Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN định hướng khi dạy bài chất béo môn hóa học lớp 9

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
" ĐỊNH HƯỚNG KHI DẠY BÀI “ CHẤT BÉO” CỦA HÓA HỌC 9"

1


I. PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Bối cảnh của đề tài.
Ở bất kì đất nước nào, những đổi mới ở giáo dục phổ thông mang tính cải cách
giáo dục đều bắt đầu từ việc xem xét điều chỉnh mục tiêu giáo dục với những kì vọng mới
về mẫu người học sinh có được trong quá trình giáo dục.
Việc dạy và học hóa học ở trường THCS cần được đổi mới nhằm góp phần thực
hiện tốt mục tiêu của nhà trường phổ thông trung học cơ sở. Một trong những nhiệm vụ
ưu tiên là cần coi trọng việc hình thành và phát triển tiềm lực trí tuệ cho học sinh. Cần bồi
dưỡng và tạo điều kiện cho học sinh được rèn luyện năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có
ý thức và biết vận dụng tổng hợp kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn. Một trong
những biện pháp quan trọng là người giáo viên coi trọng hơn việc chỉ dẫn cho học sinh
(HS) con đường tìm ra kiến thức mới mà không chỉ dừng lại ở việc cung cấp những kiến
thức có sẵn, chú ý rèn luyện kĩ năng cho học sinh, chú ý đánh giá kiểm tra năng lực vận

dụng tổng hợp kiến thức, đó cũng là một biện pháp dạy học cho học sinh cách học và
cách tự học.
2. Lý do chọn đề tài.
Hóa học là bộ môn khoa học tự nhiên được đưa vào chương trình giảng dạy ở phổ
thông cơ sở, được bắt đầu từ lớp 8 và là một bộ môn rất khó học đối với nhiều học sinh.
Thông qua bộ môn, học sinh được cung cấp những kiến thức lý thuyết cơ bản về hóa học
và đồng thời các em được làm quen với một số dạng bài tập đặc trưng của môn hóa học.
Trong môn Hóa học cần có sự kết hợp logic giữa lý thuyết và bài tập, học thuộc và hiểu
được lý thuyết mới làm được bài tập và ngược lại có làm bài tập được mới khắc sâu được
kiến thức.

2


Trong thực tế giảng dạy Hóa học lớp 9 tôi thấy vẫn còn nhiều học sinh cho rằng đây là
một môn học khó (nhất là hóa học hữu cơ), các em luôn cảm thấy khó nhớ về nội dung lí
thuyết như: công thức cấu tạo, tính chất hóa học (phương trình hóa học) dẫn đến các em
không làm được các bài tập (chuỗi phản ứng, kĩ năng nhận biết các chất). Do đặc trưng
môn học, những học sinh nào đã nắm vững được kiến thức lý thuyết thì chất lượng đạt
khá cao, còn những học sinh hiểu một cách không chắc chắn thì có cảm giác sợ và rất vất
vả khi tiếp thu bộ môn này.
Qua đánh giá quá trình nắm kiến thức, kĩ năng về Hóa học nói chung và Hóa học
hữu cơ nói riêng, thực trạng cho thấy chất lượng bộ môn với tỉ lệ học sinh giỏi còn thấp,
học sinh yếu kém thì lại cao, kết quả này được đánh giá qua các lần kiểm tra thường
xuyên, kiểm tra định kì và kiểm tra học kì trong mỗi năm học.
Số lượng học sinh có điểm yếu kém còn nhiều là do hầu như học sinh chưa biết
cách viết công thức cấu tạo phân tử, tính chất hóa học, nhận biết các chất, phương trình
hóa học của các chất hữu cơ.
Vì vậy với những khó khăn trên, là một giáo viên trực tiếp dạy môn hóa học tôi
nhận thấy việc nâng cao chất lượng dạy hóa học và đặc biệt có phương pháp dạy tốt dạng
bài nghiên cứu về cấu tạo, tính chất của một hợp chất hữu cơ cụ thể như bài “Chất béo”,
tôi luôn tìm tòi, trao đổi, học hỏi các đồng nghiệp, sách vở để tìm ra phương pháp dạy tốt
nhất giúp học sinh nắm vững kiến thức lý thuyết bộ môn, khi nắm vững lý thuyết thí các
em mới tự tin giải quyết bài tập. Với mong muốn đó tôi mạnh dạn viết ra đây một số kinh
nghiệm nhỏ đó là: Định hướng khi dạy bài “chất béo” ở hóa học lớp 9 .
3. Phạm vi và đối tượng của đề tài.
3.1. Phạm vi đề tài.

3



Trong đề tài này tôi chỉ đề cập đến việc định hướng khi dạy dạng bài nghiên cứu về
cấu tạo, tính chất của một hợp chất hữu cơ cụ thể thông qua bài “ Chất béo” ở hóa học
lớp 9.
3.2. Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu phương pháp dạy học tích cực trong các dạng bài về cấu tạo, tính chất
của một hợp chất hữu cơ cụ thể.
Học sinh lớp 9 Trường THPT Ngô Sĩ Liên.
4. Mục đích đề tài.
Nhằm trao dồi nâng cao trình độ, chất lượng chuyên môn cho bản thân.
Giúp học sinh phát huy cao độ tính tích cực, tự giác trong học tập bộ môn Hoá học
5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu.
Một số kinh nghiệm khi giảng dạy bài chất béo nói riêng và các dạng bài nghiên
cứu cấu tạo, tính chất của hợp chất hữu cơ cụ thể nói chung đã giúp học sinh nắm bắt
kiến thức sâu hơn, từ đó hình thành và rèn luyện được kĩ năng viết phương trình hóa học,
làm tăng hứng thú học tập, giờ học sinh động không nhàm chán, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học.
II. PHẦN NỘI DUNG.
1. Cơ sở lý luận.
Hóa học là một môn học có tầm quan trọng vô cùng to lớn bởi vì đây là nhiệm vụ
do Đảng - Nhà nước đề ra trong lĩnh vực phát triển ngành hóa học và vai trò của nó trong
nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, nhiệm vụ của việc dạy học Hóa học ở trường trung
học cơ sở là không chỉ chú ý cung cấp kiến thức Hóa học mà còn phải chú ý tới nhiệm vụ
giáo dục thế giới quan, đạo đức cách mạng và nhiệm vụ phát triển tiềm lực trí tuệ cho học
sinh thông qua dạy học bộ môn Hóa học.

4


Ngoài ra, giáo viên phải biết được các kiến thức tâm lí học, giáo dục học, lí luận
Mác- Lênin, các môn học khác thuộc chương trình trung học cơ sở, cập nhật thông tin
nhằm tăng cường tính thực tiễn trong nội dung chương trình, tăng cường mối liên hệ bộ
môn hoặc tích hợp các môn học, đặc biệt với môn Vật lí và Sinh học. Mặt khác trong quá
trình giảng dạy giáo viên biết nội dung chương trình sách giáo khoa Hóa học 8 - 9 để
phân tích sự phát triển của một số kiến thức cơ bản nhất có liên hệ đến chương trình
Trung học phổ thông, biết sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp với mỗi kiểu bài
lên lớp, biết kĩ năng sử dụng thí nghiệm, phương tiện dạy học và hình thức tổ chức dạy
học tối ưu nhằm bảo đảm ở mức độ cao nhất tính tự giác, tích cực và tự lực của học sinh,
phát triển cho học sinh năng lực sáng tạo, niềm đam mê học tập. Giáo viên phải coi trọng,
tận dụng sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật hiện đại, đồng thời chú ý tới hoàn cảnh thực tế
Việt Nam trong quá trình giảng dạy.
Hiện nay, nước Việt Nam đang trên đà phát triển hội nhập quốc tế, vì vậy để đáp
ứng yêu cầu của đất nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đáp ứng được
yêu cầu đổi mới của giáo dục, yêu cầu phát triển nhân lực trong cơ chế thị trường, cho
nên người giáo viên cần phát huy hết tầm quan trọng của Hóa học trong công cuộc xây
dựng và phát triển kinh tế đất nước, trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường
chính là đào tạo học sinh thành những con người năng động, độc lập và sáng tạo, tiếp thu
được những tri thức khoa học, kỹ thuật hiện đại, biết vận dụng tìm ra các giải pháp hợp lý
cho những vấn đề trong cuộc sống của bản thân và của xã hội.
Muốn thực hiện được mục tiêu này, đòi hỏi người giáo viên cần phải dựa trên cơ
sở quan niệm tích cực hóa hoạt động của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm của quá
trình dạy học.
2. Thực trạng vấn đề.

5


2.1. Thuận lợi
Được sự quan tâm của Đảng ủy xã Phi Thông, các cấp lãnh đạo Phòng giáo dục
Thành phố Rạch Giá, Sở giáo dục và Đào tạo Tỉnh Kiên Giang, trường THPT Ngô Sĩ
Liên đã được trang bị khá tốt về cơ sở vật chất (sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, mô
hình, dụng cụ, hóa chất), điều kiện đi lại của giáo viên đã được cải thiện.
Bên cạnh đó đội ngũ giáo viên trẻ và rất nhiệt tình trong công tác giảng dạy. Trong
hoạt động chuyên môn tôi luôn nhận được sự hướng dẫn chỉ đạo tận tình từ phía Ban
giám hiệu, tổ chuyên môn cùng các bạn bè đồng nghiệp.
Giáo viên được tập huấn đầy đủ về chương trình chuẩn kiến thức kĩ năng môn Hóa
học 8 - 9 nên phần nào cũng hiểu được nội dung kiến thức cần truyền đạt cho học sinh .
Đối với học sinh thì một số em học rất tích cực, biết phát huy khả năng hiểu biết
của mình, biết tham gia đóng góp ý kiến để cùng giáo viên giải quyết những khó khăn để
tìm ra những kết quả tốt nhất trong các bài luyện tập cũng như bài học lý thuyết.
Một số phụ huynh cũng quan tâm đến việc học của con em mình qua việc góp ý
kiến với giáo viên và rèn luyện cách học thêm ở nhà. Từ đó giáo viên có phương pháp và
định hướng dạy một cách tốt hơn. Ðó cũng là một phần thuận lợi mang lại hiệu quả rất
cao .
Bản thân tôi là giáo viên (GV) nhiều năm liền giảng dạy Hóa học 9 nên tôi hiểu và
có kế hoạch chuẩn bị đồ dùng dạy học chu đáo, chủ động đề ra cách sử dụng các phương
tiện dạy học như thế nào để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh nhằm giúp tiết
học đạt kết quả tốt hơn.
Các mẫu vật chứa chất béo gắn liền với thực tiễn đời sống con người nên các em
sưu tầm mẫu vật dễ hơn, có thể dự đoán được một số tính chất vật lí của chất béo thông
qua thực tế.

6


Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc vẽ biểu đồ so sánh năng lượng tỏa ra khi
oxi hóa chất béo, chất đạm và chất bột nên học sinh dễ rút ra một số kiến thức ứng dụng
của chất béo.
2.2. Khó khăn
- Do cơ sở vật chất còn thiếu thốn nên trường chưa có phòng thực hành thí nghiệm
cho bộ môn dẫn đến khâu quản lí, tổ chức HS di chuyển dụng cụ- hóa chất từ phòng học
này sang phòng học khác gặp rất nhiều khó khăn như: tốn nhiều thời gian, không đảm
bảo an toàn khi di chuyển.
- Do tranh ảnh cấp về còn ít.
- Do trình độ nhận thức của HS chưa đồng đều, nhiều HS đi học theo nguyện vọng
của gia đình hơn là ham hiểu biết dẫn đến tình trạng học tập một cách thụ động.
3. Những hạn chế và khó khăn khi dạy bài: “Chất béo”
Ngoài những lí do khách quan trên, khi dạy bài: “Chất béo” vẫn còn gặp một số
hạn chế, bởi vì chất béo là một trong những hợp chất hữu cơ, mà Hóa học hữu cơ lại là
một phần khó trong chương trình hóa học trung học cơ sở (THCS), nguyên nhân chính là
do ở chương trình THCS học sinh mới bước đầu nghiên cứu về nguyên tử, phân tử chưa
được học về cấu trúc nguyên tử, liên kết hóa học do vậy việc nghiên cứu về Hóa học hữu
cơ sẽ gặp nhiều khó khăn như:
Thứ nhất: Đối với hợp chất vô cơ, việc nghiên cứu các chất cụ thể, tiêu biểu được
bắt đầu bằng sự tìm hiểu tính chất chung của mỗi loại trước.Ví dụ như: Học xong bài 3:
“Tính chất hóa học của axit” HS sẽ được nghiên cứu tiếp bài 4: “Một số axit quan trọng:
H2SO4”, lúc này dựa trên kiến thức tính chất hóa học chung của axit đã học, HS dễ dàng
dự đoán một số tính chất hóa học của axit sunfuric. Còn đối với hợp chất hữu cơ, thì việc

7


nghiên cứu các chất tiêu biểu cũng chính là sự tìm hiểu trực tiếp những chất đó như:
Metan, etilen, axetilen, rượu etylic, chất béo, glucozơ, saccarozơ, tinh bột, xenlulozơ,
protein, … dẫn đến tất cả kiến thức ở mỗi bài đều mới lạ nên quá trình xây dựng và tiếp
thu bài ở HS sẽ gặp nhiều khó khăn hơn so với khi học hợp chất vô cơ.
Thứ hai: Do các năm học trước, khi dạy phần: “Tính chất vật lí của chất béo” tôi
chưa nghĩ đến việc đưa các yêu cầu nội dung thí nghiệm vào phiếu học tập nên việc thảo
luận nhóm và báo cáo kết quả thí nghiệm của HS còn mất nhiều thời gian. Mặt khác, khi
cho HS thí nghiệm tôi chưa nhấn mạnh nội dung và các thao tác thí nghiệm dẫn đến 4
nhóm có kết quả báo cáo hiện tượng quan sát được như sau:
+ Có 2 nhóm nêu kết luận đúng là: chất béo tan được trong benzen, xăng.
+ Có 2 nhóm nêu kết luận ngược lại là: chất béo không tan trong benzen, xăng.
Tôi tìm hiểu nhanh nguyên nhân thí nghiệm không thành công, thì được biết thao tác
thí nghiệm chưa chính xác và các em cho quá nhiều dầu ăn vào ống nghiệm trên dẫn đến
dầu ăn tan không hoàn toàn trong benzen, trong xăng cho nên có 2 nhóm HS đã ngộ nhận
và rút ra kết luận sai.
Thứ ba: Do các năm học trước khi dạy phần: “Cấu tạo và thành phần phân tử của
chất béo” tôi chỉ đơn thuần thông báo cho HS biết được công thức của glixerol, các axít
béo, chất béo như SGK Hóa học 9 trang 145 đã nêu.
● Với phương pháp giảng dạy trên, tôi đã khảo sát thực tế ngẫu nhiên của 02 lớp
(91, 92) bằng cách kiểm tra 15 phút vào đầu giờ học của tiết sau với nội dung: Trình bày
tính chất hóa học của chất béo, viết phương trình hóa học minh họa?
Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ điểm kiểm tra 15 phút của tổng HS lớp 9 1, 92 (năm
học 2010 -2011) như sau:

8


ĐIỂM KIỂM TRA 15 PHÚT
Qua
TSHS Giỏi
TS

Khá
%

TS

Yếu

Tb
%

TS

%

TS

Kém
%

TS

kết
%

quả

trên, tôi thật
sự lo lắng

70

7

10

10

14,3

27

38,6

20

28,6

6

8,5

đến

chất

lượng

của

HS và chợt hiểu ra rằng: do phương pháp mà tôi vừa truyền đạt cho HS còn mang tính áp
đặt nên HS tiếp nhận những tri thức trên một cách thụ động, máy móc. Đây cũng là một
trong những nguyên nhân mà HS bị điểm thấp vì đa số HS còn nhầm lẫn giữa công thức
của chất béo với các axit béo, ghi công thức của glixerol, công thức của sản phẩm chưa
chính xác, dẫn đến lập phương trình hóa học còn sai nhiều.
Thứ tư: Vì các thí nghiệm thủy phân chất béo trong môi trường kiềm hoặc axit đều
đòi hỏi nhiều thời gian nên không tiến hành các thí nghiệm này trên lớp được, đồng thời
ở phản ứng thủy phân chất béo, nhìn trên phương trình phản ứng ta chỉ thấy có một muối
(hoặc một axit) được tạo thành nhưng thực tế đó là một hỗn hợp muối (hoặc một hỗn hợp
axit).
III. NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ.
1. Giải pháp thực hiện.
Từ những thuận lợi và khó khăn của bài dạy trên tôi đã hiểu ra rằng:

Việc thực

hiện đổi mới phương pháp dạy học kết hợp với công nghệ thông tin là một vấn đề cần
thiết và nên làm để nâng cao chất lượng dạy học nói chung và chất lượng dạy học Hóa
học nói riêng, góp phần đào tạo những con người lao động năng động sáng tạo, có năng
lực giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.

9


Dạy Hóa học không phải chỉ là quá trình dạy, truyền thụ kiến thức, thông báo thông
tin, “rót” kiến thức vào học sinh mà chủ yếu là quá trình giáo viên thiết kế, tổ chức, điều
khiển các hoạt động nhận thức tích cực của học sinh để đạt được các mục tiêu cụ thể có
trong bài học.
Đây là dạng bài nghiên cứu cấu tạo, tính chất hóa học của một chất hữu cơ cụ thể,
GV cần chú ý thể hiện được phương pháp sau:
+ GV nêu vấn đề cần nghiên cứu, nhằm kích thích tính tò mò của HS.
+ GV sử dụng thí nghiệm hóa học theo hướng kiểm tra, dự đoán và kết luận đồng
thời GV sử dụng thí nghiệm nghiên cứu, nhằm giúp HS rút ra tính chất mới. Lưu ý đối
với thí nghiệm, GV phải nắm vững kĩ thuật thí nghiệm, đảm bảo thí nghiệm phải thành
công do đó GV phải chuẩn bị từng dụng cụ, hóa chất phục vụ thí nghiệm của GV (hoặc
HS) thật tỉ mỉ, chu đáo, phải thực hiện thí nghiệm trước khi dạy và nhất là không được
chủ quan.
+ GV sử dụng mẫu vật, tranh ảnh, như là nguồn để HS khai thác kiến thức mới.
+ GV phải hướng dẫn HS quan sát, mô tả hiện tượng, giải thích, nhận xét và rút ra
kết luận.
+ GV cho HS đọc và tóm tắt được thông tin trong bài học.
+ GV sử dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề cần tránh những câu hỏi quá vụn vặt,
không logic.
+ Đối với phương pháp thảo luận nhóm GV cần quy định nội dung nhiệm vụ, thời
gian cụ thể cho mỗi nhóm để tất cả HS đều có vai trò nhất định và tích cực tự giác hoạt
động theo tinh thần hợp tác nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao. Cần tránh tình trạng
chỉ một HS làm còn các HS khác làm việc riêng hoặc gây mất trật tự trong lớp.

10


+ Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy GV phải biết phối hợp các phương pháp
trên một cách linh hoạt thì tiết dạy mới đạt hiệu quả cao.
Tùy điều kiện từng trường, từng địa phương mà GV thực hiện đổi mới phương pháp dạy
học Hóa học một cách linh hoạt. Chẳng hạn như để tiến hành bài giảng này thành công,
bản thân tôi và HS có sự chuẩn bị như sau:
Thứ nhất: GV phải xác định đúng mục tiêu cụ thể của bài:
* Kiến thức:
- Khái niệm chất béo, trạng thái thiên nhiên, công thức tổng quát của chất béo đơn giản là
(RCOO)3C3H5, đặc điểm cấu tạo.
- Tính chất vật lí: trạng thái, tính tan.
- Tính chất hóa học: phản ứng thủy phân trong môi trường axit và trong môi trường kiềm
( phản ứng xà phòng hóa)
- Ứng dụng : Là thức ăn của người và động vật, là nguyên liệu trong công nghiệp
* Kĩ năng:
Quan sát thí nghiệm, hình ảnh … rút ra được nhận xét về công thức đơn giản, thành
phần cấu tạo và tính chất của chất béo.
Viết được PTHH phản ứng thủy phân của chất béo trong môi trường axit, môi
trường kiềm.
Phân biệt chất béo (dầu ăn, mỡ ăn) với hidrocacbon ( dầu, mỡ công nghiệp)
Tính khối lượng xà phòng theo hiệu suất.
* Thái độ:

11


Học sinh có ý thức tích cực làm việc cá nhân, hoạt động nhóm, giáo dục HS tính cẩn
thận, biết cách bảo quản chất béo và có chế độ ăn uống hợp lí để bảo vệ sức khỏe.
Thứ hai: GV và HS phải có sự chuẩn bị thiết bị dạy học cần thiết cho tiết dạy:
* Đồ dùng dạy học:
● Giáo viên:
- Dụng cụ và hóa chất dùng cho thí nghiệm tính chất vật lí của chất béo:
+ Dụng cụ: 1 giá ống nghiệm, 1 kẹp gỗ, 1 ống hút nhỏ giọt, 1 khay, 1 chậu / nhóm.
+ Hóa chất: 3 ống nghiệm đựng nước, benzen, xăng (có nút đậy), cốc đựng dầu
ăn.
- Bảng phụ (kiểm tra bài cũ), bảng phụ (củng cố).
- Tranh vẽ biểu đồ: so sánh năng lượng khi oxi hóa chất đạm, chất bột, chất béo.
- Phiếu học tập/ nhóm có nội dung như sau:
STT

Thí nghiệm

Hiện tượng

Nhỏ 2-3 giọt dầu ăn vào
1

ống nghiệm đựng 4 ml
nước, lắc nhẹ, quan sát.
Nhỏ 2-3 giọt dầu ăn vào

2

ống nghiệm đựng 4 ml
benzen, lắc nhẹ, quan sát.

3

Nhỏ 2-3 giọt dầu ăn vào

12

Kết luận


ống nghiệm đựng 4 ml
xăng, lắc nhẹ, quan sát.

● Học sinh: Chuẩn bị dầu máy may, các mẫu vật có chứa chất béo, chất đường bột như: lạc, vừng, dầu thực vật, dầu gấc, hạt đào, gạo, tinh bột, muối ăn, đường, mẫu
dừa khô, dầu cá, mỡ lợn,…
Thứ ba: giáo viên phải xác định phương pháp, kĩ thuật dạy học chủ yếu.
Đây là dạng bài: nghiên cứu hợp chất hữu cơ cụ thể cho nên trong quá trình giảng
dạy, tôi có thể phối hợp một số phương pháp: nêu vấn đề cần nghiên cứu, trực quan, thí
nghiệm nghiên cứu, thí nghiệm kiểm chứng, thảo luận nhóm, đàm thoại, thông báo,…
Thứ tư: Giáo viên biết thiết kế các hoạt động dạy học theo hướng tích cực ở trên lớp
* Trước khi vào bài tôi tiến hành kiểm tra bài cũ: (5 phút)
- Giáo viên treo bảng phụ:
1. Viết công thức cấu tạo thu gọn của rượu etylic ………..
2. Viết công thức cấu tạo thu gọn của axitaxetic ………….
3. Hoàn thành sơ đồ phản ứng sau:
CH3COOH + C2H5OH -----------> ……?……. + ….……?…….
+ Gọi tên sản phẩm chính
+ Etyl axetat thuộc loại hợp chất gì?
+ Phản ứng trên thuộc loại phản ứng gì?

13


Kết quả của đáp án tôi lưu lại bên góc phải của bảng (mục đích là dựa vào kiến thức bài
cũ để khai thác kiến thức khi dạy bài mới)
* Để tạo tình huống vào bài giáo viên nêu vấn đề:
Trong nguồn thức ăn chúng ta dùng hàng ngày có rất nhiều dầu - mỡ, chúng là một
trong những thành phần cơ bản tạo nên cơ thể động thực vật chính vì thế mà chúng có ý
nghĩa rất quan trọng đối với đời sống sinh vật. Vậy chúng có thành phần chính là gì? có
tính chất và cấu tạo như thế nào? Để trả lời các câu hỏi trên chúng ta cùng tìm hiểu:

Bài 46 - CHẤT BÉO.
* Cách thức tổ chức:
Ở mỗi hoạt động của bài học, tôi có thể sử dụng hệ thống câu hỏi và phương pháp như
sau:
Hoạt động 1: I. Chất béo có ở đâu? (4 phút)
Phương pháp: nêu vấn đề, trực quan, thảo luận nhóm, đàm thoại, tái hiện kiến thức
cũ,…
Vì chất béo rất gần gũi với đời sống thực tiễn của con người nên để cho tiết học sinh
động tôi tổ chức cho HS hoạt động nhóm dựa trên những mẫu vật đã đem để tự tìm tòi
phát hiện tri thức:
Bước 1: Tôi thông báo: Mỡ dùng để ăn được lấy từ động vật và dầu ăn được lấy từ
thực vật, dầu ăn và mỡ động vật đều được gọi là chất béo.

14


Bước 2: Dựa trên cơ sở đó tôi yêu cầu các nhóm lấy mẫu vật đã đem để trên bàn và
sắp xếp chúng thành 2 nhóm: nhóm có chứa chất béo và nhóm không chứa chất béo với
thời gian 2 phút.
Bước 3: Sau khi HS sắp xếp xong cho đại diện báo cáo kết quả.
Bước 4: Từ đó cho HS rút ra kết luận về nguồn chất béo có trong thiên nhiên.
Bước 5: Giáo viên nêu vấn đề: Dầu, mỡ bôi trơn các ổ bi, xe máy có phải là chất béo
không? (HS: Dầu, mỡ bôi trơn các ổ bi, xe máy…không phải là chất béo).
- Vì sao dầu mỡ bôi trơn các ổ bi, xe máy… không phải là chất béo? (HS: Vì
chúng là sản phẩm của dầu mỏ).
● Giáo viên áp dụng phương pháp trên kết hợp việc sử dụng mẫu vật thật sẽ giúp HS
dễ quan sát, thảo luận tốt, không khí lớp học sôi nổi. Kết quả: 100% HS tự rút ra kết luận
rất nhanh, dẫn đến HS hứng thú học tập hơn so với dùng tranh vẽ.
Hoạt động 2: II. Chất béo có những tính chất vật lí quan trọng nào? (5 phút)
Phương pháp: nêu vấn đề cần nghiên cứu, trực quan, thí nghiệm kiểm tra dự đoán, thí
nghiệm nghiên cứu, quan sát, thảo luận nhóm,…
Bước 1: Từ những mẫu vật chứa chất béo, yêu cầu HS nêu trạng thái của chất béo?
Bước 2: Học sinh khác nhận xét và rút ra kết luận.
Bước 3: Ngoài tính chất vật lí trên, hãy dự đoán 1 số tính chất vật lí khác của chất
béo mà các em đã biết?(HS: nhẹ hơn nước, không tan trong nước)
Bước 4 (GV nêu vấn đề): Để chứng minh những điều trên các em hãy thực hiện thí
nghiệm sau đây, đồng thời giáo viên phát phiếu học tập cho các nhóm (4 nhóm). Yêu cầu
HS đọc nội dung thí nghiệm. Sau đó, GV lưu ý HS: Để thí nghiệm thành công, dễ quan

15


sát chỉ được nhỏ 2-3 giọt dầu ăn, không được nhỏ quá nhiều, khi nhỏ phải nhỏ men theo
thành ống nghiệm và lắc nhẹ.
Bước 5: Các nhóm thực hiện thí nghiệm và ghi kết quả hiện tượng quan sát được
theo yêu cầu vào phiếu học tập.
Bước 6: Các nhóm báo cáo kết quả thí nghiệm.
Qua quan sát thí nghiệm HS tự rút ra kết luận về tính chất vật lí quan trọng của chất
béo: nhẹ hơn nước, không tan trong nước nhưng tan được trong benzen, xăng, dầu hỏa...
● Rõ ràng GV sử dụng phương pháp trên kết hợp với phương tiện dạy học chu đáo,
nhấn mạnh thao tác thí nghiệm một cách tỉ mỉ đã giúp GV tiết kiệm được thời gian cho
tiết học và 100% các nhóm đều có kết quả thí nghiệm chính xác.Chính vì thế, mà GV đã
tạo cho các em niềm tin trong học tập, bởi thông qua thí nghiệm các em tự tìm ra kiến
thức bài học, từ đó giúp HS yêu thích bộ môn.
Hoạt động 3: III. Chất béo có thành phần và cấu tạo như thế nào? (13 phút)
Phương pháp: nêu vấn đề, so sánh, đàm thoại, tái hiện kiến thức cũ, thông báo.
Do chất béo có cấu tạo và thành phần phân tử khác nhiều so với các hidrocacbon đã
học, nếu GV chỉ thông báo đơn thuần công thức của glixerol, các axit béo, chất béo như
sách giáo khoa thì HS sẽ học thuộc lòng, nhớ một cách máy móc, dễ nhầm và tiếp nhận
những tri thức trên một cách thụ động. Do đó để các em khắc sâu kiến thức hơn, tôi xây
dựng hệ thống câu hỏi tạo tình huống có vấn đề, gợi mở nhằm giúp HS tự khám phá và
giải quyết vấn đề trên cơ sở dựa vào các kiến thức cũ đã học như công thức cấu tạo của
rượu etylic, axitaxetic, phản ứng este hoá. Ví dụ như khi dạy:
* Công thức cấu tạo của glixerol

16


Bước 1: GV thông báo glixerol có công thức cấu tạo thu gọn là: C3H5(OH)3 (kiến
thức này HS không thể tìm tòi được).
Bước 2: GV tái hiện kiến thức cũ ở HS đồng thời nêu nhiệm vụ cần giải quyết:
+ Công thức C3H5(OH)3 giống với công thức hóa học của chất nào đã học? (HS:
Công thức C3H5(OH)3 giống với công thức cấu tạo thu gọn của rượu etylic: C2H5OH)
+ Yêu cầu HS so sánh với công thức cấu tạo của rượu etylic: C2H5OH
( Dựa vào kết quả kiểm tra bài cũ đã lưu ở trên bảng HS so sánh:
Giống nhau: đều có nhóm –OH
Khác nhau: glixerol: có 3 nhóm -OH
Còn rượu etylic: có 1 nhóm –OH).
Từ đó GV mở rộng thêm cho HS:
+ Rượu etylic thuộc nhóm rượu đơn chức (do có 1 nhóm –OH)
+ Glixerol cũng là rượu nhưng thuộc nhóm rượu đa chức (do có 3 nhóm –OH)
Đồng thời giúp HS xác định gốc hidrocacbon C3H5 - có hóa trị (III) (vì liên kết với 3
nhóm –OH)
Bước 3: Sau đó tôi yêu cầu HS viết công thức cấu tạo của glixerol dưới dạng triển
khai dựa trên kiến thức cũ đã học (nguyên tắc viết công thức cấu tạo phân tử hợp chất
hữu cơ và công thức cấu tạo dạng triển khai của rượu etylic).
HS sẽ viết được công thức cấu tạo của glixerol dưới dạng triển khai (lưu ý HS khi ghi
công thức cấu tạo nên ghi mạch C trước) là:

17


CH2 - CH - CH2

OH - OH - OH
* Công thức chung của các axit béo
Bước 1: GV thông báo công thức của 1 số axit hữu cơ (axit béo) như:
Axit stearic: C17H35-COOH
Axit oleic: C17H33-COOH

(có trong ca cao, mỡ động vật…)
(có trong dầu oliu, …)

Axit panmitic: C15H31-COOH (có trong mỡ động vật, dầu cọ…)
Bước 2: Yêu cầu HS so sánh đặc điểm cấu tạo của các axit này với axitaxetic (CH 3COOH) đã học?
(Dựa trên kiến thức kiểm tra bài cũ HS so sánh:
+ Giống nhau: đều có nhóm –COOH
+ Khác nhau: axit axetic có nhóm –COOH gắn với gốc hidrocacbon CH3Còn các axit béo: có nhóm –COOH gắn với gốc hidrocacbon C17H35-,
C17H33-, C15H31-,…)
Bước 3: GV nêu vấn đề đồng thời HS giải quyết vấn đề dựa trên kết quả so sánh
được:
+ Nếu kí hiệu các gốc hidrocacbon C17H35-, C17H33-, C15H31-… là R- thì công thức
chung của các axit béo như thế nào? (HS: R-COOH)

18


+ Yêu cầu HS phát biểu gốc axit RCOO- có hóa trị mấy? (HS: Hóa trị I, vì liên kết
với 1 nguyên tử H)
* Công thức chung của chất béo
Bước 1: Dựa trên phương trình phản ứng este hóa:
H2SO4 đ, to

CH3-COOH + C2H5OH

CH3COOC2H5 + H2O

GV đặt vấn đề: Nếu thay CH3-COOH bằng 1 axit béo khác như C17H35-COOH và thay
C2H5OH bằng 1 glixerol C3H5(OH)3 thì phản ứng trên có xảy ra không?
Bước 2: Yêu cầu HS lên bảng hoàn thành phương trình phản ứng. HS sẽ dựa trên
kiến thức kiểm tra bài cũ và hóa trị của gốc axit, gốc hidrocacbon C 3H5- để hoàn thành
công thức của sản phẩm:
Axit, to

3 C17H35COOH + C3H5(OH)3

(C17H35COO)3C3H5 + 3H2O

Từ phương trình trên yêu cầu HS ghi dưới dạng phương trình tổng quát:
Axit, to

3 R-COOH + C3H5(OH)3

(R-COO)3C3H5 + 3H2O

(GV cần lưu ý HS: Khi lập phương trình nên cân bằng số gốc axit, gốc hidrocacbon
trước, rồi mới đến H và O).
Bước 3: Dựa trên công thức (R-COO)3C3H5, GV hướng dẫn HS hình thành định
nghĩa chất béo, công thức chung của chất béo. GV nên nhấn mạnh: Chất béo không phải
là hợp chất mà là hỗn hợp nhiều este, các este này do glixerol và các axit béo tạo nên.
● Với phương pháp như trên tôi khảo sát trắc nghiệm ngẫu nhiên 5 HS/ lớp, kết quả
100% các em nêu đúng các công thức: glixerol, các axit béo, chất béo. So với phương
pháp trước đây, phương pháp này đã giúp cho HS không những hiểu được kiến thức mới

19


(công thức glixerol, chất béo) mà còn khắc sâu kiến thức cũ (công thức rượu etylic,
axitaxetic, este), điều đó giúp HS phát huy được tính tự học, tự nhận thức, tự tìm ra tri
thức của bài học một cách chủ động, tích cực dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của GV.
Hoạt động 4: IV. Chất béo có những tính chất hóa học quan trọng nào? (10 phút)
Phương pháp: nêu vấn đề, đàm thoại gợi mở, thông báo, tái hiện kiến thức cũ, so sánh.
Vì các thí nghiệm thủy phân chất béo trong môi trường kiềm hoặc axit xảy ra rất
chậm, không có hiện tượng rõ ràng và khó nhận biết nên không tiến hành các thí nghiệm
này trên lớp được.
Khi dạy phần: Phản ứng thủy phân chất béo trong axit GV tiến hành:
Bước 1: GV nêu vấn đề: Cơ thể chúng ta hấp thụ chất béo như thế nào?

(Điều

này đã được học trong môn sinh học)
Bước 2: GV cho HS đọc thông tin SGK để tìm hiểu phản ứng thủy phân chất béo
trong môi trường axit, đồng thời hướng dẫn HS ghi phương trình chữ của phản ứng:
Chất béo+ nước

→ glixerol + các axit béo.

Bước 3: Từ sơ đồ trên, yêu cầu HS lên bảng hoàn thành phương trình phản ứng bằng
công thức của các chất vừa học:

Axit, to

(R-COO)3C3H5 + 3H2O

C3H5(OH)3 +

3 R-COOH

GV hướng dẫn HS thấy được phản ứng trên làm cho este bị phân tích bởi nước nên có
tên là phản ứng thủy phân.
Cho HS so sánh phản ứng thủy phân với phản ứng este hoá?
(HS: Phản ứng giữa este với nước taọ ra axit và rượu (glixerol là rượu đa chức) là
phản ứng thủy phân, nó ngược với phản ứng este hóa).

20


Khi dạy: Phản ứng thủy phân chất béo trong môi trường kiềm ta tiến hành:
Bước 1: GV thông báo: Phản ứng thủy phân chất béo còn xảy ra khi đun nóng với
dung dịch kiềm:
Chất béo + dung dịch kiềm



glixerol + muối của các axit béo

Bước 2: Tương tự HS cũng dựa vào công thức của các chất, hóa trị của các gốc axit
đã học mà hoàn thành phương trình hóa học:
to

(R-COO)3C3H5 + 3NaOH

C3H5(OH)3 +

3 R-COONa

GV thông báo hỗn hợp muối natri của các axit béo là thành phần chính của xà phòng
(xà phòng bánh),vì vậy phản ứng thủy phân chất béo trong môi trường kiềm còn gọi là
phản ứng xà phòng hóa.(Cần nhấn mạnh phản ứng xà phòng hóa cũng là phản ứng thủy
phân).
GV nên dự kiến tình huống HS thắc mắc: Tại sao nhìn trên phương trình hóa học ta
chỉ thấy có một muối (hoặc một axit) nhưng thực tế đó là một hỗn hợp muối (hoặc một
hỗn hợp axit)?
GV chỉ cần giải thích dưới dạng đơn giản nhất để HS dễ hiểu: “Vì chất béo là một
hỗn hợp nhiều este và ngay cả trong một phân tử este cũng có nhiều gốc axit khác nhau
nên khi thủy phân sẽ tạo ra một hỗn hợp muối (hoặc một hỗn hợp axit)”.
GV liên hệ thực tế: Hiện nay bên cạnh xà phòng sản xuất từ chất béo người ta còn
sản xuất các chất giặt rửa tổng hợp dạng bột gọi là “bột giặt” hay xà
phòng bột, xà phòng kem, …chúng xuất phát từ dầu mỏ và một số nguyên liệu khác.
Để củng cố phần này GV cho HS hoạt động nhóm (1’).
Bài tập: Hoàn thành các phương trình sau:

21


(C17H35COO)3C3H5 + H2O

axit ,t

 ....?.....

(C17H33COO)3C3H5 + NaOH

o

t

 .....?.....
o

+ ....?....
+ ....?....

Hoạt động 5: V. Chất béo có những ứng dụng gì? (4 phút)
Phương pháp: nêu vấn đề, trực quan, quan sát, so sánh, đàm thoại.
GV nêu vấn đề: Chất béo có vai trò như thế nào đối với cơ thể người và động vật?
Bước 1: GV treo tranh vẽ biểu đồ so sánh năng lượng tỏa ra khi oxi hóa chất đạm,
chất béo, chất bột.
Bước 2: HS quan sát tranh và phát biểu.
Bước 3: HS rút ra kết luận: Chất béo là thành phần cơ bản trong thức ăn của người
và động vật.
Bước 4: GV chốt lại kiến thức, kết hợp giáo dục HS biết cách bảo vệ sức khỏe.
Ngoài những ứng dụng trên, GV yêu cầu HS: Dựa vào những tính chất hóa học của chất
béo nêu ứng dụng của chất béo trong công nghiệp (HS: điều chế glixerol và xà phòng) và
cho biết cách bảo quản chất béo.
Thứ năm: GV ra bài tập để HS tự đánh giá và vận dụng tri thức.
Sau khi dạy xong kiến thức của bài, tôi tổ chức cho HS tham gia trò chơi: “Đi tìm
chìa khóa vàng” bằng cách chia lớp thành 2 đội: A và B (GV phổ biến luật chơi).
GV treo bảng phụ:

22


“ ĐI TÌM CHÌA KHÓA VÀNG”

1
2
3
4
5
6
Hàng

dọc

của từ: “Chìa

khóa vàng”

* Nội dung gợi ý từ hàng ngang:
1/ Hạt lạc còn có tên gọi là hạt gì?
2/ Một trong các dung môi dễ tìm hòa tan được chất béo (sản phẩm của dầu mỏ).
3/ Đây là tên của phản ứng dùng để sản xuất xà phòng.
4/ Thịt, cá, trứng, sữa, đậu que gọi chung là gì?
5/ Đây là từ chỉ một trong các biện pháp để bảo quản thực phẩm.
6/ Tên gọi của một loại este được tạo ra từ axit axetic và rượu etylic.
ĐÁP ÁN

23


Đ

1
2
3

X

A

U

P

H

X

A

N

G

A

P

H

T

4
5

O

N

G

O

N

G

H

O

A

H

U

C

P

H

A

M
P

N

H

I

Ê

T

Đ

O

T

H

A

E

T

Y

L

A

X

E

T

A

T

T H

U

Y

P

H

A

N

6
Hàng dọc: Từ

“Chìa

khóa

vàng”

● Thông qua trò chơi “Đi tìm chìa khóa vàng”, tôi thấy các em rất hào hứng, sôi
nổi, tham gia rất nhiệt tình, hăng hái và đa số các em hiểu bài, tiếp thu bài nhanh, trả lời
rất chính xác các kết quả trò chơi.
● Với phương pháp giảng dạy trên, tôi đã khảo sát thực tế ngẫu nhiên của 2 lớp (91,
92) bằng cách kiểm tra 15 phút vào đầu giờ học của tiết sau cũng với nội dung như năm
học 2010 -2011: Hãy trình bày tính chất hóa học của chất béo, viết phương trình hóa
học minh họa?
Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ điểm kiểm tra 15 phút của HS 9 1,92(năm học 2011 2012) như sau:
Năm học

Lớp

TS ĐIỂM KIỂM TRA 15 PHÚT

24


HS Giỏi
T
S

2010-2011

2011
2012

-

91,
9

2

70

91,92 84

7

14

%

10

16,
7

Khá
T
S

Yếu

TB

%

T
S

10 14,3 27

%

38,
6

19 22,6 42 50

T
S

20

9

Kém

%

28,
6
10,
7

T
S

%

6

8,5

0

0

So với kết quả năm trước, kết quả kiểm tra 15 phút năm nay đạt tỉ tệ HS giỏi là tăng
7 (6,7%), HS khá là tăng 9(8,3%), HS yếu là giảm 11(giảm 17,9%), không có HS bị điểm
kém.
2. Kết quả thực hiện.
Trong từng tiết dạy, tôi thấy với phương pháp dạy học theo hướng giáo viên tổ chức
để HS tích cực,chủ động tìm tòi, phát hiện xây dựng kiến thức mới, như :Nêu và giải
quyết vấn đề,sử dụng phương tiện dạy học Hóa học, sử dụng thí nghiệm hóa học,sử dụng
bài tập Hóa học… đã giúp các em nắm vững nội dung kiến thức lý thuyết, kĩ năng hoá
học, giải quyết được bài tập Hóa học. Điều đó đã tạo cho HS yêu thích bộ môn qua từng
tiết học dẫn đến chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, với kết quả bài kiểm tra 1
tiết (tiết PPCT: 59) của HS khối 9 như sau:

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×