Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm chọn bài thể dụng để nâng cao thành tích nhảy cao kiểu nằm nghiêng

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"CHỌN BÀI THỂ DỤNG ĐỂ NÂNG CAO THÀNH TÍCH NHẢY
CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG"


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đảng và nhà nước ta rất coi trọng nhân tố con người, coi con người là vốn quý nhất của
xã hội. Bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho con người là nhiệm vụ quan trọng trong đó
TDTT chiếm vị trí hàng đầu. Giáo dục thể chất là một mặt của giáo dục toàn diện đồng
thời là một bộ phận không thể tách rời của sự nghiệp giáo dục của đất nước ta.
Sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục thể chất nói riêng đã góp phần hết sức quan
trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và
thể chất để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, giữ vững và tăng
cường an ninh quốc phòng.
Tầm quan trọng của TDTT thể hiện rõ trong tư tưởng và việc làm của Chủ Tịch Hồ Chí
Minh – Người dạy: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng
cần đến sức khỏe mới thành công”.
Chỉ thị số 36 – CT/TW ngày 24 tháng 03 năm 1994 của BCH TW Đảng Cộng Sản Việt
Nam về công tác TDTT trong giai đoạn mới đã khẳng định phương hướng “Phát triển

TDTT là bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế – Xã hội của Đảng và
nhà nước, nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, công tác TDTT phải góp phần
tích cực nâng cao sức khỏe, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong
phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động của xã hội và
năng lực chiến đấu của lực lượng vũ trang”.
Trong cuộc sống hiện nay, vị trí công tác TDTT trong nhà trường càng được xác định theo
đúng tầm quan trọng của nó. Thông qua giáo dục trong bộ môn thể dục, bồi dưỡng cho học
sinh những đức tính dũng cảm, giúp học sinh biết được kĩ năng cơ bản để tập luyện giữ gìn
sức khỏe, nâng cao thể lực, góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỉ
luật, thói quen tự giác tập luyện thể dục thể thao, giữ gìn vệ sinh. Có sự tăng tiến về thể lực,
thi đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và thể hiện khả năng của bản thân về thể dục thể thao,
biết vận dụng những điều đã học vào nếp sinh hoạt ở trong và ngoài nhà trường, góp phần
chuẩn bị cho thế hệ trẻ có nếp sống, tác phong công nghiệp.
Trong giáo dục thể chất, điền kinh là nội dung cơ bản, là nền tảng để phát triển các tố
chất thể lực cơ sở cho các môn thể thao khác. Trong đó nhảy cao là một nội dung cơ bản
để phát triển các tố chất thể lực. Trước yêu cầu này đòi hỏi giáo viên lên lớp phải có
những phương pháp giảng dạy, những bài tập hợp lí phù hợp với sách giáo khoa, phù hợp
với lứa tuổi và đặc biệt là phát triển thành tích môn nhảy cao nằm nghiêng.


Trường THPT Hà Trung nằm trên địa bàn vùng trũng đồng bằng tuy nhiên nền tảng thể
lực của học sinh vẫn còn hạn chế, riêng thành tích môn nhảy cao nằm nghiêng của học
sinh khối lớp 12 còn thấp so với thành tích môn nhảy cao nằm nghiêng của các trường
trong huyện Hà Trung (Trường THPT Hoàng Lệ Kha, THPT Nguyễn Hoàng ).
Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu lựa chọn
một số bài tập phát triển sức mạnh nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu nằm
nghiêng cho học sinh nam khối lớp 12 trường THPT Hà Trung - Hà Trung - Thanh
Hóa ”


B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Quan điểm của Nhà nước, của Đảng, Bác Hồ về sự phát triển TDTT.
Bác Hồ của chúng ta là một tấm gương sáng trong phong trào tập luyện TDTT cho mọi
người dân Việt Nam, Bác thường xuyên tập luyện võ thuật và nhiều môn thể thao khác
nhằm tăng cường sức khỏe.
Từ ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm chăm lo sức
khỏe của toàn dân, trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục ( 03/1946 ) Người nói: “... mỗi
một người dân mạnh khỏe... góp phần cho cả nước mạnh khỏe”, “... Dân cường thì nước

thịnh. Tôi mong đồng bào bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi ngày nào cũng tập.”
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ.
Trong văn kiện Đại Hội Đảng lần thứ VII nêu rõ “Giáo dục đào tạo cùng với khoa học và
công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ
đi vào thế kỉ 21” và khẳng định: “Sự cường tráng về thể chất. là nhu cầu của bản thân con
người, đồng thời là vốn quí để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội”.
Chỉ thị 36 CT/TW của Ban Bí Thư TW Đảng: “Thực hiện GDTC trong tất cả các trường
học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày cho hầu hết học sinh sinh
viên và các tầng lớp nhân dân trong cả nước”.
Điều 41 Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992 cũng nêu rõ:
“Việc dạy và học thể dục là bắt buộc trong nhà trường”.
* Tóm lại: Qua những chỉ thị, nghị quyết, thông tư của Đảng, nhà nước chứng tỏ các cấp
chính quyền rất quan tâm đến công tác giáo dục thể chất của học sinh nói riêng, và nhân
dân nói chung, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để các em phát triển toàn diện về Đức
– Trí - Thể – Mĩ, góp phần cải tạo nòi giống, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
2. Khái quát về các công trình nghiên cứu liên quan
Chương trình học thể dục ở Việt Nam từ những năm 1991 đã áp dụng cho tất cả các học
sinh 2 tiết/tuần và những hoạt động thể dục thể thao khác đã phần nào nâng cao được chất
lượng giáo dục thể chất.


Rất nhiều đề tài nghiên cứu trong những năm qua ở nước ta cũng đã đề cập đến sự phát
triển thể lực ở học sinh như:
- Nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái và thể lực của học sinh phổ thông ở các Tỉnh phía bắc
(Vụ TDTT – Bộ giáo dục năm 1968 – 1670).
- Điều tra thể chất của học sinh phổ thông (Lê Bửu, Lê Văn Lẩm, Bùi Thị Hiếu và cộng
sự năm 1975).
- Nghiên cứu về sự phát triển thể chất của người Việt Nam từ 7-17 tuổi (Phan Hồng Minh
năm 1980).
- Những đề tài nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện chương trình, nội dung, phương pháp
giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông, đặc biệt là công trình nghiên cứu về
chương trình giảng dạy thể dục của Trần Đình Lâm, Trịnh Trung Hiếu, Vũ Huyến năm
1978-1985).
3. Mục tiêu TDTT trong trường phổ thông:
- Giúp học sinh biết được một số kiến thức, kĩ năng cơ bản để tập luyện giữ gìn sức khỏe,
nâng cao thể lực.
- Góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỉ luật, thói quen tự
giác tập luyện thể dục thể thao, giữ gìn vệ sinh.
- Có sự tăng tiến về thể lực, đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và thể hiện khả năng của
bản thân về thể dục thể thao.
- Biết vận dụng ở mức nhất định những điều đã học và nếp sinh hoạt ở trường và ngoài
nhà trường.
Thông qua các hoạt động thể dục thể thao rèn luyện cho học sinh tác phong khỏe mạnh,
nhanh nhẹn, tính kỉ luật và một số phẩm chất đạo đức cần thiết chính là góp phần chuẩn
bị cho thế hệ trẻ có nếp sống lành mạnh, tốt đẹp. Góp phần giáo dục đào tạo thế hệ trẻ
trở thành những con người có ích cho xã hội, chuẩn bị về thể lực và nếp sống cho người
lao động tương lai thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
4. Vài nét về tình hình giảng dạy và học tập môn nhảy cao ở các trường phổ thông:
Nhảy cao là môn thể thao không đòi hỏi nhiều về trang thiết bị, kĩ thuật tương đối đơn
giản, dễ phổ cập, phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính, do đó nhảy cao là một nội dung cơ
bản trong chương trình giáo dục thể chất.
Ở cấp THPT các em được làm quen và tập luyện với kĩ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng .
Việc giảng dạy môn nhảy cao trong nhiều năm qua đã được chú trọng (tăng cường : đệm,
cột, sào...) và đạt kết quả nhất định, song cả thầy và trò còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa


mới đáp ứng được phong trào ngày càng phát triển mạnh mẽ. Để giảng dạy tốt hơn nữa kĩ
thuật nhảy cao nằm nghiêng cho học sinhthì giáo viên cần phải nắm chắc được đối tượng
và không ngừng chọn lựa cải tiến, các biện pháp, nội dung giảng dạy cho phù hợp, gây ảnh
hưởng tốt đến sự phát triển toàn diện các bộ phận cơ thể học sinh.
5. Tác dụng của tập luyện môn nhảy cao ở trường phổ thông:
Nhảy cao là một môn thể thao khá phổ biến, được nhiều người ưa thích và tham gia tập
luyện.
Tập luyện nhảy cao có tác dụng rất lớn trong việc phát triển các tố chất thể lực, nâng cao khả
năng tập trung sức, tự chủ và rèn luyện lòng dũng cảm, tính kiên trì và khắc phục khó khăn
trong rèn luyện. Thông qua các bài tập kĩ thuật của chạy đà và giậm nhảy, làm tăng cường
và phát triển các tố chất sức nhanh, sức mạnh và sức mạnh tốc độ của người tập. Thực hiện
tốt các kỹ thuật trên không và rơi xuống đất, đã rèn luyện được sự khéo léo, tính chính xác,
nâng cao khả năng phối hợp vận động, giúp cho người tập nâng cao sức khỏe cả về thể chất
lẫn tinh thần, phục vụ đắc lực cho lao động sản xuất và chiến đấu.
6. Sức mạnh và sức mạnh trong nhảy cao:
Khái niệm về sức mạnh cho đến nay vẫn còn có những cách hiểu khác nhau. nhưng tố chất
sức mạnh có thể phân thành : sức mạnh tuyệt đối, sức mạnh tương đối, sức mạnh tốc độ, sức
mạnh bền : trong đó:
- Sức mạnh tuyệt đối: là năng lực khắc phục lực cản lớn nhất.
- Sức mạnh tương đối: là sức mạnh tuyệt đối của vận động viên trên 1 kg thể trọng của
họ.
- Sức mạnh tốc độ: là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh.
- Sức mạnh bền: là năng lực khắc phục lực cản nhỏ trong thời gian dài.
Bên cạnh đó, ở nhiều trường hợp còn gặp một dạng sức mạnh rất quan trọng được gọi là
“sức mạnh bột phát”: Dạng sức mạnh này xuất hiện và giữ vai trò quan trọng trong các môn
có hoạt động bật nhảy, được tính theo công thức.
I 

Fmax
Tmax

Trong đó I là chỉ số đánh giá sức mạnh, tốc độ hay sức mạnh bột phát, F max là lúc sức
mạnh tối đa, Tmax là thời gian để đạt sức mạnh tối đa.
Nhảy cao là nội dung nằm trong hệ thống các môn không có chu kỳ, gồm nhiều động tác
liên kết lại với nhau, thành một kỹ thuật hoàn chỉnh, người ta chia thành 4 giai đoạn: chạy


đà, giậm nhảy, tư thế bay trên không và tiếp đất. Trong bốn yếu tố đó, yếu tố giậm nhảy
có ảnh hưởng nhiều nhất tới việc hình thành kỹ thuật động tác và quyết định thành tích ở
môn này. Nhưng khâu giậm nhảy lại có quan hệ rất lớn với tốc độ chạy đà, thời gian
chống đỡ khi giậm nhảy, góc độ giậm nhảy… Như vậy, có thể thấy sức mạnh trong nhảy
cao là dạng sức mạnh hỗn hợp, mà ta có thể phân ra một cách tương đối, gắn liền với quá
trình thực hiện kỹ thuật bao gồm:
- Sức mạnh tốc độ: Dạng sức mạnh này thể hiện trong động tác chạy đà.
- Sức mạnh bột phát: Dạng sức mạnh thể hiện trong động tác giậm nhảy (sức bật).
Theo “Tính chu kỳ trong huấn luyện thể thao” hầu hết các môn thể thao đều cần sức
mạnh, những tố chất sức mạnh cần thiết cho từng môn thể thao khác nhau gọi là sức
mạnh đặc thù của môn nào đó. Sức mạnh tối đa đóng vai trò quan trọng nếu không nói là
quyết định trong việc tạo ra sức mạnh đặc thù của môn thể thao.
CHƯƠNG 2:
MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP
VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
I. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thông qua kết quả nghiên cứu lựa chọn được một số bài tập phát triển sức mạnh trong môn
nhảy cao phù hợp với nam học sinh khối lớp 12. Từ đó nâng cao hiệu quả công tác giáo dục ở
nhà trường phổ thông.
II. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để giải quyết mục đích nghiên cứu trên chúng tôi thực hiện hai nhiệm vụ nghiên cứu sau:

 Nhiệm vụ 1: Xác định và lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh nhằm
nâng cao thành tích trong môn nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh nam khối lớp 12
trường THPT Hà Trung - Hà Trung - Thanh Hóa

 Nhiệm vụ 2: Đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức mạnh nhằm nâng cao thành
tích trong môn nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh nam khối lớp 12 trường THPT
Hà Trung - Hà Trung - Thanh Hóa
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trên chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
1. Phương pháp tham khảo tài liệu: tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài
nghiên cứu.


Phương pháp này nhằm tổng hợp các tài liệu, hệ thống lại các kiến thức có liên quan đến đề
tài nghiên cứu, hình thành cơ sở lí luận, xác định các nhiệm vụ, lựa chọn các phương pháp
và các chỉ tiêu làm cơ sở đánh giá kết quả nghiên cứu trong khi thực hiện đề tài cũng như
tìm chọn các bài tập phát triển sức mạnh trong nhảy cao làm cơ sở cho việc phỏng vấn và
thực nghiệm.
2. Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phiếu điều tra.
Phương pháp này nhằm tìm hiểu và xác định các bài tập được sử dụng trong thực
tiễn huấn luyện – giảng dạy nhảy cao
3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Phương pháp này nhằm mục đích đưa các bài tập mới vào thực tiễn, qua thực nghiệm góp
phần làm sáng tỏ những yếu tố tác động trực tiếp (yếu tố thực nghiệm) tới kết quả tập
luyện của đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp kiểm tra sư phạm: các test đánh giá:
- Kiểm tra thành tích bật cao tại chỗ.
- Kiểm tra thành tích nhảy cao kiểu bước qua.
5 Phương pháp thống kê toán học:
Phương pháp này dùng để xử lí các số liệu thu được theo các công thức toán học thống kê
với sự hổ trợ của chương trình MS – Excel.
5.1. Số trung bình cộng ( X ):
Trung bình cộng là tỉ số giữa tổng lượng trị số các cá thể với tổng số các cá thể của đối
tượng quan sát, được tính theo công thức:
n

X 

Trong đó: -



X
i 1

i

n

: là kí hiệu tổng.

- X : là giá trị trung bình.
-

Xi :

là giá trị quan sát thứ i.

- n : là tổng số cá thể được quan sát.
5.2. Độ lệch chuẩn (  ):


Độ lệch chuẩn nói lên mức độ phân tán hay tập trung của các trị số
trung bình, được tính theo công thức: (khi n  30 ).
n

x 

(X
i 1

i

Xi

xung quanh giá trị

 X )2

n 1

Trong đó:  x là độ lệch chuẩn.
5.3. Hệ số biến thiên ( Vc % ):
Hệ số biến thiên là tỉ lệ phần trăm giữa độ lệch chuẩn và trung bình cộng, được tính theo
công thức :
Vc 

x
X

100 %

Trong đó:

Vc %

: hệ số biến thiên.

5.4. Sai số tương đối (  ) : chỉ số  là chỉ số đánh giá về tính đại diện của số trung bình
mẫu đối với số trung bình tổng thể.
t 05   x
 
X

Trong đó:  x là sai số chuẩn của số trung bình được tính theo công thức:

x 

x
n

- t 05 : giá trị giới hạn chỉ số t–student ứng với xác suất P = 0.05.
5.5. Nhịp độ tăng trưởng ( W ):
Nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu là tỉ lệ gia tăng theo phần trăm giữa lần đo thứ hai
và lần đo thứ nhất trên cùng một đối tượng và được tính theo công thức của S. Brody
(1927):
W% 

(V2  V1 )
100
0,5(V1  V2 )

Trong đó: - W : là nhịp độ tăng trưởng (%).
- V1 : là mức ban đầu của chỉ tiêu quan sát.
- V 2 : là mức lần sau của chỉ tiêu quan sát.
- 0,5 và100 là hằng số.


5.6. Chỉ số t – student: là chỉ số dùng so sánh hai số trung bình quan sát của 2 liên quan
n > 30:
t 

d

n

(d i  d )
n 1

5.7. Hệ số tương quan: hệ số tương quan nói lên mối quan hệ giữa hai tập hợp mẫu.
r

n X

n X iYi   X i  Yi
2
i



  X i  n Yi 2   Yi 
2

2



5.8. Tính nhịp tăng trưởng:
W% 

V2  V1
100%
0,5(V1  V2 )

IV. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu:
Sau khi xác định được nhiệm vụ nghiên cứu, căn cứ vào thời gian và chương trình học
tập của Trường THPT Hà Trung - Hà Trung - Thanh Hóa Chúng tôi chọn đối tượng là 100
em học sinh nam ở khối 12 chia làm hai nhóm.
- Nhóm thực nghiệm: gồm 50 em học sinh nam lớp 12 thời gian tập luyện mỗi tuần 1
buổi (chiều thứ 5), mỗi buổi 2 tiết nội dung tập luyện do chúng tôi đưa ra theo các bài tập
đã xác định.
- Nhóm đối chứng: Chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 50 em học sinh nam lớp 12 thời gian
tập luyện theo chương trình nội khoá (phân phối chương trình hiện hành )
- Thời gian tổ chức thực hiện 16 tuần (từ 20/10/2012 đến 24/02/2013 )
2. Địa điểm nghiên cứu:
Trường THPT Hà Trung - Hà Trung - Thanh Hóa
3. Trang thiết bị sử dụng:
Dụng cụ phục vụ cho việc kiểm tra lấy số liệu như:
-

Thước dây.

-

Đồng hồ bấm giờ.

-

Cọc,sào.

-

Xà.


-

Nệm.

-

Hố cát.

-

Còi.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Xác định và ứng dụng một số bài tập phát triển sức mạnh nhằm nâng cao
thành tích trong môn nhảy cao.
Để xác định một cách khách quan, chúng tôi dùng phiếu phỏng vấn để lấy ý kiến của các
giáo viên thể dục ở các trường THPT trong huyện để xem xét đánh giá mức độ quan
trọng của hai tố chất thể lực trên. Câu hỏi được đưa ra gồm hai yếu tố về mặt tố chất thể
lực được đánh giá theo ba mức sau:
+ Rất quan trọng.
+ Quan trọng.
+ Bình thường.
Phỏng vấn tiến hành một lần đối với 18 giáo viên thể dục ở các trường THPT trên địa bàn
huyện Hà Trung
Bảng 3.1: Kết quả phỏng vấn vai trò các tố chất thể lực
trong phát triển thành tích nhảy cao.

NHÓM

Các
chất

tố

Rất
trọng

NỘI DUNG

quan Quan
trọng

Bình
thường

SL

TL % SL

TL
%

Sức mạnh tốc độ

16

88%

2

12% 0

0%

Sức mạnh
phát

17

94%

1

6%

0%

bộc

SL

0

TL
%

Kết quả phỏng vấn được trình bày ở bảng 1, chứng tỏ hầu hết các thầy cô đều cho rằng các
tố chất phát triển sức mạnh bột phát và sức mạnh tốc độ có tác động lớn đến việc nâng cao
thành tích nhảy cao.


Trên thực tế trong sách giáo khoa thể dục lớp 11 có giới thiệu một số trò chơi, bài tập bổ trợ,
bài tập phát triển thể lực phát triển sức mạnh chân (trang 83- 86) trong sách giáo khoa thể
dục lớp 12 có giới thiệu một số bài tập bổ trợ, bài tập phát triển thể lực phát triển sức mạnh
chân (trang 85). Cũng dựa trên cơ sở hai tố chất thể lực phát triển sức mạnh trên, chúng tôi
xác định thêm được một số bài tập sau:
STT Bài tập về sức mạnh tốc STT Bài tập về sức mạnh bộc
độ
phát
1

Chạy 30m xuất phát cao.

1

Bật xa tại chỗ

2

Chạy 30m tốc độ cao

2

Bật cao tại chỗ

3

Chạy 60m xuất phát cao

3

Bật cóc 15m

4

Chạy đạp sau 30m

4

Lò cò nhanh một chân 30m

Xong để xác định được các bài tập này có độ tin cậy và có giá trị sử dụng hay không
chúng tôi tiến hành phỏng vấn các giáo viên thể dục để đánh giá xác định độ tin cậy của
các bài tập đã đưa ra.
Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn các bài tập phát triển sức mạnh
để nâng cao thành tích nhảy cao cho học sinh

T
NỘI DUNG
T

SỐ PHIẾU ĐỒNG Ý

KHÔNG
ĐỒNG Ý

PH
ÁT
RA

SL

THU
TL
SL
VÀO
%

TL%

1 Chạy 30 m xuất phát cao 17

17

16

94% 1

6%

2 Chạy 30 m tốc độc cao

17

17

16

94% 1

6%

3 Chạy 60 m xuất phát cao 17

17

15

89% 2

11%

4 Chạy đạp sau 30 m

17

17

100

17

0

0%


%
5 Bật xa tại chỗ

17

17

16

94% 1

6%

6 Bật cao tại chỗ

17

17

17

100
%

0

0%

Bật cao ôm gối trên hố
17
cát

17

17

100
%

0

17

17

100
%

0

7

8 Lò cò một chân 30 m

17

0%
0%

Qua kết quả phỏng vấn thấy rằng trong 8 bài tập ở phiếu phỏng vấn đưa ra có tỷ lệ đồng ý
cao. Điều đó cho thấy độ tin cậy của các bài tập có giá trị thực tiễn trong huấn luyện và
giảng dạy. Từ kết quả trên tôi đưa toàn bộ 8 bài tập phát triển sức mạnh này vào thực
nghiệm.
2. Đánh giá hiệu quả của các bài tập trong quá trình giảng dạy
* Kết quả kiểm tra trước và sau tập luyện
- Trước khi tiến hành thực nghiệm tôi tiến hành kiểm tra kết quả lần 1 (từ 20/10/2012) ở
cả hai nhóm thực nghiệm và đối chứng và kiểm tra lần 2 sau 16 tuần thực nghiệm
(24/02/2013) tôi kiểm tra lần 2 để so sánh đánh giá thành tích giữa hai nhóm nhằm đánh
giá hiệu quả của các bài tập đã đưa vào thực nghiệm.
Sau khi tiến hành tính toán các số liệu thu thập được, chúng tôi có các tham số: giá trị
trung bình ( X ), độ lệch chuẩn (  ), Hệ số biến thiên (Cv%), Sai số tương đối (  ), Tstudent (t) của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra của 2 nhóm TN và nhóm ĐC trước thực nghiệm
(đơn vị tính : cm)
x 

X

Test
TN
Bật

cao

tại 49.45



CV%

ĐC

TN

ĐC

TN

ĐC

49.35

1.64

1.87

3.31 3.79

TN

ĐC

0.02 0.02


chổ
Nhảy cao có
127.75 128.00 8.81
đà

8.94

6.89 6.99

0.03 0.03

Vậy thì sự
khác biệt ở
bảng trên có

ý nghĩa không ? sẽ được tính và thể hiện trong bảng: 3.4
Bảng 3.4. Sự khác biệt của nhóm TN và nhóm ĐC trước thực nghiệm.

T
TÊN TEST
T

TN

ĐC
t

p

49.35 ±1.87

0.1
8

>0.05

128.00
±8.94

0.0
4

>0.05

X ±

X

1 Bật cao tại chổ

49.45 ± 1.64

2 Nhảy cao có đà

127.75 ± 8.81

±

Kết quả phân tích được minh họa ở Biểu đồ 3.1.
Thành tích(cm)

Test

Biểu đồ 3.1. So sánh nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm.
Qua bảng 3.4 và biểu đồ 3.1 cho thấy:
- Bật cao tại chỗ.


Có ttính = 0.18 < tbảng = 2.093 nên sự khác nhau giữa hai giá trị trung bình mẫu không có ý
nghĩa thống kê.
- Nhảy cao có đà.
Có ttính = 0.04 < tbảng = 2.093 nên sự khác nhau giữa hai giá trị trung bình mẫu không có ý
nghĩa thống kê.
Hay nói cách khác là có sự khác biệt giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng nhưng
không có ý nghĩa toán học. Vậy cho phép trong việc nghiên cứu.
Tôi thấy rằng các số liệu thu được trước và sau tập luyện đều có: Hệ số biến thiên (Cv%)
của các test đều nhỏ hơn 10%, phản ánh được đám đông số liệu là tương đối đồng đều;
Sai số tương đối (  ) đều < 0.05, nên giá trị trung bình mẫu đủ tính đại diện.
Bảng 3.5. So sánh sự phát triển của nhóm thực nghiệm
trước (TTN) và sau thực nghiệm (STN).
T
TÊN TEST
T

TTN
X

±

STN
X

W
%

t

p

8.3
3

17.
79

<0.0
5

± 5.1
5

9.0
0

<0.0
5

±

1

Bật cao tại chổ

49.45 ± 1.64 53.75 ± 2.22

2

Nhảy cao có đà

127.75
8.81

± 134.50
7.05

Kết quả phân tích được minh họa ở Biểu đồ 3.2.
Thành tích(cm)

Test


Biểu đồ 3.2. So sánh sự phát triển của nhóm thực nghiệm trước và sau thực nghiệm.
Qua bảng 3.5 và biểu đồ 3.2 cho thấy nhóm thực nghiệm có sự phát triển về sức mạnh tốc
độ trước và sau tập luyện cụ thể như sau:
- Bật cao tại chỗ.
+ Trước thực nghiệm có: X = 49.45 ± 1.64
+ Sau thực nghiệm có: X = 53.75 ± 2.22
So sánh cho thấy có sự phát triển với nhịp tăng trưởng W=8.83% với t tính = 17.79 > tbảng =
2.093 nên sự khác nhau giữa hai giá trị trung bình mẫu có ý nghĩa thống kê.
- Nhảy cao có đà.
+ Trước thực nghiệm có: X = 127.75 ± 8.81
+ Sau thực nghiệm có: X = 134.50 ± 7.05
So sánh cho thấy có sự phát triển với nhịp tăng trưởng W=5.15% với
ttính = 9.00 > tbảng = 2.093 nên sự khác nhau giữa hai giá trị trung bình mẫu có ý nghĩa
thống kê.
Bảng 3.6. So sánh sự phát triển của nhóm đối chứng
trước (TTN) và sau thực nghiệm (STN).
T
TÊN TEST
T

TTN
X

±

STN
X

±

1

Bật cao tại chổ

49.35 ± 1.87

51.45
2.04

2

Nhảy cao có đà

128.00 ± 8.94

129.75±
6.74

Kết quả phân tích được minh họa ở Biểu đồ 3.3.
Thành tích(cm)

W
%

t

p

± 4.3
8

13.
08

<0.0
5

1.3
6

2.6
7

<0.0
5


Test

Biểu đồ 3.3. So sánh sự phát triển của nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm
.
Qua bảng 3.6 và biểu đồ 3.3 cho thấy nhóm đối chứng có sự phát triển về sức mạnh tốc
độ trước và sau tập luyện cụ thể như sau:
- Bật cao tại chỗ.
+ Trước thực nghiệm có: X = 49.35 ± 1.87
+ Sau thực nghiệm có: X = 51.45 ± 2.04
So sánh cho thấy có sự phát triển với nhịp tăng trưởng W= 4.38% với t tính = 13.08 > tbảng
= 2.093 nên sự khác nhau giữa hai giá trị trung bình mẫu có ý nghĩa thống kê.
- Nhảy cao có đà.
+ Trước thực nghiệm có: X = 128.00 ± 8.94
+ Sau thực nghiệm có: X = 129.75± 6.74
So sánh cho thấy có sự phát triển với nhịp tăng trưởng W=1.36% với
ttính = 2.67 > tbảng = 2.093 nên sự khác nhau giữa hai giá trị trung bình mẫu có ý nghĩa
thống kê.
Bảng 3.7. So sánh sự phát triển của nhóm TN và nhóm ĐC sau thực nghiệm.
T
TÊN TEST
T

Nhóm TN

1 Bật cao tại chổ

53.75 ± 2.22

X

±

Nhóm ĐC
X

±

51.45 ± 2.04

t

p

3.4

<0.0


1
2 Nhảy cao có đà

134.50 ± 7.05

129.75
6.74

± 2.1
1

5
<0.0
5

Kết quả phân tích được minh họa ở Biểu đồ 3.4.
Thành tích(cm)

Test

Biểu đồ 3.4. So sánh thành tích nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm
sau thực nghiệm.
Qua bảng 3.7 và biểu đồ 3.4 cho thấy:
- Bật cao tại chỗ.
Có ttính = 3.41> tbảng = 2.093 nên sự khác nhau giữa hai giá trị trung bình mẫu có ý nghĩa
thống kê.
- Nhảy cao có đà.
Có ttính = 2.11> tbảng = 2.093 nên sự khác nhau giữa hai giá trị trung bình mẫu có ý nghĩa
thống kê.
Hay nói cách khác là có sự khác biệt giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.


Biểu đồ 3.5. Nhịp độ tăng trưởng của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực
nghiệm.
Diễn biến nhịp độ tăng trưởng của hai nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng đều tăng sau 16
tuần tập luyện. Kết quả kiểm tra của nhóm thực nghiệm có sự tăng trưởng cao, đồng đều và
ổn định hơn so với nhóm đối chứng.
Tóm lại: từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy qua 2 nội dung kiểm tra, nhóm thực nghiệm
đều phát triển hơn nhóm đối chứng, đạt sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với ngưỡng xác
suất p < 0.05.
Hệ thống bài tập phát triển sức mạnh đã thể hiện tính hiệu quả đến việc huấn luyện nâng
cao thành tích nhảy cao cho học sinh nam khối lớp 12 trường THPT Hà Trung – Hà
Trung – Thanh Hoá
Từ kết quả nghiên cứu cho phép nhận xét:
Qua nghiên cứu đã chọn được 8 bài tập phát triển sức mạnh cho học sinh nam khối lớp 12
trường THPT Hà Trung – Hà Trung – Thanh Hoá
Qua kiểm tra diễn biến nhịp tăng trưởng thành tích của học sinh ở 2 nhóm thực
nghiệm và đối chứng đều tăng, nhưng nhóm thực nghiệm có sự tăng trưởng cao, đồng
đều và ổn định hơn nhóm đối chứng.
Sau 18 tuần thực nghiệm sư phạm ở học sinh nam khối lớp 12 trường THPT Hà
Trung – Hà Trung – Thanh Hoá các bài tập huấn luyện phát triển sức mạnh có hiệu quả
với độ tin cậy ở ngưỡng xác suất thống kê P < 0.05.


C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận:
Từ những kết quả nghiên cứu trên cho phép rút ra những kết luận như sau:
1. Qua các bước nghiên cứu đề tài đã xác định được 8 bài tập phát triển sức mạnh nhằm
nâng cao thành tích nhảy cao cho học sinh nam khối lớp 12 trường THPT Hà Trung – Hà
Trung – Thanh Hoá đảm bảo có giá trị thông báo và đủ độ tin cậy đó là:
STT Bài tập về sức mạnh tốc STT Bài tập về sức mạnh bộc
độ
phát
1

Chạy 30m xuất phát cao.

1

Bật xa tại chỗ

2

Chạy 30m tốc độ cao

2

Bật cao tại chỗ

3

Chạy 60m xuất phát cao

3

Bật cóc 15m

4

Chạy đạp sau 30m

4

Lò cò nhanh một chân 30m

2. Sau 18 tuần tập luyện thành tích của cả 2 nhóm đều tăng vói nhịp tăng trưởng từ
1,36%-8,33%. Tuy nhiên nhóm thực nghiệm tăng cao và đồng đều hơn nhóm đối chứng.
II. Kiến nghị:
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài cho phép có một số kiến nghị như sau:
- Có thể sử dụng hệ thống các bài tập trên để đưa vào quá trình giảng dạy và huấn luyện
nội dung nhảy cao cho các trường
- Do chương trình ở bậc THPT chỉ có 2 tiết/tuần, vì vậy cần tăng cường thời gian để tập
luyện ngoại khóa cho học sinh, góp phần nâng cao sức khỏe.
- Cần mở rộng nghiên cứu này trên các đối tượng khác để hình thành hệ thống bài tập phù
hợp với các đối tượng, các lứa tuổi khác.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×