Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN kích thích hứng thú học tập bộ môn tin học THPT thông qua dạy học chương trình con

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"KÍCH THÍCH HỨNG THÚ HỌC TẬP BỘ MÔN TIN HỌC THPT
THÔNG QUA DẠY HỌC CHƢƠNG TRÌNH CON"

1


A.- ĐẶT VẤN ĐỀ

1.- Lý do chọn đề tài:
Công nghệ thông tin là một ngành khoa học đang phát triển rất mạnh mẽ. Sự bùng
nổ thông tin trong thời đại ngày nay, tốc độ phát triển của công nghệ thông tin khiến cho
người thầy không thể hết mọi điều cho học trò, mà dù có kéo dài thời gian để dạy hết
mọi điều thì rồi các kiến thức đó cũng nhanh chóng trở nên lạc hậu,
Do đó người thầy cần phải tìm ra phương pháp dạy học tích cực hơn để tăng hiệu
quả dạy và học. Dạy học sinh cách chủ động, phương pháp học, cách học những điều mà
thực tế đòi hỏi thay vì chuyển tải một lượng kiến thức quá nhiều đến mức chúng không
thể nhớ nổi hoặc có nhớ lúc học, còn lúc cần vận dụng thì quên sạch.
Môn Tin học là một môn học mới mẻ của học sinh THPT, học sinh chưa có khái

niệm về công nghệ thông tin, khái niệm thuật toán trong các ngôn ngữ lập trình, vì vậy rất
khó cho việc dạy và học.
Vậy cần phải có phương pháp dạy và học cho một môn học hoàn toàn mới.
2.- Mục đích yêu cầu:
Việc làm các bài tập về mảng hai chiều là một việc rất khó.

2


Vậy trước hết học sinh phải hình dung được mảng hai chiều như một bảng có các dòng
và các cột. Các dòng và các cột được đánh số liên tục bằng các số nguyên liên tiếp. Hai
đoạn số nguyên dùng để đánh số cho các dòng và các cột có thể khác nhau. Mỗi phần tử
của mảng hai chiều được hình dung như giá trị của một ô của bảng, mỗi ô có chỉ số dòng
và chỉ số cột.
Giống như mảng một chiều, có thể tham chiếu trên mỗi phần tử của mảng hai
chiều, nhưng khác ở chỗ mỗi phần tử của mảng hai chiều có hai chỉ số ( chứ không phải
có một chỉ số như mảng một chiều) và do vậy nó được xác định bởi tên mảng và hai chỉ
số của nó.
Mảng hai chiều là mảng một chiều mà mỗi phần tử của nó lại là một mảng một
chiều.
3.- Phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu.

Nội dung bài tập về mảng hai chiều có nhiều phần, trong phạm vi nghiên cứu này
chỉ đề cập đến một phần nhỏ của bài tập về mảng hai chiều, nhưng lại là một phần rất
quan trọng, đó là : tính tổng các phần tử nằm trên đường chéo chính, tính tổng các phần
tử nằm trên đường chéo phụ của mảng hai chiều có N cột và N hàng.

3


Để thực hiện được mục tiêu trên, yêu cầu học sinh cần nắm vững được kiến thức
sau:
- Cách khai báo kiểu dữ liệu mảng hai chiều
+ Khai báo gián tiếp
+ Khai báo trực tiếp
* Tên kiểu mảng hai chiều
* Số lượng phần tử của mỗi chiều
* Kiểu dữ liệu của phần tử
* Cách khai báo biến
* Cách tham chiếu đến phần tử

- Các kỹ năng
* Nhận biết được các thành phần trong khai báo kiểu mảng hai chiều
* Nhận biết được định danh của một phần tử mảng hai chiều xuất hiện trong một chương
trình. Cách tham chiếu đến một phần tử của mảng hai chiều.
* Viết được khai báo mảng hai chiều với các chỉ số thuộc kiểu nguyên.

4


4.- Đối tƣợng, phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
Đối tượng là học sinh khối 11 trường THPT Hồng Bàng, thực hiện kế hoạch nghiên
cứu trong phạm vi chương 4 - Kiểu dữ liệu có cấu trúc.

B.- NỘI DUNG
{phần khai báo mảng hai chiều }
Program mang_2_chieu;
type mang:array[1..100,1..100] of integer;
var i,j,n:integer;
a:mang;
Begin
{ Mảng hai chiều với số hàng bằng số cột bằng N }
writeln(' nhap so hang va so cot n:='); readln(n);
{Nhập các phần tử của mảng hai chiều với số hàng bằng số cột bằng N}
for i:=1 to n do
for j:=1 to n do

5


Begin
write(' nhap phan tu thu a[ hang ',i,' va cot ',j,']:='); readln(a[i,j]);
end;
{ Đưa ra màn hình các phần tử đã nhập của mảng ra màn hình}
for i:=1 to n do
begin
for j:=1 to n do
write(' cac phan tu cua mang la:=',a[i,j]:4);
writeln;
writeln;
end;
Readln;
End.
Trên là các thủ tục nhập phần tử cho mảng hai chiều và đưa ra các phần tử đã nhập của
mảng theo N hàng và N cột. Sau đây là các bài toán tính tổng các phần tử của mảng nằm
trên đường chéo chính và đường chéo phụ:

6


Trước hết ta phải xác định xem các phần tử nằm trên đường chéo chính giữa hàng
và cột có quy luật gì không: Ví dụ 1 mảng sau: Các phần tử nằm trên đường chéo chính
nằm ở ô có mầu sẫm

Hàng = cột = 4 Hay I = J = 4
A[Hàng, Cột]

J=1

J=2

J=3

J=4

I=1

8

9

13

5

I=2

-21

68

34

9

I=3

5

23

56

0

I=4

-89

21

6

7

I là chỉ số hàng trong mảng, J là chỉ số cột trong mảng, ta thấy mảng trên gồm I hàng và J
cột và I = J = 4.
Ta xét phần tử đầu tiên (từ trái sang phải) của đường chéo chính: I:=1 ; J:=1;
Hàng 1 cột 1
7


Phần tử thứ hai của đường chéo chính:

I:=2 ; J:=2;

Hàng 2 cột 2
Phần tử thứ ba của đường chéo chính:

I:=3 ; J:=3

Hàng 3 cột 3
Phần tử thứ tư của đường chéo chính:

I:=4 ; J:=4;

Hàng 4 cột 4
( Nếu mảng gồm N hàng và N cột thì theo cách tính như trên, phần tử cuối cùng
của đường chéo chính là hàng N cột N. Từ đó suy ra các phần tử nằm trên đường chéo
chính là các phần tử có hàng và cột bằng nhau ( nghĩa là I = J )
Vậy chương trình tính tổng các phần tử nằm trên đường chéo chính ta làm như sau:
{phần khai báo mảng hai chiều }
Program Tong_duong_cheo_chinh_mang_2_chieu;
type mang:array[1..100,1..100] of integer;
var Tong_duong_CC,i,j,n:integer;
a:mang;
Begin

8


{ Mảng hai chiều với số hàng bằng số cột bằng N }
writeln(' nhap so hang va so cot n:='); readln(n);
{Nhập các phần tử của mảng hai chiều với số hàng bằng số cột bằng N}
for i:=1 to n do
for j:=1 to n do
Begin
write(' nhap phan tu thu a[ hang ',i,' va cot ',j,']:='); readln(a[i,j]);
end;
{ Đưa ra màn hình các phần tử đã nhập của mảng ra màn hình}
for i:=1 to n do
begin
for j:=1 to n do
write(' cac phan tu cua mang la:=',a[i,j]:4);
writeln;
writeln;
end;

9


Tong_duong_CC:=0;
Begin
for i:=1 to n do
for j:=1 to n do
if i:=j then {phần tử có hàng bằng cột }
Tong_duong_CC:=Tong_duong_CC+A[i,j];
Writeln(' tong cac phan tu nam tren duong cheo chinh la',Tong_duong_CC);
end;
Readln;
End.
Theo cách trên ta có thể tìm ra thuật giải của bài toán tính tổng các phần tử nằm
trên đường chéo phụ: Với ví dụ sau ta thấy các phần tử nằm ở ô sẫm mầu:

Hàng = cột = 4 Hay I = J = 4 ( N=4)

10


A[Hàng, Cột]

J=1

J=2

J=3

J=4

I=1

8

9

13

5

I=2

-21

68

34

9

I=3

5

23

56

0

I=4

-89

21

6

7

Ta xét phần tử đầu tiên (từ trái sang phải )của đường chéo phụ:

I:=4 ; J:=1;

Hàng 4 cột 1
Phần tử thứ hai của đường chéo chính:

I:=3 ; J:=2;

Hàng 3 cột 2
Phần tử thứ ba của đường chéo chính:

I:=2 ; J:=3

Hàng 3 cột 3
Phần tử thứ tư của đường chéo chính:

I:=1 ; J:=4;

Hàng 1 cột 4

11


( Nếu mảng gồm N hàng và N cột thì theo cách tính như trên, phần tử cuối cùng
của đường chéo phụ là hàng 1 cột N, phần tử đầu tiên là hàng N cột 1 Từ đó suy ra các
phần tử nằm trên đường chéo phụ là các phần tử tổng hàng và cột
( I + J = N+1 ) suy ra J=N+1-I. Ta thấy khi I=4 (J = 4+1 - 4) => J=1, khi I=3 thì J = 2, . .
.
Vậy chương trình tính tổng các phần tử nằm trên đường chéo phụ ta làm như sau:

{phần khai báo mảng hai chiều }
Program Tong_duong_cheo_phu_mang_2_chieu;
type mang:array[1..100,1..100] of integer;
var Tong_duong_CP,i,j,n:integer;
a:mang;
Begin
{ Mảng hai chiều với số hàng bằng số cột bằng N }
writeln(' nhap so hang va so cot n:='); readln(n);
{Nhập các phần tử của mảng hai chiều với số hàng bằng số cột bằng N}
for i:=1 to n do
12


for j:=1 to n do
Begin
write(' nhap phan tu thu a[ hang ',i,' va cot ',j,']:='); readln(a[i,j]);
end;
{ Đưa ra màn hình các phần tử đã nhập của mảng ra màn hình}
for i:=1 to n do
begin
for j:=1 to n do
write(' cac phan tu cua mang la:=',a[i,j]:4);
writeln;
writeln;
end;
Tong_duong_CP:=0;
Begin
for i:=1 to n do
for j:=1 to n do

13


if j:=n+1-i then {phần tử có hàng bằng cột }
Tong_duong_CP:=Tong_duong_CP+A[i,j];
Writeln(' tong cac phan tu nam tren duong cheo chinh la',Tong_duong_CP);
end;
Readln;
End.

Qua cách tính như trên ta có thể tính toán được tất cả các đường chéo của mảng hai
chiều, tham chiếu đến các hàng, các cột của mảng hai chiều. Vì thực ra nếu tính riêng
hàng hoặc cột của mảng hai chiều thì đó chính là mảng một chiều.
Qua nghiên cứu và thực hiện việc giảng dạy kết quả như sau:

Đối chứng
Số
KT

bài Đạt yêu cầu

Thực nghiệm
Không
y.c

đạt Số bài Đạt yêu cầu
KT

14

Không
y.c

đạt


S.L

%

S.L

%

30

56%

24

44%

52(B10) 30

57%

22

43%

51(B9)

S.L

%

S.L

%

44(B1) 37

82%

16

18%

53(B8) 45

78%

14

22%

Trong đó lớp B1 và lớp B8 trình độ và tương đương nhau ( đầu vào ), lớp B9 có
trình độ tương đương với lớp B10

Biểu đồ

90
80
70
60
50
40
30
20
10
0

B5
B3
B9
B1

§.Yªu cÇu

%

K §¹t Y.C

%

15


C.- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Sau khi nghiên cứu và thử nghiệm tôi thấy cần có thời gian nhiều hơn để thử
nghiệm, vì vẫn còn có một số học sinh vẫn chưa đạt yêu tuy điểm kiểm tra xấp xỉ trung
bình.
Môn Tin học là một môn học mới mẻ của học sinh THPT, học sinh chưa có khái niệm về
công nghệ thông tin, khái niệm thuật toán trong các ngôn ngữ lập trình, vì vậy rất khó cho
việc dạy và học. Cần phải có thời gian nhiều hơn cho lý thuyết và thực hành, vì theo phân
phối chương trình như hiện thời gian giảng dạy còn ít, học sinh chưa nắm bắt được lý
thuyết cũng như thực hành. Đội ngũ giáo viên Tin học còn ít kinh nghiệm về giảng dạy,
cho nên bài tập thực hành còn ít, hầu như chỉ bó gọn trong sách giáo khoa, chưa có được
những thư viện về bài tập. Vận dụng và sử dụng các thiết bị về công nghệ thông tin còn
ít.

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×