Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN môn ngữ văn THP ra đề bài văn nghị luận và gợi ý đáp án theo hướng mở

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"RA ĐỀ BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VÀ GỢI Ý ĐÁP ÁN THEO
HƢỚNG MỞ"
1


2


A. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ra đề bài và làm bài là một trong những khâu quan trọng của nhà trường phổ thông. Ra
đề bài làm văn thế nào cho hay, là cả một sự trăn trở của những nhà giáo tâm huyết với
nghề dạy học. Thời gian qua, những đề văn quen thuộc đã trở nên nhàm chán đơn điệu
với các em học sinh. Dù xoay xở thế nào thì cũng chỉ quẩn quanh những đề văn về tìm
hiểu các tác phẩm văn chương, mở rộng ra một chút là các đề bài về nghị luận xã hội. Sự
thiếu đổi thay và có phần máy móc này đã làm cho những đề bài làm văn trở nên xơ cứng
mang tính chất công vụ, thầy và trò rất lúng túng trong việc ra đề bài và làm bài. Ba năm
nay, từ năm học 2010 – 2011, Bộ giáo dục và Đào tạo khởi xướng phong trào ra đề bài

văn và làm bài dạng mở nhằm khuyến khích các thầy cô giáo và các em học sinh bậc học
THPT và THCS đổi mới trong việc dạy và học. Đây là một chủ trương đúng đắn kịp thời
và chiến lược giúp cho thầy cô giáo đổi mới phương pháp dạy học từ khâu ra đề. Đề bài
văn mở rất mới mang tính sáng tạo và tạo nhiều hứng thú cho thầy và trò trong học tập
3


môn ngữ văn. Khi ra đề bài này giáo viên phải tư duy chiều sâu giàu liên tưởng tưởng
tượng để có một sản phẩm hay tạo kích thích cho học sinh làm bài. Bằng sự đầu tư có
hiệu quả của giáo viên, đề bài văn mở rất đa dạng phong phú xoay quanh hai lĩnh vực: đề
bài nghị luận tác phẩm văn chương, đề bài về nghị luận xã hội. Nội dung như vậy nhưng
cách thức ra đề thì rất đa dạng theo hướng mở. Ví dụ: một đề mở về nghị luận xã hội: “
Một ngày đáng nhớ của bạn”; một đề nghị luận văn chương: “Nghệ thuật miêu tả
tương phản trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ”.
Ở kiểu đề bài văn mở, học sinh qua những trải nghiệm của chính bản thân về tri thức văn
chương và tri thức xã hội trình bày những hiểu biết , ý kiến, quan niệm, cách đánh giá,
thái độ của mình về các vấn đề xã hội và văn chương từ đó rút ra các
bài học nhận thức và hành động cho bản thân. Để làm tốt kiểu đề bài này, học sinh không
chỉ vận dụng tốt những thao tác cơ bản của bài văn nghị luận như giải thích, chứng minh,
phân tích bình luận, so sánh, bác bỏ… mà còn phải trang bị cho mình kiến thức về đời
sống xã hội. Làm bài văn đề mở, vừa giàu lí lẽ vừa nắm vững kiến thức thực tế. Cần tránh

4


tình trạng hoặc không có dẫn chứng hoặc lạm dụng dẫn chứng bỏ qua cá bước đi khác
của quá trình lập luận.
Cái khó của dạng đề mở là không có định hướng cụ thể mà học sinh phải suy luận ra lời
giải để nghị luận cho đúng hướng. Nắm vững kiến thức, cần phải ngẫm nghĩ cẩn trọng
định hướng đúng để viết bài theo quỹ đạo. Là bài viết sáng tạo bay bổng nhưng quá trình
nghị luận học sinh không được đi quá xa hoặc thoát ly định hướng.
Giáo viên và học sinh cần làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó mới đi vào đánh giá, bàn luận
rút ra bài học cho bản thân. Thực tế cho thấy, một số học sinh chỉ dừng lại ở việc làm rõ
vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu thứ hai vốn được coi là phần quan trọng của bài văn
nghị luận.
Các kỳ thi tốt nghiệp THPT và các kỳ thi tuyển đại học, cao đẳng những năm gần đây,
giáo viên và học sinh cần chú ý cách làm bài đối với dạng đề tổng hợp về các giá trị văn
chương, về tư tưởng đạo lý có tính chất mở thường trái ngược nhau, chẳng hạn: nghệ
thuật đối lập tương phản trong một tác phẩm văn chương, hoặc quyền lợi và nghĩa vụ,


5


danh và thực, cho và nhận, trung thực và giả dối…Với dạng đề này, giáo viên cần rèn
luyện kỹ năng tổng hợp, xâu chuỗi đánh giá vấn đề.
Một vấn đề nữa cần thấy rằng: trình độ về tri thức của học sinh ngày càng nâng cao nhất
là tri thức xã hội qua đài ,báo, mạng và các nguồn thông tin khác, các em nắm bắt các vấn
đề xã hội nhạy bén hơn. Tuy nhiên, các vấn đề về xã hội nhân văn cũng rất phức tạp nên
giáo viên trong quá trình dạy, ra đề và trả bài kiểm tra cần định hướng thanh lọc những
kiến thức có ý nghĩa tích cực đối với xã hội còn những vấn đề tiêu cực phản nhân văn cần
loại trừ.
Việc ra đề bài văn mở, giáo viên cần chú ý những điểm “nóng”, những thông tin thời sự
xã hội cập nhật mà mọi người đang quan tâm, những tình huống có vấn đề trong tác
phẩm. Khi tham gia làm những đề bài này tạo hứng thú cho học sinh. học sinh sẽ tập
trung tư duy, bày tỏ chia sẻ và bàn luận một cách sôi nổi dân chủ. Làm đề văn mở có tác
dụng thực sự giúp các em có bản lĩnh tự tin hơn trong cuộc sống. Có khả năng sáng tạo
bày tỏ những chứng kiến của mình, những vấn đề mà mình hằng quan tâm. Điều quan

6


trọng là quá trình làm bài sẽ bồi dưỡng được kỹ năng sống và rèn luyện phẩm chất đạo
đức cho học sinh.
Đứng trước những tầng kiến thức rộng lớn về xã hội và văn chương, bởi vậy, yêu cầu học
sinh phải luôn nỗ lực học tập, nắm bắt cuộc sống thì mới giải quyết được các vấn đề một
cách thấu đáo và thuyết phục.
Trong bài làm, học sinh phải biết trình bày vốn hiểu biết đó một cách khoa học, lập luận
chặt chẽ đúng đắn, lý lẽ sắc sảo hợp tình hợp lý, lời văn trau chuốt co dãn hài hoà, dẫn
chứng đưa ra vừa tiêu biểu vừa thuyết phục cao.
Xuất phát từ những mục đích trên, là một giáo viên đứng lớp thời gian đã trên 20 năm,
qua những kinh nghiệm đúc rút từ thực tế giảng dạy, những trải nghiệm từ cuộc sống, qua
quá trình nỗ lực tự học tự nghiên cứu của bản thân, sự học tập từ đồng nghiệp, tôi mạnh
dạn viết về đề tài: “ Ra đề, xây dựng đáp án và viết văn theo hướng mở” cho học sinh bậc
học THPT.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

7


I. Cơ sở lý luận của đề tài:
- Theo Tiến sĩ Chu Văn Sơn ( Bộ giáo dục và đào tạo): “Mối quan hệ giữa thầy và trò là
mối quan hệ khép kín giữa người phát tín hiệu và người nhận tín hiệu, hay ta còn gọi giữa
cho và nhận. Đối tượng học sinh tiếp nhận vấn đề theo hướng tích cực thì sẽ khơi gợi
được hứng thú sáng tạo, ngược lại theo thướng tiêu cực thì sẽ làm thui chột mọi mầm
mống sáng tạo linh hoạt. Người truyền đạt và định hướng kiến thức, tức là người thầy
luôn ý thức cụ thể và chính xác vấn đề mà bản thân mình cung cấp cho người tiếp nhận,
tức là học sinh. Đồng thời, người tiếp nhận phải luôn phát huy tính năng động sáng tạo
của bản thân mình để lĩnh hội tri thức”.
- Ra đề bài theo hướng mở tạo tiền đề cho một hệ thống tư duy, suy luận trên cơ sở tính
năng đồng sáng tạo của thầy và trò. Bám vững chắc vào văn bản văn chương và các vấn
đề về xã hội để tạo ra các tiền đề tri thức cho bản thân. Nắm vững kỹ năng làm bài, huy
động hợp lý kiến thức, bài viết hấp dẫn lôi cuốn, đồng thời phải tự giới hạn được vùng
kiến thức, xác định được luận điểm, luận cứ của vấn đề nghị luận. Đề bài không gợi ý
hoặc cho sẵn luận điểm, luận cứ nên xác định được luận điểm, luận cứ là thành công

8


bước đầu cho việc lập luận. Sau đó, tập trung xây dựng luận điểm, luận cứ khoa học và
diễn đạt tốt, chắc chắn bài nghị luận sẽ đạt kết quả cao.
II.Thực trạng của vấn đề:
Qua thực tế giảng dạy hai lớp 11C1 và 12B2 và trao đổi chuyên môn, dự giờ trong tổ về
việc ra đề, xây dựng đáp án và làm bài văn của học sinh, tôi rút ra được những vấn đề
sau:
- Tôi tham gia dự giờ hai giáo viên đều đạt chuẩn trở lên (một thạc sĩ và một cử nhân).
Giáo án của giáo viên soạn chi tiết, khoa học có tiếp cận sự đổi mới. Học sinh nhìn chung
chăm ngoan, ý thức học tập tốt.
- Nhìn chung, các vấn đề về xã hội và văn chương rất phong phú nhưng để có những
dạng đề hay khơi gợi sự hứng thú cho học sinh thì còn nhiều hạn chế. Điều dể nhìn thấy
nhất là đề bài và đáp án còn chung chung, đơn điệu, mang tính công vụ hình thức, đầu tư
chưa cao. Từ đó dẫn đến thực trạng là việc cho điểm còn rộng dể dãi, điểm trung bình
chiếm trên 90%, điểm khá giỏi ít và điểm yếu kém lại càng hạn chế hơn, chưa đánh giá
chính xác phân loại được học sinh. Bài viết của học sinh thường rơi vào tình trạng khô
9


khan, viết các ý chung chung, diễn đạt rời rạc, lủng củng, lộn xộn. Người chấm thường
gặp các bài na ná như nhau, nhàm chán thiếu sáng tạo. một phần nữa là do vốn kiến thức
của một bộ phận học sinh còn nghèo nàn nên trình bày cách hiểu sáo mòn công thức thậm
chí là sai lệch một cách tai hại. Số học sinh này kỹ năng diễn đạt yếu nên bài văn hệ
thống lộn xộn, bố cục không rõ ràng. Giáo viên còn lúng túng trong việc ra đề vì thiếu
một “cơ chế mở” trong khi yêu cầu của ngành học và người học ngày càng cao và yêu
cầu đổi mới. Điều đó lý giải vì sao mà học sinh nhiều em không thích học môn văn học.
Đây là kết quả theo dõi học tập của học sinh hai lớp 11C1 và 12B2 trường THPT Hoằng
Hoá 4 năm học 2012 – 2013:
- Mức độ hứng thú làm bài: + 20hs/100hs = 20% hứng thú làm bài.
+ 40hs/100hs = 40& làm bài ở mức độ trung bình.
+ 20hs/100hs = 20% làm bài ở mức độ cầm chừng.
+ 20hs/100hs = 20% không biết cách làm bài chán nản.
- Mức độ kiến thức: + 15hs/100 hs hiểu biết cao.

10


+ 40hs/100hs = 40% hs hiểu biết ở mức độ trung bình.
+ 45hs/100hs = 45% hs hiểu biết ở mức yếu.
- Mức độ diễn đạt: + 20hs/100 = 20% hs khá giỏi.
+ 50hs/100hs = 50% hs đạt trung bình. + 30hs/100hs = 30% hs yếu kém.
Kết quả còn hạn chế trên là do giáo viên chưa quyết liệt trong việc phát huy tính tích cực
chủ động trong học sinh, yêu cầu các em tự giác học tập nắm vững kiến thức và kỹ năng
làm bài. Mặt khác, do chưa tập trung tư duy để có những đề, xây dựng đáp án và viết văn
theo hướng
III. Các biện pháp tổ chức thực hiện:
Ra đề, xây dựng đáp án và viết văn theo hướng mở đòi hỏi giáo viên vừa có kiến thức sâu
rộng vừa có kinh nghiệm ra đề hay có ý nghĩa xã hội và nhân văn, khơi gợi sự hứng thú
cho học sinh, tránh khô cứng giáo điều. Xây dựng đáp án chi thiết, khoa học có hướng
mở để phát huy tính tích cực và sáng tạo cho học sinh và còn để phân loại học sinh. Làm

11


được điều này rất cần sự tâm huyết yêu nghề của giáo viên, luôn đào sâu nguồn tri thức
để có những đề hay cho học sinh.
Sau đây là một số đề bài, đáp án theo hướng mở.
1. Đề bài số một: Nghệ thuật miêu tả tương phản của Nguyễn tuân và Thạch Lam
trong “ Chữ người tử tù” và “Hai đứa trẻ”.
- Gợi ý đáp án làm bài: 1. Đặc điểm của sáng tác lãng mạn và yêu cầu sử dụng nghệ thuật
miêu tả tương phản.
a. Đặc điểm của sáng tác lãng mạn: - Biểu hiện cái nhìn chủ quan của nhà văn trước cuộc
đời, hình tượng nhân vật ít nhiều mang phảng phất bóng dáng cái tôi của tác giả. hướng
tới khám phá và thể hiện những gì độc đáo khác thường kỳ lạ.
b. Yêu cầu sử dụng nghệ thuật miêu tả tương phản: - Hiệu quả của miêu tả tương phản:
làm nổi bật đặc điểm của từng đối tượng, gây ấn tượng mạnh mẽ, phù hợp với yêu cầu
của sáng tác lãng mạn.
2. Phân tích nghệ thuật miêu tả tương phản trong hai tác phẩm:

12


Điểm chung: a. Đều phát hiện sự đối lập giữa tính cách và hoàn cảnh:
- “Chữ người tử tù”: + Hoàn cảnh: Môi trường tù ngục đen tối xấu xa, cảnh ngộ éo le
với những áp lực nặng nề phải đối mặt dể khiến con người tha hoá.
+ Tính cách: có nhân cách, thiên lương trong sạch, khác biệt với thế giới đen tối, tội lỗi.
Có dũng khí: ở huấn Cáo là dũng khí của bậc anh hùng, ở quản Ngục là dũng khí của bậc
hiền nhân. Chính nhân cách lương tâm và dũng khí giúp họ chiến thắng hoàn cảnh.
Từ cách miêu tả có thể thấy Nguyễn Tuân luôn nhìn con người ở phương diện tài hoa,
nghệ sĩ (phong cách).
- “Hai đứa trẻ”: + Hoàn cảnh: nghèo khó, tù túng, đơn điệu, buồn tẻ - một kiểu hoàn
cảnh có thể tạo ra sự chết mòn về tinh thần.
+ Tính cách: sự hồn nhiên ngây thơ trong cách nhìn và rung động; sống với một tấm lòng
nhân hậu và thế giới tâm hồn trong sáng, phong phú.
Từ cách miêu tả, có thể thấy tấm lòng yêu thương, cái nhìn trìu mến mà nhà văn đàn cho
những tâm hồn thơ trẻ.

13


b. Đều miêu tả sự đối lập, tương phản giữa ánh sáng và bóng tối mà cả ánh sáng và bóng
tối đều hiện diện với nghĩa thực và nghĩa tinh thần:
- “Chữ người tử tù”: + Bóng tối: theo nghĩa thực là của đêm khuya, của buồng giam tử
tù- nơi ánh sáng không thể lọt qua được; theo nghĩa tinh thần lại chính là cảnh ngộ éo le
mà con người phải đối mặt ( Huấn Cao - án tử tù, quản ngục – môi trường sống không
phù hợp với tính cách con người ông). Là biểu tượng cho cái xấu xa.
+ Ánh sáng: theo nghĩa thực là bó đuốc tẩm dầu khói toả như đám cháy nhà - thứ ánh
sáng khá mờ nhạt; theo nghĩa tinh thần là ánh sáng toả ra từ cái đẹp của nghệ thuật ( chữ
Huấn Cao) và tư thế tâm hồn con người. Chính thứ ánh sáng này soi sáng con đườngđể
những kẻ tri âm đến với nhau. Đó là sự đối lập giữa cái đẹp và cái xấu xa.
- “Hai đứa trẻ”: + Bóng tối: theo nghĩa thực là của phố huyện trong thời khắc chiều
muộn và đêm khuya; theo nghĩa tinh thần là nỗi buồn đang lan toả, thấm thía và trĩu nặng
dần trong tâm hồn nhân vật.
+ Ánh sáng: theo nghĩa thực là của thiên nhiên ( ráng chiều, vì sao, đom đóm) và cuộc
sống con người ( các loại đèn, bếp lửa); theo nghĩa tinh thần là hồi quang ký ứcvề một
14


thiên đường đã mất và nìêm hy vọng dù le lói, mong manh. Đó là sự đối lập tương phản
giữa cuộc đời thường nhật và khát vọng trong tâm hồn con người.
Điểm riêng: cách xử lý mối quan hệ cụ thể của tương quan ánh sáng- bóng tối, tính cáchhoàn cảnh.
1. Ánh sáng và bóng tối: - “Chữ người tử tù”: sự chiến thắng tuyệt đối của ánh sáng và
bóng tối, của cái đẹp và cái xấu xa.
- “Hai đứa trẻ”: ở cảnh thực ánh sáng có nguy cơ bị bóng tối nuốt chửng, đè bẹp để rồi
thay thế hoàn toàn. Ở đời sống tinh thần, ánh hồi quang ký ức có rực rỡ nhưng cũng
nhanh chóng vụt tắt, hy vọng có tồn tại song rất mong manh.
2. Tính cách và hoàn cảnh: - “Chữ người tử tù”: sự chiến thắng tuyệt đối của tính cách
với hoàn cảnh.
+ Quản ngục dù sống trong hoàn cảnh đen tối vẫn giữ niềm đam mê cái đẹp và một thiên
lương trong sáng. + Huấn Cao dù phải đối diện với án tử hình, với cả một hệ thống những

15


hiện thân của thế lực đen tối vẫn hiên ngang bất khuất, vẫn bộc lộ tài năng và tấm lòng
đáng quý.
- “Hai đứa trẻ: hoàn cảnh có sự tác động ở mức độ nhất định.
+ Cuộc sống nghèo khó, buồn tẻ và không khí buồn lặng của cảnh ngày tàn, chợ tàn thấm
vào tâm hồn Liên nỗi buồn man mác.
+ Những khó khăn cuộc sống khiến Liên “già trước tuổi”- đảm đang tần tảo khi vẫn còn
ở tuổi trẻ con.
3. Kết luận: - Cả hai tác phẩm đều mang màu sắc lãng mạn, thể hiện cái nhìn và những ấn
tượng riêng - chủ quan của nhà văn về cuộc sống và con người.
- Xét về mức độ và những biểu hiện cụ thể, có thể thấy, Chữ người tử tù là mẫu mực của
kiểu sáng tác lãng mạn còn Hai đứa trẻ dường như đi chênh vênh trên ranh giới giữa hiện
thực và lãng mạn nên tuy có gieo vào lòng người đọc những cảm xúc bâng khuâng,
những tình cảm man mác và trí tưởng tượng bay bổng, song đồng thời nó cũng đem đến
những cảm nhận thấm thía về đời sống hiện thực của con người.

16


2. Đề bài số hai: “Nhà bác học qua sông”:
Một hôm, có một nhà bác học ngồi trên một con thuyềnqua sông. Ngồi không, cảm thấy
buồn chán, nhà bác học bèn nói chuyên với người chèo thuyền. Ônmg ta ngẩng cao đầu,
kiêu ngạo hỏi:
- Anh có nghiên cứu triết học không? Đó là thứ học vấn cần thiết nhất trên thế giới đấy!
Im lặng hồi lâu, người chèo thuyền trả lời một cách ngượng ngập: - Tôi suốt ngày chỉ biết
chèo thuyền, không có thời gian nghiên cứu triết học. – Như vậy là anh đã lãng phí mất
một nửa cuộc đời rồi- nhà bác học nói. Nói xong, ông ta quay mặt ra ngoài, ngắm nhìn
sông nước, không nói chuyện với người chèo thuyền nữa.
Nào ngờ, một lúc sau, trời nổi giông bão, con thuyền đã xa bờ, chao đảo trong sóng gió,
lúc nào cũng như sắp bị chìm.
Bỗng nhiên, một cơn gió lớn thổi đến, con thuyền nhỏ bị lật, cả nhà bác học và người
chèo thuyền đều bị rơi xuống nước.
-

Ông có biết bơi không? người chèo đò hét lớn, hỏi nhà bác học.

17


Lúc này, nhà bác học đã bị chìm đến tận cổ, lập cập trả lời:- Không biết!
Vậy thì, ông đã lãng phí cả cả cuộc đời mình rồi!- Người chèo thuyền nói.
(Trích 200 bài đạo lý, NXB Văn hoá- Thông tin, 2001).
Câu chuyên gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì?
- Gợi ý đáp án làm bài: Yêu cầu học sinh viết ra những suy nghĩ thông qua nội dung câu
chuyện trên. Muốn có cơ sở suy luận, cần thể hiện nội dung câu chuyện, không thoát ly
văn bản.
học sinh được chọn bất cứ cách viết nào, vận dụng nhuần nhuyển nhiều thao tác lập luận;
vận dụng các tài liệu sách vở, thực tế, trải nghiệm, chiêm nghiệm… để tạo nên cách viết
riêng, gây được ấn tượng sâu sắc cho người đọc.
Với đề bài này, cần hướng vào một số nội dung chính sau:
1. Mỗi người chúng ta đều có điểm mạnh của riêng mình, không nên lấy điểm mạnh của
mình để đo điểm yêú của người khác. Bởi vì, mỗi chúng ta đều có điểm yếu riêng, không

18


thể nào tất cả mọi mặt đều tốt hơn người khác. Chính vì vậy, mà chúng ta không nên cười
nhạo, coi thường những người xung quanh.
2. Biết cách nhận thấy và học theo cái mạnh của người khác để bổ sung cái yếu của mình
thì mới có thể tiến bộ. Nếu không, kết quả cuối cùng sẽ giống như nhà bác học trong câu
chuyện trên, bị chết chìm nơi đáy sông.
3. Bài học về tính khiêm tốn, luôn học hỏi những người xung quanh để bản thân mình
ngày càng hoàn thiện.
3. Đề bài số ba: “Một nhân vật văn học sống mãi trong em”.
- Gợi ý đáp án làm bài:
A. Về kỹ năng: - Người viết cần xác định được đây là dạng đề mở thuộc kiểu nghị luận
văn học. học sinh tự do chọn một nhân vật văn học có ấn tượng sâu sắc để thể hiện những
suy nghĩ cảm xúc của mình. - Bài viết cần xác định một nhân vật văn học cụ thể (nên ở
trong chương trình phổ thông). Vận dụng linh hoạt các thao tác nghị luận, các phương

19


thức biểu đạt để làm sáng tỏ vẻ đẹp của hình tượng văn học. Văn trong sáng, giàu hình
ảnh, cảm xúc chân thực.
B. Về kiến thức: Người viết có thể trình bày suy nghĩ, quan điểm về nhân vật song nên
chú ý các nội dung:
- Giới thiệu khái quát về nhân vật, xuất xứ nhân vật.
- Cần có những luận điểm cụ thể, rõ ràng thể hiện suy nghĩ, cảm nhận về nhân vật:
+ Vẻ đẹp của nhân vật ( về ngoại hình, đặc biệt là phẩm chất nhân cách của nhân vật) để
lại ấn tượng sâu sắc với mình. Lấy dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm.
+ Số phận, cảnh ngộ của nhân vật ( hạnh phúc, bất hạnh…) gây xúc động trong lòng em
với bao âm vang, dư vị.
+ Những lời nói, suy nghĩ, hành động, việc làm của nhân vật khiến em nhớ mãi
(dẫn chứng cụ thể).
+ Những ảnh hưởng, tác động tích cực, tốt đẹp từ nhân vật tới bản thân emvà người đọc.

20


+ Liên hệ bản thân để thấy được sự “lớn lên”về tâm hồn và nhận thức sau khi bắt gặp
nhân vật ấy.
+ Qua cảm nhận về nhân vật khẳng định vai trò, ý nghĩa to lớn của văn chương nói chung
đối với việc bồi đắp tâm hồn con người, cải tạo xã hội.
+ Đánh giá chung về nhân vật, tài năng xây dựng hình tượng văn học của tác giả, khẳng
định vai trò vị thế của nhân vật với bản thân.
4. Đề bài số bốn: “Nguồn mạch mới”mà nhà thơ Thanh Thảo đã khơi qua bài thơ:
“Đàn ghi ta của Lor Ca”.
Gợi ý đáp án làm bài.
A. Về kỹ năng: Bài viết là một văn bản nghị luận hoàn chỉnh, bố cục ba phần. trình bày
mạc lạc, trôi chảy, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.
B. Về kiến thức: 1. Hiểu đúng vấn đề đặt ra ở đề bài. “ Nguồn mạch mới”mà Thanh Thảo
đã “khơi”chính là nói về sự sáng tạo nghệ thuật của Thanh Thảo- một nhà thơ ham tìm
tòi, cách tân. Viết về đề tài người nghệ sĩ, Thanh Thảo đã có cách xử lý nghệ thuật rất

21


riêng, rất độc đáo tạo nên một thi phẩm có “ sự phát minh về hình thức, khám phá về nội
dung”.
2. Chỉ ra và phân tích, đánh giá được những sáng tạo của Thanh Thảo trong bài.
- Sử dụng thi liệu: + Thanh Thảo đã nhập cảm về thế giới nghệ thuật của Lor Ca rồi lựa
chọn những thi liệu đầy ám ảnh, gợi cảm từ thế giới nghệ thuật ấy đưa vào bài thơ của
mình. Đó là những thi liệu: đàn ghi ta, yên ngựa, vầng trăng, chàng kỵ sĩ, bước chân lang
thang, áo choàng đỏ, cô gái di gan, lá bùa hộ mệnh, hoa hương..
+ Thanh Thảo đã xử lý những thi liệu được lựa chọn một cách sáng tạo: những thi liệu
được lấy từ nhiều văn bản khác nhau của thơ Lor Ca, chúng vốn rời rạc nhưng khi đi vào
bài thơ của Thanh Thảo chúng được “làm mới”, trở nên hoà hợp, ăn ý. Tất cả cộng hưởng
ngữ nghĩa với nhau, cùng nhau làm sống dậy thế giới nghệ thuật đặc sắc của Lor Ca, tái
hiện số phận bi thảm của Lor Ca, gợi vẻ đẹp của người nghệ sĩ vĩ đại sống trong một thời
đại biến động và sức sống mạnh mẽ,bất diệtcủa nghệ thuật, của thơ ca. Thanh Thảo đẫtí
hiện và tái sinhthi liệu được sử dụng từ thế giới nghệ thuật của Lor Ca bằng tài năng và
tấm lòng đồng cảm, ngưỡng mộ .
22


- Sử dụng thể thơ tự do với lối diễn đạt câu thơ không viết hoa đầu dòng, nhịp điệu phóng
khoáng, liên tưởng bất ngờ. ngôn từ mới mẻ: cảm xúc thơ liền mạch, nối két được các
biểu tượng, hình ảnhvthơ trong một thế giới nghệ thuạt hài hoà, gợi mở.
- Xây dựng câú trúc bài thơ đâỳ ngâũ hứng: thơ- ca khúc ( thi phẩm - nhạc phẩm).
+ Nhập cấu trúc ca khúc vào bài thơ: mạch kể chuyện tự sự hiện ra qua cấu trúc của một
ca khúc. Thanh Thảo đã vận dụng phương thức của nhạc để làm thơ và cách thể hiện này
rất thành công.
+ Mô phỏng lối tiết tấu của nhạc, mô phỏng chuỗi âm thanh “li la li la li la”. Thanh Thảo
đã khảm tiếng nhạc vào ngôn từ, hình ảnh thơ để âm nhạc đến cùng với thi ảnh, với ngôn
từ và tạo nên sức gợi vô cùng lớn.
3. Kết luận: Sự sáng tạo ấy là kết quả mối đồng cảm sâu sắc của Thanh Thảo với Lor Ca.
Đây phải chăng là sự cộng hưởng của những khát vọng sáng tạo nghệ thuật. Thanh Thảo
đã bắc nhịp cầu tri âm đến Lor Ca và khẳng định được ý nghĩa đặc biệt của tiếng nói tri
âm trong văn chương. Và nhờ Thanh Thảo mà người đọc chúng ta hiểu hơn về Lor Ca.

23


Lưu ý: Trên đây là một số gợi ý làm bài. những bài làm có sự tìm tòi sáng tạo trong cảm
nhận, trong diễn đạt cần trân trọng và tuỳ mức độ để đánh giá.
5. Đề bài số năm: “Cổ tích giữa đời thường”.
Gợi ý đáp án bài làm:
- Xác định kiểu bài tự sự- kể chuyện đời thường thuộc nghị luận xã hội.
A. Về kỹ năng: Biết cách làm bìa nghị luận về tư tưởng đạo lý, xác định các luận điểm
đúng đắn, luận cứ ( lý lẽ, dẫn chứng) xác thực và biết lựa chọn các thao tác lập luận phù
hợp.
Bố cục bài văn hợp lý, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp, chữ
viết rõ ràng. Kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố: miêu tả, biểu cảm, nghị luận.
Có thể chọn ngôi kể thứ nhất hoặc ngôi kể thứ ba, có thể kết hợp cả hai ngôi kể một cách
linh hoạt.
Có thể kể theo trình tự thời gian, có thể đan xen hiện tại, quá khứ tuỳ theo dụng ý nghệ
thuật của người viết.

24


B. Kiến thức: - Người viết kể lại câu chuyện diễn ra trong cuộc sống hàng ngày: ở gia
đình, ở trường lớp, làng xóm, đường phố, bến tàu, bến xe, trong công viên, trong bệnh
viện…Những câu chuyện đẹp như trong cổ tích.
Đó có thể là những hành động, nghĩa cử cao đẹp, là lòng bao dung nhân ái, là nghị lực
vươn lên trong cuộc sống.
Đó có thể là những bất ngờ (may mắn) hoá giải được những uẩn khúc, những trăn trở
cuộc đời ( như: nỗi oan được giải, tìm được lối thoát bế tắc cho bản thân, tìm lại được lẽ
sống, niềm tin…). Đó có thể là những cuộc gặp gỡ, cuộc “tao ngộ” đầy ý nghĩa ( gặp
được thầy được thuốc chữa bệnh, gặp được “ thần tượng”, gặp lại đồng đội, gặp lại người
thân bị lưu lạc…). Đó có thể là những khát khao mơ ước được thấy hiện hữu ngay giữa
cuộc đời, lấp lánh giá trị nhân văn.
Đó có thể là những chuyện oái oăm, trớ trêu được giải quyết “có hậu”.
- Câu chuyện kể phải có ý nghĩa, gửi gắm một thông điệp nhất định, hướng người đọc tới
những giá trị chân -thiện- mĩ.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×