văn bản mới để giáo viên không bị lạc hậu và giảng dạy tốt hơn nữa.
Đề nghị các cấp lãnh đạo, tạo điều kiện hơn nữa về cơ sở vật chất, các phương tiện
dạy học như: Phòng học bộ môn, máy chiếu kết nối máy tính để có thể thiết kế sơ đồ kiến
thức trên phần mềm Power Point, các loại băng hình, tranh ảnh…để giáo viên có thể thực
hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn GDCD tích cực và có hiệu quả hơn.
Để có một giờ dạy thành công, giáo viên phải đầu tư nhiều về thời gian, công sức
và sự say mê nghề nghiệp, tích cực sưu tầm và biết lựa chọn tranh ảnh tiêu biểu phù hợp
với từng bài dạy. Giáo viên phải không ngừng rèn luyện, học tập, bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ để nâng cao chất lượng giờ dạy.
Khi sử dụng tranh ảnh trực quan trên máy chiếu, yêu cầu giáo viên phải hết sức linh hoạt,
biết sử dụng máy tính kết nối máy chiếu thành thạo, phân bố thời gian hợp lý cho các đơn
vị kiến thức, tránh tình trạng tốn nhiều thời gian dẫn đến “cháy giáo án”.
Phương pháp khai thác hình ảnh trực quan là phương pháp giảng dạy đem lại hiệu quả
cao trong dạy học GDCD, đó là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, chúng ta không
tuyệt đối hoá bất kì một phương pháp dạy học nào. Trong quá trình giảng dạy, người giáo
viên phải kết hợp các phương pháp truyền thống và hiện đại vào bài giảng một cách linh
hoạt để đem lại niềm say mê, hứng thú học tập cho học sinh.
Đề tài được nghiên cứu từ thực tiễn giảng dạy tại trường THPT Bá Thước và kinh
nghiệm của bản thân. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp, để tôi tiếp
28


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×