Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp nâng cao chất lượng thực hành môn công nghệ 9

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG THỰC HÀNH
MÔN CÔNG NGHỆ 9"


A.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị
của mỗi nƣớc, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Vì vậy, ngay từ khi
giành đƣợc chính quyền, Hồ Chủ Tịch đã chỉ rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.
Do đó xác định Giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt
Nam. Bắt đầu từ Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng (1979) đã ra quyết định số
14-NQTƢ về cải cách giáo dục với tƣ tƣởng: Xem giáo dục là bộ phận quan trọng của
cuộc cách mạng tƣ tƣởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến
lúc trƣởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp
với lao động sản xuất, nhà trƣờng gắn liền với xã hội. Tƣ tƣởng chỉ đạo trên đƣợc phát
triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội VII, VIII,

IX, X của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định:
"Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền
tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước" ; “Nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương
pháp dạy và học”; thực hiện "chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa", chấn hưng nền
giáo dục Việt Nam; Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa
các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và
những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên;
tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội
trong giáo dục.”
Nhằm thực hiện tốt đƣờng lối chủ trƣơng đó, những năm học qua, ngành Giáo
dục đã tích cực tham gia công cuộc đổi mới toàn diện. Một trong những biện pháp đó là


việc giáo dục cơ bản – toàn diện các khoa học cơ bản và thực hành kỹ thuật cơ bản
nhằm bổ sung kiến thức và bổ trợ cho công tác hƣớng nghiệp cuối bậc Trung học cơ sở
và sau bậc Trung học phổ thông. Đây cũng là một trong những quan điểm giáo dục
“Học đi đôi với Hành” mà ngành giáo dục chúng ta đƣợc kế thừa từ tƣ tƣởng của Hồ
Chủ Tịch và đƣợc các kì Đại hội Đảng nêu lên. Và thực sự vậy, các bộ môn giảng dạy
trong nhà trƣờng phổ thông đều lồng ghép, tích hợp hoặc dành hẳn những thời lƣợng
lớn để giúp học sinh có áp dụng thực hành những kiến thức học tập đƣợc. Qua đó, củng
cố khắc sâu kiến thức lý thuyết đồng thời cũng nâng cao chất lƣợng thực hành, áp dụng
vào đời sống thực tế.
Tổng kết kết quả thực hiện Chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001 – 2010 của
Chính Phủ có chỉ ra: “Nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, công tác thi,
kiểm tra, đánh giá chậm đổi mới. Nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết, phương
pháp dạy học lạc hậu, chưa phù hợp với đặc thù khác nhau của các loại hình cơ sở giáo
dục, vùng miền và các đối tượng người học; nhà trường chưa gắn chặt với đời sống kinh
tế, xã hội; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội; chưa chú trọng giáo dục
kỹ năng sống, phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên”
Đây là một tồn tại chung của các bậc học, ngành học trên toàn quốc, còn thực tế
tại cơ sở giáo dục thì:
Ở trƣờng THCS, môn Công nghệ 9 là môn học mới đƣợc thiết kế theo mô-đun
nghề nên thời lƣợng thực hành khá cao, môn học mang tính thực tế, rất thiết thực cho
việc chọn nghề, hƣớng nghiệp cho học sinh.
Trong thời kỳ kinh tế mở cửa thì việc học tập của học sinh ngày càng đƣợc nâng
cao, từ cơ sở vật chất đến nội dung kiến thức bài học. Trong những năm gần đây, chƣơng


trình đổi mới của sách giáo khoa nói chung và môn Công nghệ nói riêng là một bƣớc

ngoặt về sự đổi mới phƣơng pháp dạy học của giáo viên và học sinh.
Tuy nhiên, trong thực tế, môn Công nghệ hiện nay vẫn chƣa thực sự là môn
học thế mạnh ở nhiều nhà trƣờng, nhiều nơi – nhiều lúc còn coi đây là môn bổ trợ kiến
thức về đời sống, mới mang tính thƣờng thức xã hội chứ chƣa là tiền đề, cơ sở trong
việc đào luyện học sinh có hiểu biết cơ bản về một số nghề hoặc áp dụng trong đời
sống, trong hƣớng nghiệp. Tâm lý của học sinh, nhất là học sinh nữ thƣờng ngại thực
hành các bài thực hành của bộ môn.
Điều này làm cho các em chƣa có hứng thú trong học lý thuyết, chƣa để ý từng
bƣớc cơ bản trong thực hành, dẫn đến những lỗi kỹ thuật, lỗi mỹ thuật trong thực hành.
Cũng phải nhắc đến chất lƣợng của giáo viên khi hƣớng dẫn thực hành, một phần do e
ngại sự mới mẻ của bộ môn, một phần do tính chất nghề đặc thù của việc làm nên đôi
khi giáo viên cũng xem nhẹ phần thực hành hoặc hƣớng dẫn thực hành qua loa, có lúc
còn thực hiện mang tính giới thiệu hàn lâm, giới thiệu trên tranh vẽ, trình chiếu máy
tính, … thiếu tính chuyên môn nghề. Đồng thời, một lý do rất thực tế nữa là đồ dùng
dạy học cho phân môn qua các năm học đều đã cũ, xuống cấp, thiếu – mất mát, … cần
bổ sung liên tục.
Chính vì vậy, khi đƣợc nhà trƣờng giao giảng dạy bộ môn Công nghệ, tôi xác
định cần nâng cao chất lƣợng dạy học, chuẩn bị tiết giảng chu đáo giúp HS có lý thuyết
vững chắc và có thực hành hiệu quả. Qua mỗi tiết học thì học sinh tăng cƣờng thói quen
chủ động trong việc học, thuần thục và sáng tạo trong thực hành. Có tâm lý vững vàng
để tự mình thực hành tại lớp và làm thực tế tại gia đình. Với mong muốn đó, trong thời
gian đƣợc giảng dạy Công nghệ 9, tôi đã mạnh dạn nêu sáng kiến và áp dụng trực tiếp


vào thực tế với sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao chất lượng thực hành Công
Nghệ 9” – Công nghệ 9 – Mô đun Lắp đặt mạch điện gia đình
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Tâm lý học lứa tuổi THCS có ghi nhận: Học sinh lứa tuổi THCS có bƣớc nhảy
vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát
triển cao hơn tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt: thể chất, trí tuệ, tình
cảm, đạo đức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xử lí tình huống, … Đây là lứa tuổi có vị trí quan
trọng trong sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức nhân cách, những cơ sở này là
tiềm tàng để hình thành rõ nét trong thời kì thanh niên tiếp theo. Nhƣ vậy, nếu nhƣ gia
đình, nhà trƣờng và xã hội chăm lo cho các em học sinh ở giai đoạn này thì sẽ có tác
dụng to lớn cho sự phát triển tài năng, tạo tiền đề cho các tài năng, làm cơ sở cho các bậc
học cao hơn. Trong quá trình giáo dục, bồi dƣỡng, phát triển nhân lực nhân tài thì mắt
xích Nhà trƣờng có vai trò rất quan trọng, mà trong đó mối liên hệ hữu cơ giữa thầy – trò
– kiến thức là điều chủ yếu. Ở lứa tuổi THCS, học sinh đƣợc học nhiều môn học với
nhiều thầy cô giáo do vậy các em đƣợc tiếp xúc với hệ thống kiến thức, kĩ năng phong
phú và với các tác phong sƣ phạm đa dạng. Bên cạnh đó các em cũng có những tâm lý
coi trọng môn học này, thích “cách dạy” của thầy cô kia, … Nắm bắt đƣợc điều này thì
mỗi thầy cô giáo đều hết lòng yêu nghề, đầu tƣ công sức vào bài soạn, bài giảng để giúp
các em có kiến thức đầy đủ, kĩ năng thành thạo và áp dụng đƣợc vào môi trƣờng sống.
Với các môn học có giờ học thực hành nói chung và với môn Công nghệ với mô
đun Lắp đặt mạch điện trong nhà thì học sinh có cơ hội học lý thuyết và thực hành ngay
các kiến thức, kĩ năng đó. Đây là một điểm mạnh của môn học mà nếu thầy cô giáo phát


huy đƣợc thì học sinh sẽ ít nhàm chán, lo ngại. Tuy nhiên, với quan điểm giáo dục trọng
nhân văn, hƣớng đến ngƣời học làm trung tâm thì việc ngƣời thầy “diễn giảng” một tiết
học hay chƣa quý bằng việc giúp học sinh làm tốt các yêu cầu của mục tiêu bài học. Mà
khẩu hiệu chúng ta vẫn nhắc đến đó là “Học đi đôi với Hành” nếu đƣợc áp dụng vào các
bài học của môn Công nghệ thì luôn luôn đúng đắn; tuy nhiên để có đƣợc tiết thực hành
đầy đủ, đúng mục tiêu, thành công thì công sức chuẩn bị của thầy và trò là rất lớn.
Hiện nay, với sự phát triển nhƣ vũ bão của nền khoa học kĩ thuật và kinh tế xã
hội, những đòi hỏi đặt ra cho thầy những nhiệm vụ giáo dục vô cùng to lớn trong công
cuộc giáo dục nhân cách, bồi dƣỡng nhân tài. Để hoàn thành nhiệm vụ thì ngƣời thầy
không chỉ là ngƣời có năng lực chuyên môn cao mà còn cần có năng lực sƣ phạm vững
vàng, kinh nghiệm. Càng tham gia vào sâu quá trình giáo dục thì ngƣời thầy càng tìm
thấy đƣợc những biện pháp giáo dục nhằm giúp HS của mình phát triển năng lực nhận
thức, kĩ năng – thái độ thực hành. Việc tìm hiểu, áp dụng, đối chiếu, điều chỉnh các biện
pháp này cần diễn ra thƣờng xuyên, không mệt mỏi để hƣớng đến kết quả giáo dục cao
nhất.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong quá trình giảng dạy bộ môn Công nghệ 9 – mô đun Lắp đặt mạch điện
trong nhà. Tôi nhận thấy tâm lý học và khả năng thực hành của một số em khá tốt; các
em đƣợc coi nhƣ những “cột trụ” trong nhóm/lớp, có khả năng giúp đỡ các bạn khác
thực hành. Tuy nhiên, đa số các em có tâm lý e ngại, rụt rè khi học, nhất là các em nữ;
mặt khác chất lƣợng thực hành của các em cũng chƣa cao; nhiều bài thực hành mới đáp
ứng đƣợc việc đảm bảo an toàn điện, đủ các bƣớc kĩ thuật mà chƣa có nhiều bài đáp
ứng các yêu cầu về trình bày, mĩ thuật, thời gian hoàn thành, độ bền cơ học, … Đây là
một trong những trăn trở của GV trong giảng dạy thực hành.


Trong những năm gần đây, ngành Giáo dục đang tích cực cải cách chƣơng trình
SGK, đổi mới phƣơng pháp dạy học, phƣơng thức kiểm tra đánh giá, … cũng nhằm một
mục đích chung là nâng cao chất lƣợng giáo dục nói chung và chất lƣợng từng bộ môn
nói riêng. Với quan điểm coi trọng và dành sự chăm lo nhiều nhất cho giáo dục của toàn
Đảng, toàn Dân ta thì mỗi GV cần tích cực, chủ động nắm bắt các cơ hội này trong việc
triển khai công tác giáo dục của mình. Công việc này cần đƣợc GV tìm hiểu, áp dụng và
tổng hợp kết quả qua mỗi năm học để không ứng đáp ứng nhu cầu mới của bộ môn và
thời đại.
Một thực tế cụ thể nữa ở trƣờng THCS là số lƣợng, chất lƣợng các đồ dùng –
thiết bị - vật liệu để thực hành đều giảm dần theo số lƣợng tiết học; mặc dù đƣợc bổ
sung hàng năm nhƣng với sĩ số học sinh luôn luôn cao cùng với tâm lý ai cũng muốn
đƣợc thực hành một lần nên đồ dùng qua các tiết học đều cần chỉnh sửa, bổ sung thêm.
Đồng thời, với sự phân hóa môn học nên học sinh đã bƣớc đầu coi trọng môn học này,
xem nhẹ môn học khác; học sinh phải chăm lo nhiều bài tập của nhiều bộ môn nên việc
tham gia chuẩn bị đồ dùng thực hành nhất là tham gia theo nhóm còn rất hạn chế. Nếu
nhƣ giáo viên không chú ý hƣớng dẫn thì học sinh khó có thể chuẩn bị đúng đồ dùng
theo yêu cầu của bảng dự trù vật liệu mà các em vẫn thƣờng lập đƣợc.
II. MỤC ĐÍCH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Mục đích thứ nhất: Khi suy nghĩ, nêu và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, bản
thân tôi mong muốn đƣợc một lần nữa tôi và các đồng nghiệp, các em học sinh xác định
vai trò quan trọng của tiết học thực hành trong nhà trƣờng, đặc biệt là trong bộ môn
Công nghệ với mô-đun nghề cụ thể. Với quan điểm không xem nhẹ khả năng của học
sinh và rất quan tâm đến tính thực tiễn của phân môn đồng thời qua đó giáo dục lòng
yêu lao động và tâm lý vững vàng cho học sinh khi thao tác nghề; thì tôi tin chắc giáo


viên và học sinh đều hứng thú và thực hành tốt; vai trò bộ môn Công nghệ đƣợc nâng
cao đúng tầm của nó. Khi xác định nhƣ vậy thì cả giáo viên và học sinh cần chuẩn bị tốt
cho mỗi bài học, điều này đƣợc đáp ứng bởi nhiều yếu tố trong đó cần có sự chủ động
của ngƣời thầy trong việc tìm tòi, áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng thực
hành của mỗi bài học.
Thứ hai: Bƣớc đầu có những cơ sở lý luận, bƣớc làm thực tế cho từng biện pháp
cơ bản trong việc tìm hiểu, áp dụng các biện pháp giáo dục đặc thù cho phân môn;
những bƣớc đi tiêu chuẩn trong thực hành trên lớp cho đến khi thực tế ở hộ gia đình
mình, bởi sai sót nhỏ cũng có thể gây hƣ hỏng mạng điện, thiệt hại kinh tế và nguy hiểm
đến tính mạng con ngƣời.
Thứ ba: Giúp học sinh thực hành tốt nội dung yêu cầu của bài thực hành. Có tâm
lý vững vàng khi làm việc, yêu thích lao động và tự giác áp dụng vào cuộc sống. Vì khi
học sinh đƣợc học tập, rèn luyện tốt thì các em có kĩ năng thuần thục hơn, có tính tiết
kiệm, lao động tập thể, …
Thứ tƣ: Rèn luyện phƣơng pháp nghiên cứu khoa học của ngƣời giáo viên đồng
thời góp phần nhỏ bé làm tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp và góp phần thực hiện
phong trào thi đua “Hai Tốt” và “Trường học thân thiện – Học sinh tích cực” của
ngành Giáo dục.
III. ĐỐI TƢỢNG – PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Sáng kiến này đƣợc tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng đối với học sinh khối 9 của
trƣờng THCS Nhật Tân (Tiên Lữ - Hƣng Yên) từ năm học 2010 -2011 đến năm học
2011 – 2012


Trong năm học 2010 – 2011 đƣợc áp dụng ở lớp 9C đối chứng với kết quả thực
hành của lớp 9A, 9B không áp dụng sáng kiến. Trong năm học 2011 – 2012 áp dụng ở
lớp 9A, 9C đối chứng với kết quả thực hành của lớp 9B không áp dụng sáng kiến.
IV. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
Năm học 2009 – 2010, nghiên cứu SGK, SGV, Sách Thiết kế bài giảng, Phân
phối chƣơng trình để áp dụng vào soạn giáo án, chuẩn bị đồ dùng thực hành. Bƣớc đầu
cập nhật và tìm hiểu quan điểm hiện nay của Đảng và Nhà nƣớc về giáo dục và giáo dục
hƣớng nghiệp nghề. Thống kê, kiểm tra số lƣợng, chất lƣợng các vật liệu – dụng cụ thiết bị có trong các hộp đồ dùng dạy học của nhà trƣờng. Thu nhận những ý kiến góp ý
của đồng nghiệp về giờ giảng, giờ thực hành thông qua các buổi hội giảng, dự giờ; thu
nhận ý kiến phản hồi từ các em học sinh thông qua các bài kiểm tra lý thuyết, kiểm tra
thực hành và cả trong vấn đáp trực tiếp. Viết sáng kiến và lên kế hoạch áp dụng vào
năm học tiếp.
Năm học 2010 – 2011 và 2011 – 2012 bắt đầu áp dụng dần dần mở rộng từ lớp
chọn đến lớp đại trà. Từng bƣớc đối chiếu kết quả hiểu lý thuyết và thái độ trong chuẩn
bị đồ dùng thực hành; nhẫn tới kết quả thực hành của từng tiết học.
Thang điểm chấm không có sự phân biệt giữa lớp chọn và lớp đại trà, mà đánh
giá công bằng kết quả học và thực hành của các lớp. Trên cơ sở kết quả đó, giáo viên
chỉnh sửa sáng kiến và lần lƣợt tổng kết kết quả qua mỗi kỳ học, mỗi năm học. Sau đó,
Sáng kiến đƣợc viết và trình bày với hội đồng khoa học chấm sáng kiến kinh nghiệm
của nhà trƣờng để đƣợc đóng góp ý kiến xây dựng cho hoàn thiện.
Trong quá trình nghiên cứu, ngoài các tài liệu cơ bản trong thƣ viện và trong
phòng thí nghiệm của nhà trƣờng thì giáo viên và học sinh tìm thêm kiến thức trên các
phƣơng tiện thông tin khác nữa, đồng thời tự làm đồ dùng thực hành cho mỗi tiết học để


làm gƣơng động viên khích lệ học sinh. Khuyến khích học sinh chuẩn bị đồ dùng thực
hành theo nhóm, với chú ý các đồ dùng đó không thử trực tiếp với bất cứ nguồn điện
nào nếu chƣa đƣợc giáo viên kiểm tra.
V. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
Sau năm học 2008 – 2009, qua khảo sát thống kê, kiểm tra số lƣợng, chất lƣợng
đồ dùng dạy học của bộ môn Công nghệ của học sinh khối 9 trƣờng THCS Nhật Tân
nhận thấy:
STT TÊN ĐỒ DÙNG

SỐ

CHẤT LƢỢNG

LƢỢNG
1

Bút thử điện

04

Sử dụng tốt

2

Kìm điện

04

Sử dụng tốt

3

Kìm tuốt dây

04

Sử dụng tốt

4

Máy khoan cầm tay

04

Hỏng

1

máy

khoan
5

Mỏ hàn điện

6

Tuốc nơ vít điện loại dẹt và 04

04

Hỏng
Sử dụng tốt

4 cạnh
7

Ổ cắm điện + phích điện

04

Hỏng kẹp ổ cắm


8

Cầu chì

04

Hỏng dây chì

9

Công tắc (2 cực + 3 cực)

04

Hỏng 2 công tắc

10

Bóng đèn huỳnh quang 14

Một số bị cháy và

compact đui ngạnh và đui

vỡ.

xoáy
11

Bóng sợi đốt đui ngạnh và 14

Một số bị cháy và

đui xoáy

vỡ.

12

Attomat

7

Sử dụng tốt

13

Cầu dao

7

Sử dụng tốt

14

Vôn kế

7

Sử dụng tốt

15

Ampe kế

7

Sử dụng tốt

16

Đồng hồ vạn năng

7

Sử dụng tốt

17

Băng cách điện

0

Đã sử dụng hết

18

Giấy ráp

0

Đã sử dụng hết

19

Thiếc hàn + nhựa thông

0

Đã sử dụng hết

20

Dây điện đơn

0

Đã sử dụng hết

21

Dây điện đôi

0

Đã sử dụng hết


22

Mũi khoan

20

Một số bị gãy

23

Bảng điện

0

Đã sử dụng hết

Nhƣ vậy, các thiết bị đo điện, dụng cụ cơ khí và một số thiết bị khác thì tái sử
dụng đƣợc nhiều lần; còn các thiết bị - vật liệu: bóng điện, dây điện, giấy ráp, bảng
điện, … thì tỷ lệ cháy, hỏng, hao hụt khá nhiều, không tái sử dụng đƣợc. Hàng năm, nhà
trƣờng đều dành một khoản kinh phí khá lớn đầu tƣ cho trang bị thiết bị dạy học, đồ
dùng – thiết bị cho các phòng chức năng, thực hành, bộ môn; tuy nhiên vì có nhiều mục
cần đầu tƣ nên thực tế việc tu sửa, mua sắm đồ dùng – thiết bị cho thực hành của nhiều
bộ môn còn hạn chế, trong khi đó mô đun Lắp đặt mạng điện trong nhà lại tiêu tốn và
làm hƣ hao thiết bị rất nhiều. Ví dụ: sau tiết học Lắp đặt mạch điện bảng điện, học sinh
thao tác đánh dấu vị trí rồi khoan lỗ bảng điện xong thì bảng điện không đáp ứng cho
yêu cầu bài học của tiết sau đƣợc nữa; muốn tái sử dụng thì giáo viên dùng giấy dán qua
lỗ đinh vít – để học sinh thực hành đánh dấu vị trí; hoặc dùng sáp nến để bít lỗ đinh vít
để học sinh thực hành khoan lỗ bảng điện. Cả hai cách xử lí này đều không giúp bài
thực hành đạt đƣợc mục tiêu về kĩ năng nhƣ mong muốn.
Về chất lƣợng học của học sinh, qua thống kê chúng tôi nhận thấy:
Lớp

Sĩ số

Điểm lý thuyết
>8

Điểm thực hành

6,0 – < 6

>8

7,9
9A

37

7

25

6,0 – < 6

Điểm tổng kết
>8

7,9
5

4

20

6,0 – < 6
7,9

17

0

30

7


9B

35

7

22

6

2

18

15

0

33

2

9C

37

12

22

3

7

25

5

7

28

2

Nhƣ vậy, điểm thực hành của học sinh thấp hơn nhiều so với điểm lý thuyết của
các em. Điểm tổng kết cả năm cũng chƣa cao, ở các lớp đại trà thì không có HS đạt
điểm tổng kết giỏi và ở lớp chọn thì vẫn còn HS đạt điểm tổng kết dƣới trung bình.
Qua trao đổi với các bậc phụ huynh thì tôi đƣợc nghe phản ánh: các em có giới
thiệu với gia đình về môn học Công nghệ 9 – mô đun Lắp đặt mạch điện trong nhà
nhƣng ở nhà các em chƣa mạnh dạn tham gia học tập và giúp đỡ ngƣời lớn sửa chữa,
lắp đặt mạch điện gia đình. Cá biệt có em còn chƣa biết cách thay dây chì khi bị đứt
hoặc chƣa biết dùng băng cách điện để băng mối nối, chƣa biết cách sử dụng các thiết bị
tiết kiệm điện: công tắc tự động, thay đèn tròn sợi đốt bằng đèn compart hoặc đèn ống
huỳnh quang… Nhƣ vậy kỹ năng vận dụng vào đời sống chƣa đƣợc các em phát huy và
làm thƣờng xuyên.
Về tâm lý chung thì học sinh chƣa coi trọng bộ môn Công nghệ, chƣa có ý thức
thực hành nghiêm túc, sáng tạo trong công việc. Qua theo dõi thực hành tôi còn nhận
thấy các em bỏ qua nhiều thao tác kỹ thuật, bỏ bƣớc trong quy trình, … Đôi khi có học
sinh làm bài vở của môn khác trong giờ Công nghệ. Qua thăm hỏi học sinh, tôi nhận
thấy đa số các em chƣa thực hành hoặc tham gia thực hành cùng ngƣời thân để lắp đặt
mạng điện, lắp đặt bảng điện hoặc đấu nối dây điện ở gia đình. Đây là việc cần hƣớng
dẫn và khích lệ các em thực hành trên lớp tốt và tự tin thực hành ở thực địa gia đình.

2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG THỰC HÀNH


Qua quá trình giảng dạy và tìm hiểu các tài liệu tham khảo, áp dụng các hƣớng
dẫn của ngành về đổi mới phƣơng pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, … tôi có áp dụng
một số biện pháp cụ thể sau để nâng cao chất lƣợng thực hành của học sinh :
a. Chuẩn bị soạn giáo án.
b. Chuẩn bị tƣ liệu mẫu.
c. Hƣớng dẫn học sinh làm đồ dùng thực hành.
d. Áp dụng một số phƣơng pháp dạy học tích cực trong giảng dạy.
e. Tích hợp kiến thức liên môn vào môn Công nghệ
g. Kiểm tra, nhận xét – đánh giá, động viên học sinh
h. Thu thập kết quả thực hành của học sinh để đối chiếu và điều chỉnh phƣơng
pháp.
a. Chuẩn bị giáo án
Để thực hiện tốt việc giảng dạy nói chung và áp dụng sáng kiến vào giảng dạy
nói riêng thì tôi xác định mình cần chuẩn bị tâm thế chủ động tích cực hoạt động giảng
dạy ngay từ phần việc soạn giáo án, chuẩn bị đồ dùng thực hành, tổ chức phân công
chia nhóm học, phân công chuẩn bị đồ dùng, thực hiện buổi học nghiêm túc – khoa học,
tổ chức thực hành đúng quy trình, đảm bảo thời gian, tiến độ cũng nhƣ chất lƣợng của
bài thực hành. Đồng thời có kế hoạch đôn đốc, kiểm tra, động viên khích lệ các em
trƣớc – trong và sau khi chuẩn bị đồ dùng.
Cụ thể:
Khi soạn giáo án cho mô đun Lắp đặt mạng điện trong nhà thì tôi xác định cần
soạn hai loại giáo án là giáo án dành cho tiết lý thuyết và giáo án dành cho tiết thực


hành. Đối với giáo án lý thuyết thì chi tiết từng hoạt động, cụ thể hóa các thiết bị bằng
thiết bị thực tế hoặc tranh vẽ minh họa – nhất là những chi tiết cần sử dụng lát cắt kỹ
thuật. Trong giờ lý thuyết cần nhắc nhở học sinh liên tục chú ý sơ đồ nguyên lý và vẽ
sơ đồ lắp đặt trƣớc khi đi dây thực tế, để làm điều này thì chính giáo viên khi thực hành
cũng tự vẽ lại sơ đồ mạch điện trên bảng. Khi giảng lý thuyết, giáo viên cũng động viên
và hƣớng dẫn học sinh tìm hiểu kỹ nguyên lý hoạt động của từng thiết bị cơ bản, khi
hiểu nguyên lý hoạt động hơn thì các em thao tác đỡ nhầm lẫn, đôi khi các em có thêm
ý tƣởng sáng tạo. Ví dụ: khi các em hiểu cấu tạo, tác dụng, nguyên lý hoạt động của cầu
chì thì các em sẽ có ý thức lắp cầu chì trên mỗi bảng điện – nhánh điện, chú ý chọn dây
chì phù hợp với điện năng tiêu thụ của toàn đoạn mạnh đó.
Với giáo án tiết thực hành, thì trong phân phối chƣơng trình mô đun Lắp đặt
mạng điện trong nhà đều dành từ 2 đến 4 tiết thực hành cho một phần việc. Do vậy, khi
soạn giáo án và giảng dạy thực tế tôi đều dành tiết thứ nhất của thực hành để hƣớng dẫn
lý thuyết, giới thiệu thiết bị, dụng cụ để thực hành: hình dáng ngoài, cấu tạo trong,
nguyên tắc hoạt động, vị trí lắp đặt trong mạch điện, vị trí lắp đặt trong bảng điện, nêu
yêu cầu thực hành và yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ lắp đặt (cần thiết thì yêu cầu vẽ lại sơ
đồ nguyên lý nữa). Đồng thời lên kế hoạch dự trù vật liệu, dụng cụ, thiết bị cho công
việc của tiết thực hành thứ 2 trở đi. Sau khi có kế hoạch dự trù vật liệu, dụng cụ, thiết bị
cho công việc thì tôi hƣớng dẫn học sinh chuẩn bị các vật liệu đó thông qua hai phƣơng
án: chuẩn bị theo cá nhân, chuẩn bị theo nhóm. Dù phƣơng án nào thì tôi vẫn tôn trọng
ý kiến xung phong hoặc tự ghép nhóm của các em. Điều căn dặn luôn luôn nhớ là: các
vật liệu, dụng cụ, thiết bị điện mà các em chuẩn bị hoặc tự làm không đƣợc đấu nối với
nguồn điện khi chƣa có sự kiểm tra, giám sát của thầy giáo. Đối với giáo án thực hành
tiết thứ 2 trở đi thì bắt đầu cho học sinh thực hành theo nhóm dƣới sự hƣớng dẫn của
giáo viên.


Việc soạn giáo án đƣợc tôi ứng dụng soạn trên văn bản MicrosoftWord hoặc/và
trình chiếu MicrosoftPowerPoint. Ngoài ra tôi còn tìm hiểu trên mạng các tƣ liệu bài
giảng, các hình ảnh, video, … để đƣa vào giảng dạy. Tuy nhiên, việc trình chiếu
PowerPoint đƣợc xác định là công cụ hỗ trợ cho mục tiêu: hƣớng dẫn và phát huy học
sinh tích cực học tập; nên các Slide trình diễn đều đơn giản, không quá màu sắc rƣờm rà
hoặc hiệu ứng lạ kì để tránh sự phân tán của học trò.
Trong quá trình soạn giáo án, tôi cũng chú ý chỉnh sửa giáo án cho phù hợp với
trình độ của học sinh, đảm bảo các em không nhàm chán, không thấy giáo án là bản sao
y hệt của sách giáo khoa, lời giảng của thầy là đọc thuộc lòng từng trang SGK. Đối với
giáo án PowerPoint thì có trình chiếu một số ảnh chụp các kết quả tự làm của học sinh
các khóa trƣớc, để làm mẫu và để khích lệ các em hiện tại làm đồ dùng; hoặc các video
về bƣớc làm cụ thể để các em có kinh nghiệm, đôi khi tôi sử dụng một đoạn video có
sai sót kĩ thuật để các em phát hiện sai sót đó. Để hƣớng dẫn học sinh làm đồ dùng thì
trong lúc soạn giáo án tôi cũng cân nhắc chọn các đồ dùng cụ thể cần thiết để giao cho
các em tự làm, điều này giúp các em vừa có thời gian học môn học khác, vừa làm tốt
yêu cầu của môn Công nghệ; tiếp theo là việc hƣớng dẫn các em làm ở nhà.
Ví dụ: chuẩn bị dây dẫn điện thì xác định qua các câu hỏi: để dẫn điện từ nguồn
vào bảng điện hay từ bảng điện ra thiết bị điện? cần dây điện lõi một sợi hay lõi nhiều
sợi? Kích thƣớc dây nhƣ thế nào? Để nối dây thì cần thêm dụng cụ gì?... và thực tế, mẹo
đặt câu hỏi ở đây xuất phát từ yêu cầu của bài thực hành: mục đích làm gì? Làm nhƣ thế
nào? Có thể cải tiến gì không?... Chính trong quá trình đàm thoại hoặc vấn đáp thầy –
trò thì ngƣời thầy có thêm điều kiện tích hợp một số kiến thức, kĩ năng liên môn; đặc
biệt là kiến thức của môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Giáo dục công dân, … và các kiến
thức về bảo vệ môi trƣờng, tiết kiệm năng lƣợng.


Một điều không đƣợc thể hiện thành văn trong các giáo án nhƣng lại luôn đƣợc
tôi tâm niệm trong giảng dạy đó là: học sinh là trung tâm, hiểu biết và thực hành của các
em là thành quả lao động của thầy; do vậy, dù các em làm tốt rồi hay chƣa tốt thì tôi
luôn động viên, khuyến khích các em. Nhờ vậy, trong quá trình chuẩn bị ở nhà và làm ở
lớp, các em có tâm lý tự tin, thoải mái, nhiệt tình xây dựng bài. Điều này cùng với việc
giáo dục theo hƣớng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng sẽ giúp nhà trƣờng đào tạo đƣợc
những học sinh có đủ kiến thức, kĩ năng, có tác phong lao động gƣơng mẫu; đồng thời
cũng giúp cho các em có liên hệ với kiến thức, kĩ năng của các môn học khác khi học
môn Công nghệ.
b. Chuẩn bị tƣ liệu mẫu:
Khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, ngoài việc chuẩn bị soạn giáo án theo đúng
quy định chuyên môn của ngành với việc chuẩn bị đồ dùng – thiết bị - vật liệu theo yêu
cầu của từng bài thực hành - các đồ dùng này đã có sẵn nhƣ trong danh mục đồ dùng
của phân môn; tôi còn chuẩn bị tƣ liệu mẫu. Gọi là tƣ liệu mẫu đó là các tƣ liệu nhƣ:
hình ảnh, video, mô hình, … do giáo viên và học sinh chuẩn bị cho tiết học. Các tƣ liệu
này do tôi thu thập qua các năm học, tiết học để học sinh có đồ dùng trực quan trong
học tập. Có cả các ảnh chụp đồ dùng sai quy cách, kỹ thuật để các em đối chiếu, so sánh
rút kinh nghiệm cho mình.
Tƣ liệu mẫu cần phản ánh đƣợc mong muốn: trên cơ sở đồ dùng trực quan do
chính thầy cô và bạn bè khóa trƣớc đã làm thì học sinh cũng sẽ có kế hoạch làm tốt yêu
cầu tự làm đồ dùng và khích lệ bản thân làm tốt hơn. Về tâm lý mà nói, việc đƣợc quan
sát thành quả của các bạn học sinh khóa trƣớc, cùng với khích lệ của thầy cô thì học
sinh rất hào hứng tham gia chuẩn bị đồ dùng thực hành ở nhà và tích cực chủ động thực


hành tốt, đúng yêu cầu kĩ thuật ở trên lớp. Do vậy, qua mỗi năm học tôi đều chọn một
số kết quả thực hành ƣng ý nhất để làm tƣ liệu mẫu cho các năm học tiếp theo.
Trong quá trình chuẩn bị tƣ liệu mẫu, tôi có một số kinh nghiệm: đối với các đồ
dùng có chi tiết giản đơn: dây dẫn, cầu chì, bóng đèn, … thì có thể phân công chuẩn bị
theo cá nhân; các đồ dùng có chi tiết phức tạp hơn: bộ bóng đèn, ghép mối các mối nối,
… thì phân công chuẩn bị theo nhóm. Các đồ dùng sau khi chuẩn bị đƣợc đặt vào các
túi đựng riêng biệt, tránh để lẫn, hƣ hỏng, sai số liệu, … Đối với tƣ liệu mẫu là hình
ảnh, đoạn video, bài giảng mẫu,… thì tôi lƣu trữ trên máy tính cá nhân, hòm thƣ cá
nhân, USB, … để đảm bảo không bị mất dữ liệu do lỗi máy tính hoặc “virut”. Sau một
thời gian áp dụng sáng kiến, mỗi bài học tôi đều có bộ thực hành mẫu do tôi và các em
học sinh cùng làm. Đây là một khích lệ nho nhỏ cho thầy và trò trong quá trình tìm hiểu
và thực hành các bài tiếp theo.
c. Hƣớng dẫn học sinh làm đồ dùng thực hành.
Bản thân mỗi tiết học thực hành đều có bộ đồ dùng của nhà trƣờng, nhƣng qua
quá trình giảng dạy tôi nhận thấy số lƣợng, chất lƣợng, … các đồ dùng ngày một giảm;
cần bổ sung liên tục qua các năm học. Chính trong lúc chuẩn bị đồ dùng cho học sinh
tôi đã mạnh dạn cùng các em chuẩn bị rồi giao một số công việc chuẩn bị đồ dùng thực
hành cho các em, đây đƣợc coi là công việc chuẩn bị đƣơng nhiên của các em trƣớc mỗi
bài học. nhƣng nếu ngƣời thầy quan tâm, hƣớng dẫn chu đáo các em chuẩn bị thì các em
có cơ hội tìm hiểu kĩ các đồ dùng, bƣớc đầu có những thao tác kĩ thuật với đồ dùng đó,
… khi tham gia thực hành các em không bỡ ngỡ và bắt kịp hoạt động thực hành trên
lớp. Vì vậy, tôi coi việc hƣớng dẫn học sinh làm đồ dùng là một trong những biện pháp
giúp nâng cao chất lƣợng giờ thực hành.


Mặc dù luôn ý thức bản thân mình soạn bài, chuẩn bị tƣ liệu mẫu, … cho sáng
kiến kinh nghiệm của mình nhƣng tôi cũng luôn ý thức mỗi tiết thực giảng trên lớp của
tôi không phải là tiết học hƣớng dẫn làm đồ dùng – chệch hƣớng nghiêm trọng mục tiêu
bài học. Tôi chỉ coi đây là một trong các phƣơng pháp, phƣơng tiện dạy học để khích lệ
học sinh chủ động trong học tập và có đƣợc đồ dùng thực hành đầy đủ, đảm bảo mục
tiêu bài học. Vì vậy, trong phần này tôi xác định mình lồng ghép việc hƣớng dẫn làm đồ
dùng trong nội dung bài giảng cần đảm bảo sự tôn trọng tính giáo khoa của bài học,
đảm bảo sự đầy đủ không bớt xén các kiến thức – kĩ năng của bài, đảm bảo sự lồng
ghép sáng kiến này là để phục vụ bài giảng đƣợc thành công.
Trong thực tế giảng dạy, ngoài việc đảm bảo trình tự của một tiết học tôi còn
đƣa nội dung sáng kiến của mình vào bài giảng với các yêu cầu cụ thể và cũng là trình
tự sau:
* Đối với tiết lý thuyết hoặc thực hành tiết 1:
- Giới thiệu mục tiêu bài học, phân bố thời gian cho các tiết học.
- Giới thiệu tranh ảnh, mô hình hoặc sản phẩm kết quả của bài học; trên cơ sở đó
học sinh phát hiện ra tên các loại thiết bị, vật liệu, số lƣợng, yêu cầu kĩ thuật, … qua đó
các em xây dựng đƣợc bảng dự trù vật liệu.
- Giáo viên tiếp tục hƣớng dẫn học sinh quan sát sơ đồ nguyên lý, sơ đồ lắp đặt;
với các kiến thức mở rộng và thực tế thì giáo viên giới thiệu qua trình chiếu PowerPoint
hoặc qua tranh ảnh, mô hình hoặc sản phẩm cụ thể. Từ đó, hƣớng dẫn học sinh chuẩn bị
từng thiết bị - đồ dùng cụ thể nhƣ thế nào. Đây là khâu rất quan trọng, bởi học sinh nắm
chắc sơ đồ nguyên lý, sơ đồ lắp đặt, hiểu đƣợc cấu tạo, chức năng, cách dùng thì sẽ thao
tác thực hành đƣợc (phục vụ lợi ích của bài học) và chuẩn bị ở nhà các đồ dùng này
đƣợc.


Ví dụ: Khi học bài 5: Thực hành nối dây dẫn điện. Giáo viên chuẩn bị bảng phụ
là ảnh các mối nối nhƣ SGK, các mối nối thực tế do học sinh khóa trƣớc đã làm và ảnh
các mối nối trong thực tế lắp đặt. Sau khi học sinh quan sát thì giáo viên hỏi học sinh:
+ Tên của mối nối (Học sinh tham khảo qua SGK nếu chƣa biết)
+ Em thƣờng thấy kiểu mối nối này ở đâu trong thực tế?
+ Với loại mối nối (ví dụ chỉ vào mối nối nhánh của dây một lõi) này thì em cần
chuẩn bị dây nhƣ thế nào?
+ Theo em, vì sao phải vòng dây nhánh qua dây chính rồi quay qua chính dây
nhánh của mình ngƣợc 1 vòng?
+ Để mối nối chặt hơn thì em cần làm nhƣ thế nào?
+ Em thấy bƣớc nào khó nhất? dễ nhất?
+ Em có sáng kiến gì cho việc nối dây này không?
Song song với việc học sinh trả lời thì giáo viên có thể chiếu video công đoạn
nối dây hoặc tự giáo viên làm. Sau đó, giáo viên mở rộng thêm với các loại mối nối
khác. Cùng với bảng dự trù vật liệu các em đã lập, yêu cầu các em phân công nhau
chuẩn bị đồ dùng cho tiết thực hành tiếp theo. Nếu các em chƣa biết phân công thì giáo
viên giúp đỡ.
Ở bƣớc này, các câu hỏi tôi thƣờng dùng là:
+ Tên của đồ dùng – vật liệu – thiết bị, … này là gì?
+ Em gặp chúng ở đâu trong thực tế ?
+ Em cần chuẩn bị gì để hoàn thành yêu cầu này?
+ Em thấy bƣớc nào khó nhất? dễ nhất?


+ Em có sáng kiến nào để làm tốt yêu cầu này không?
Các hoạt động tôi thƣờng làm là:
+ Giới thiệu đồ dùng trực quan: tranh ảnh, video, mô hình, vật thật, …
+ Giới thiệu nguyên lý làm việc, nguyên tắc lắp đặt hoặc đặc điểm kĩ thuật của
các đồ dùng trực quan trên.
+ Thao tác mẫu hoặc trình chiếu thao tác mẫu.
+ Lắng nghe, tiếp nhận các ý kiến của các em để giải đáp hoặc đánh giá nhận xét
các ý tƣởng của các em.
* Đối với tiết thực hành thứ 2 trở đi:
- Kiểm tra việc chuẩn bị của học sinh.
- Tổ chức cho học sinh quan sát một hình ảnh hoặc 1 sản phẩm thực hành cụ
thể (quan sát tƣ liệu mẫu) : bảng điện trong lớp học, một mối nối cụ thể hoặc ảnh chụp
một sơ đồ lắp đặt, …
- Học sinh trình bày đồ dùng thực hành mình đã chuẩn bị dƣới sự hƣớng dẫn
của giáo viên. Giáo viên kiểm tra đồ dùng, nếu đảm bảo yêu cầu nhất là yêu cầu an toàn
điện thì động viên, khen ngợi học sinh và đồng ý cho các nhóm thực hành với đồ dùng
này. Ngƣợc lại, nếu kiểm tra thấy chƣa đảm bảo các yêu cầu thì phân tích cho học sinh
các lỗi đấy; động viên các em đã có tinh thần chuẩn bị đồ dùng và yêu cầu các em tham
gia thực hành với các nhóm khác hoặc sử dụng đồ dùng của phòng thiết bị đồ dùng. Để
giảm thiểu các lỗi sai sót thì ngay từ tiết học trƣớc, giáo viên lƣu ý cho học sinh một số
thao tác có thể nhầm lẫn trong khi chuẩn bị.


- Học sinh thực hành theo nhóm đã phân công. Giáo viên theo dõi sát sao từng
nhóm. Bƣớc đầu chú ý việc chọn thiết bị điện phù hợp, quy trình nối dây, an toàn điện
rồi mới đến vấn đề kỹ thuật, mỹ thuật.
- Cho các nhóm chấm chéo kết quả của nhau, nêu các ƣu điểm – nhƣợc điểm
của từng kết quả thực hành sau đó giáo viên chấm kết quả các nhóm, rút kinh nghiệm
chung và đƣa ra yêu cầu tiếp theo.
Để tiết thực hành đƣợc thành công, giáo viên cần chia nhóm hợp lý: cân đối nam
nữ, trình độ hiểu biết, … hoặc phân công phần việc phù hợp: vẽ sơ đồ, tách vỏ dây, nối
dây, đánh dấu, khoan – vít, đi dây, … Tuy nhiên, cũng cần tôn trọng tính tự quyết của
học sinh khi mong muốn ghép nhóm để phát huy hết sở trƣờng của các em.
Đối với thiết bị, dụng cụ thực hành thì giáo viên cần chú ý: thiết bị, dụng cụ của
giáo viên cần đạt chuẩn và có tính gƣơng mẫu trong chuẩn bị. Đối với thiết bị, dụng cụ
của học sinh thì yêu cầu đơn giản hơn nhƣng vẫn phải đảm bảo tính khoa học, an toàn,
đúng mục đích sử dụng; trong trƣờng hợp các thiết bị phức tạp có thể chia nhỏ yêu cầu
chuẩn bị cho các em, ví dụ: chuẩn bị cho lắp đặt bảng điện thì chia nhỏ công việc:
chuẩn bị khoan và các đinh vít – chuẩn bị công tắc và đi dây công tắc – chuẩn bị cầu chì
và đi dây cầu chì, …
Đối với các thao tác thực hành khó: khoan lỗ, lắp đặt thiết bị điện tử trong máng
điện, … thì giáo viên cần làm mẫu và hƣớng dẫn tỉ mỉ. Có thể yêu cầu 1 – 2 học sinh
thực hành thử rồi mới yêu cầu các nhóm làm đại trà.
Đặt ra các tình huống có thể xảy ra để học sinh có thêm kĩ năng giải quyết trong
thực tế: đèn không sáng, thiết bị không hoạt động, đèn sáng yếu, mối nối bị rò điện, …
để học sinh suy tƣ, tìm hiểu trong thực tế, tham khảo kiến thức ở ngƣời thân. Nhờ quá


trình học trên lớp, học ngoài nhà trƣờng nhƣ vậy, khả năng thực hành và xử lí tình
huống của các em sẽ đƣợc nâng cao dần.
Động viên học sinh mạnh dạn thực hành tại gia đình nhƣng phải nhắc nhở các
em cần làm dƣới sự quản lý giám sát của bố mẹ hoặc ngƣời có kiến thức nghề điện.

d. Áp dụng một số phƣơng pháp dạy học tích cực trong giảng dạy.
Trong các năm học gần đây, ngành Giáo dục đã có nhiều cải cách quan trọng, từ
hệ thống SGK, chuẩn kiến thức – kỹ năng, … đến đổi mới phƣơng pháp dạy học. Đây
thực sự là một cơ hội tốt cho các thầy cô giáo đƣợc tìm hiểu, tiếp cận, áp dụng các
phƣơng pháp dạy học tiên tiến, hiệu quả vào giảng dạy. Tuy nhiên, với đặc trƣng riêng
của mỗi bộ môn và căn cứ vào tình hình điều kiện cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục mà
ngƣời thầy chọn lọc và áp dụng các phƣơng pháp dạy học tích cực, phù hợp với học
sinh của mình và góp phần nâng cao chất lƣợng môn học. Với sự hƣớng dẫn, chỉ đạo
chuyên môn của tổ chuyên môn, nhà trƣờng và các cấp, qua thực tế giảng dạy tôi thấy
mình tâm đắc và áp dụng một số phƣơng pháp dạy học tích cực sau:
Phƣơng pháp vấn đáp: đây là phƣơng pháp đƣợc sử dụng khá nhiều trong các
công việc: đặt vấn đề để vào bài, kiểm tra nhận thức – kĩ năng của HS/ nhóm HS, ghi
nhận các thông tin phản hồi từ phía các em học sinh. Trong quá trình giảng dạy, tôi
thƣờng sử dụng vấn đáp giải thích – minh họa nhằm làm sáng tỏ nội dung của yêu cầu
thực hành, cách vấn đáp này sử dụng cùng với đồ dùng trực quan rất có ích cho việc
nghe – nhìn – hiểu – làm của các em.
Ví dụ: khi dạy bài 5 Thực hành: Nối dây dẫn điện, tôi áp dụng phƣơng pháp vấn
đáp trong việc đặt vấn đề vào bài:


GV: Mạng điện trong mỗi gia đình chỉ có 1 đƣờng nhánh duy nhất từ bảng điện
đến thiết bị điện hay không?
HS: không, trên đƣờng đi của dây nguồn, có thể phân nhiều nhánh.
GV: Có thể ghép một số thiết bị điện vào chung một đƣờng dây không? Cách
mắc thế nào?
HS: có thể mắc nhiều thiết bị vào chung một đƣờng dây, bằng cách mắc song
song.
GV: Khi mắc nhƣ vậy, thì sẽ có nhiều đoạn mạch ta phải thực hiện các mối nối:
nối thẳng, nối phân nhánh, … trong thực tế việc nối dây dẫn điện là việc làm thƣờng
gặp nên chúng ta sẽ tìm hiểu và thực hành nối dây dẫn điện.
Khi áp dụng phƣơng pháp dạy học tích cực trong bộ môn thì tôi ghi nhớ một
nhận xét rất quý:
“Nói cho tôi nghe – tôi sẽ quên
Chỉ cho tôi thấy – tôi sẽ nhớ
Cho tôi tham gia – tôi sẽ hiểu”
bởi vì:

“Ta nghe – ta sẽ quên.
Ta nhìn – ta sẽ nhớ.
Ta làm – Ta sẽ học được”

Vì vậy, việc vấn đáp phải đƣợc sử dụng để gợi nhớ kiến thức cũ hoặc liên hệ
kiến thức liên môn để gợi ý kiến thức mới, ... tránh hiện tƣợng vấn đáp các vấn đề
chung chung hoặc không có liên quan đến mục tiêu của bài học hiện tại.


Phƣơng pháp dạy học nhóm: Đối với mỗi lớp 9, khi vào năm học tôi hƣớng dẫn
chia nhóm các em học sinh, bƣớc đầu là tự các em ghép nhóm, mỗi nhóm từ 4 – 6 HS,
qua một số bài thực hành GV sẽ chia lại thành các nhóm có sự cân đối về số lƣợng, lực
học, giới tính, … Để thúc đẩy việc các nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập,
GV yêu cầu trong mỗi nhóm có cử nhóm trƣởng, phân công nhiệm vụ từng bạn trong
nhóm một phần việc cụ thể, có ghi chép công việc của các thành viên trong bảng báo
cáo thực hành, khi trình bày kết quả thực hành GV có thể chỉ định bất kể thành viên nào
trong nhóm trình bày, không cứ chỉ mỗi trƣởng nhóm trình bày báo cáo. Qua các năm
học tôi nhận thấy: ban đầu các em kết nhóm theo những sở thích, hứng thú của các em;
điều này có lợi thế là các em gần nhau hơn và dễ phân công trợ giúp nhau thực hành,
nhƣng hạn chế của cách lập nhóm này là có thể xảy ra sự phân biệt giới tính, làng xóm,
mức độ học tập, … nên sau một số buổi ghép nhóm ban đầu, GV sẽ hƣớng dẫn lập
nhóm theo hƣớng: có HS khá để hỗ trợ HS yếu, có HS nam trợ giúp HS nữ, …

e. Tích hợp kiến thức liên môn và một số chủ đề khác vào môn Công nghệ.
Không có gì tuyệt vời bằng việc từ bài học lí thuyết đến bài học thực hành trong
phòng thí nghiệm lại đƣợc minh họa hoặc triển khai ở một số môn học khác hoặc trong
thực tế. Đối với mô đun Lắp đặt mạch điện trong gia đình thì điều này dễ dàng nhận
thấy và học sinh khi nhìn nhận đƣợc điều này đều thấy sự ích lợi của bộ môn và hào
hứng trong việc học và áp dụng vào đời sống.
Trong quá trình giảng dạy Công nghệ 9 tôi nhận thấy có một số kiến thức liên
môn có thể áp dụng vào trong việc khơi gợi kiến thức cho HS, kiểm chứng các kiến
thức đó bằng hành động thực hành, thực tế. Ví dụ cụ thể:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×