Tải bản đầy đủ

SKKN công tác quản lý ôn thi tốt nghiệp THPT ở TTGDTX số 1 TP lào cai

SỞ GD&ĐT LÀO CAI
TRUNG TÂM GDTX SỐ 1 TP LÀO CAI

Sáng kiến kinh nghiệm

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
ÔN THI TỐT NGHIỆP THPT
Ở TRUNG TÂM GDTX SỐ 1 TP LÀO CAI

Họ và tên: ĐÀM ĐÌNH HOA
Chức vụ: Phó Giám đốc
Đơn vị: Trung tâm GDTX số 1 TP Lào Cai

Lào Cai, tháng 6 năm 2014


A- PHẦN MỞ ĐẦU
Đảng ta trong thời kỳ đổi mới đã có nhận định: “Giáo dục phải đi trước một
bước, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành
công các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”. Từ thực tế đó đặt ra một
yêu cầu không thể thiếu về chất lượng nguồn lực, đặc biệt là con người. Mỗi


người trong xã hội đều cần cho sự phát triển của một cộng đồng, một cơ
quan, một tổ chức hay rộng hơn là cho sự phát triển của một đất nước. Để
đóng góp được nhiều cho xã hội đòi hỏi con người phải có tri thức, có kỹ
năng, có năng lực để đáp ứng yêu cầu của công việc cũng như các hoạt
động của cuộc sống.
Với học viên Giáo dục thường xuyên, điều kiện cũng như năng lực
học tập nhìn chung là kém so với học sinh phổ thông. Yêu cầu đối với kiến
thức mà học viên phải có được khẳng định khi vượt qua được kỳ thi tốt
nghiệp THPT.
Xuất phát từ nhu cầu học tập của học viên và cũng là một trong
những nội dung hoạt động chuyên môn cần thiết của một nhà trường, công
tác ôn thi tốt nghiệp là không thể thiếu. Với nền tảng không vững chắc do
học viên còn nhiều lỗ hổng kiến thức, xuất phát điểm ở mức thấp, hơn nữa
độ tuổi của học viên không đồng đều còn chênh lệch nhau khá nhiều có khi
tới vài chục tuổi. Do đó không thể áp dụng cách ôn tập như của các trường
THPT, để giải quyết vấn đề này Ban Giám đốc của trung tâm đã bàn bạc để
thay đổi, cải tiến, điều chỉnh nhiều biện pháp trong công tác quản lý trong
nhiều năm và đến nay đã có được biện pháp quản lý công tác ôn thi tốt
nghiệp khá hiệu quả. Là phó Giám đốc phụ trách chuyên môn, tôi xin trình
bày “Một số biện pháp quản lý ôn thi tốt nghiệp ở trung tâm GDTX số 1
thành phố Lào Cai”. Qua việc thực hiện các biện pháp này, kết quả thi tốt
nghiệp của học viên trung tâm đã được duy trì ổn định một cách vững chắc
và ngày càng cao hơn trong nhiều năm trở lại đây.
1


B- PHẦN NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Ngay sau năm 1945 khi đất nước được độc lập, Bác Hồ đã nói “Một dân
tộc dốt là một dân tộc yếu” và Bác đã kêu gọi “Toàn dân phải biết đọc, biết
viết”. Khi đó 95% dân số Việt Nam không biết chữ, chỉ sau hai năm đã có gần
12% dân số biết chữ (hơn 2,5 triệu/22 triệu). Cho đến ngày 28/12/2000 Việt
Nam đã tuyên bố với thế giới đã thực hiện xong việc xóa nạn mù chữ và phổ cập
giáo dục tiểu học.
Với yêu cầu ngày càng cao của việc nâng cao dân trí nhằm đáp ứng yêu
cầu của nhiệm vụ trong giai đoạn mới giai đoạn toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
ngày 24 tháng 12 năm 1996 về định hướng chiến lược phát triển khoa học và
công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm

2000 đã có sự thay đổi quan điểm đối với giáo dục: “Cùng với khoa học công
nghệ, giáo dục đào tạo phải được coi là quốc sách hàng đầu”. Từ đó đến nay qua
nhiều kỳ Đại hội, các văn kiện của Đảng đều khẳng định “Đầu tư cho giáo dục
là đầu tư cho phát triển”. Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo một lần nữa khẳng
định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân. Đầu tư cho phát triển là đầu tư cho phát triển, được ưu
tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội”. Trong
thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn xác định rõ việc đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế và văn hóa phát triển. Phát
triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con
người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững.
Văn kiện đại hội Đảng bộ thành phố Lào Cai lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2010 –
2015 cũng chỉ rõ những định hướng phát triển cho giáo dục thành phố Lào Cai:
2


Quan tâm đầu tư cho phát triển sự nghiệp giáo dục đào đạo. Đa dạng hóa các
loại hình giáo dục đào tạo. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Xây dựng
mô hình điểm trường chuẩn chất lượng cao ở các cấp học. Đưa việc dạy ngoại
ngữ, tin học vào tất cả các trường, các bậc học giáo dục phổ thông. Thực hiện tốt
chủ trương xã hội hóa và phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội
học tập.
Mở rộng quy mô đào tạo, bồi dưỡng nghề, phối hợp với các cơ sở đào tạo
của tỉnh trên địa bàn để đào tạo, bồi dưỡng nghề cho người lao động. Đảm bảo
cho trên 60% số lao động thuộc các ngành nghề trên địa bàn thành phố được qua
đào tạo, bồi dưỡng tối thiểu 3 tháng trở lên. Thực hiện tốt chính sách thu hút
nhân tài, ưu tiên những ngành nghề có lợi thế.
Trong các nhà trường, việc dạy học trang bị kiến thức văn hóa cho học
sinh chính là một trong những việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài một cách thiết thực nhất. Việc được ôn tập tốt sẽ giúp học sinh
nắm vững và sâu thêm kiến thức sẽ giúp các em sau này vào đời sẽ vận dụng
những kiến thức đã học được tốt hơn trong cuộc sống. Công việc ôn luyện này
tùy theo các điều kiện hiện có về mọi mặt của từng đơn vị mà công tác quản lý
được đặt ra cho phù hợp thì mới mang lại kết quả như mong muốn.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Học viên Bổ túc trung học phổ thông ở trung tâm Giáo dục thường xuyên
nói chung và ở trung tâm Giáo dục thường xuyên số 1 thành phố Lào Cai nói
riêng đều có những đặc điểm giống nhau: Đối tượng học viên chủ yếu là cán bộ
các xã phường, cán bộ các ban ngành, đoàn thể, người lao động và những học
sinh không đủ điều kiện vào học ở các trường Trung học phổ thông.
Với cán bộ và người lao động đi học, đây là đối tượng đã nghỉ học lâu
ngày nay tiếp tục đi học lại. Kiến thức cũ hầu như quên hết nên phải một thời
gian dài sau đó mới quen dần và mới bắt nhịp được với cường độ học tập, mặt
khác do vừa đi học vừa đi làm lại có gia đình riêng nên còn bị chi phối bởi công

3


việc và những lo toan đời thường do đó điều kiện về thời gian dành cho học tập
rất hạn chế.
Với học sinh không đủ điều kiện vào học ở các trường THPT, đa số các
em có sự nhận thức nhanh nhưng rất mải chơi, lười học nên kiến thức ở các lớp
dưới bị rỗng nhiều, rất nhiều em không xác định rõ động cơ học tập, việc đi học
là do sự thúc ép của gia đình hoặc sự rủ rê của bạn bè... Nhiều em do có những
thói quen xấu nên khi mới vào trung tâm việc chấp hành nội quy rất yếu kém,
phải sau một thời gian vài tháng rèn luyện mới tương đối ổn định. Khi mọi hoạt
động đã đi vào nền nếp lại được sự động viên khích lệ của các thầy cô giáo, của
phụ huynh học sinh, việc học tập của các em dần đi vào nền nếp. Đến lớp 12, sự
nhận thức của các em đã rõ ràng hơn trong việc học tập, tuy vậy với khả năng
học tập hạn chế do rỗng kiến thức nhiều chưa bù lấp kịp nên đòi hỏi sự ôn tập và
bổ sung kiến thức một cách tích cực và thường xuyên mới đáp ứng được yêu cầu
của việc học tập.
3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN TRONG QUẢN LÝ ÔN THI
TỐT NGHIỆP THPT:
Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của giáo viên, học sinh và phụ
huynh học sinh về tầm quan trọng của việc ôn thi tốt nghiệp
Thống nhất tư tưởng chỉ đạo, nghiên cứu các văn bản hướng dẫn, tuyên
truyền đến giáo viên nhằm nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của mình
trong hoạt động dạy học, qua đó thấy được tầm quan trọng của việc ôn tập cho
học viên để từ đó không ngừng nâng cao chất lượng của giờ dạy. Ngay từ đầu
năm học tổ chức tuyên truyền giáo dục tư tưởng để giáo viên chủ động, tự giác,
tích cực trong việc chuẩn bị kiến thức, phương pháp dạy học sao cho đảm bảo
các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cho học viên.
Thông báo thực trạng việc học tập và kiến thức học viên, học sinh
hiện có đến phụ huynh và học sinh biết, phân tích rõ những hạn chế mang tính
chủ quan của học viên, học sinh và những yêu cầu của các kỳ thi sắp tới cũng
như của cuộc sống sau này, từ đó phụ huynh và học sinh thấy được việc tích cực
4


tham gia ôn tập là vô cùng cần thiết, xác định rõ thái độ và động cơ học tập đúng
đắn.
Là một giải pháp quan trọng để nâng cao tỉ lệ học sinh tốt nghiệp, tốt
nghiệp loại khá trong kỳ thi tốt nghiệp THPT. Hưởng ứng phong trào thi đua
"dạy tốt, học tốt" tại trung tâm; nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao
trình độ chuyên môn của đội ngũ nhà giáo.
Biện pháp 2: Phối hợp với các tổ chức đoàn thể thực hiện tốt các
phong trào thi đua nhất là đẩy mạnh việc ‘‘Học tập và làm theo tấm gƣơng
đạo đức Hồ Chí Minh”
Chuyên môn phối hợp với Công đoàn, Đoàn thanh niên tổ chức thực hiện
tốt các phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”;
phong trào "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”;
đẩy mạnh việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cùng các
phong trào thi đua mà trung tâm phát động như: Thi đua dạy tốt, học tốt; thi đua
xây dựng cảnh quan trường học Xanh – Sạch – Đẹp; thi đua lập thành tích chào
mừng các ngày lễ lớn 20/11, 26/3, 19/5...
Các đợt thi đua đều có tổng kết, ngoài việc thực hiện tốt chủ đề chính của
các cuộc thi đua thì đều lồng ghép việc thực hiện các nền nếp, nhất là kết quả
của việc dạy và học. Các phong trào thi đua đều được cán bộ, giáo viên và học
viên hưởng ứng thực hiện nghiêm túc. Kết quả thi đua được thể hiện qua chất
lượng các giờ học, thực hiện nền nếp, tham gia đầy đủ và có chất lượng các hoạt
động ngoại khóa.
Thông qua các hoạt động thi đua giáo dục tinh thần thi đua yêu nước, trân
trọng thành quả lao động, học tập, rèn luyện của mình. Qua đó cũng biết bản
thân còn thiếu hụt hoặc chưa đạt được những nội dung, những yêu cầu gì để có
hướng điều chỉnh, phấn đấu để đạt được trong thời gian tới, trong đó có kiến
thức của các môn học.
Biện pháp 3: Xây dựng chƣơng trình và tổ chức thực hiện
Việc xây dựng kế hoạch, chương trình ôn thi tốt nghiệp cho học viên là
khâu quan trọng, nó là kim chỉ nam để thực hiện các hoạt động ôn tập trong năm
5


học. Xác định rõ mục tiêu là củng cố hệ thống lại kiến thức vừa học, bổ sung
thậm chí dạy lại kiến thức mà học viên bị rỗng. Nội dung chương trình ôn thi tốt
nghiệp được giao cho giáo viên trực tiếp dạy lớp 12 xây dựng có sự thống nhất
trong nhóm bộ môn và phù hợp với đối tượng học sinh từng khóa, với thời
lượng trong kế hoạch của trung tâm. Một yêu cầu không thể thiếu đó là phải
bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng, hướng dẫn giảm tải và cấu trúc đề thi tốt
nghiệp của Bộ GD&ĐT. Chương trình ôn tập được chia theo từng giai đoạn, mỗi
giai đoạn đều có những mục tiêu riêng như củng cố, hệ thống kiến thức, ôn
luyện và luyện đề cho học viên.
Việc tổ chức thực hiện ôn thi tốt nghiệp cho học viên trước hết là phải
củng cố, duy trì các nền nếp dạy và học theo quy định. Chỉ khi nào nền nếp dạy
học được ổn định và duy trì tốt thì mới có thể tiến hành các công việc một cách
có hiệu quả. Để có nền nếp tốt, trung tâm đã tổ chức cho cán bộ, giáo viên học
trao đổi thảo luận và đúc rút kinh nghiệm cho việc thực hiện nền nếp ở năm
trước. Các vấn đề tồn tại, yếu kém, chưa thực hiện được cần phải tìm ra nguyên
nhân và biện pháp để khắc phục đồng thời phải phát huy, nhân rộng và tuyên
dương khen thưởng các cá nhân, tổ chuyên môn thực hiện tốt các nền nếp đã xây
dựng. Đưa nội dung thực hiện nề nếp vào phong trào thi đua hai tốt và là một
trong các tiêu chí để đánh giá cán bộ, giáo viên cuối năm.
Ban giám đốc cùng các tổ trưởng và các giáo viên bộ môn thống nhất việc
thực hiện tiến độ chương trình ôn thi tốt nghiệp. Theo dõi, kiểm tra thường
xuyên, kiểm tra đột xuất việc thực hiện chương trình thông qua hệ thống sổ
sách, qua dự giờ. Quản lý chặt chẽ ngày giờ công, giờ giấc ra vào lớp, tiến độ
giảng dạy của giáo viên, xây dựng kế hoạch sinh hoạt tổ chuyên môn gắn với bài
học trong đó có ôn thi tốt nghiệp.
Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn quản lý tốt việc đi học chuyên cần
của học sinh, có các biện pháp tích cực để nâng cao tỉ lệ chuyên cần nhất là đối
với các lớp học ngày thứ bảy và chủ nhật. Thường xuyên động viên khích lệ học
sinh trong quá trình ôn thi tốt nghiệp. Học sinh tích cực, chủ động trong việc học
bài và làm bài tập ở nhà theo sự hướng dẫn của các thầy cô giáo.
6


Biện pháp 4: Nâng cao chất lƣợng giờ dạy chính khóa và giờ ôn thi
tốt nghiệp
Giờ dạy trên lớp khâu quan trọng nhất trong hoạt động dạy học nói chung
và trong việc ôn thi tốt nghiệp nói riêng. Mọi sự chuẩn bị về nội dung kiến thức,
phương pháp dạy học, năng lực sư phạm và tâm huyết nghề nghiệp hay khả
năng điều khiển, hướng dẫn học viên nắm kiến thức đều được thể hiện trong mỗi
giờ lên lớp. Nó là khâu quan trọng nhất của hoạt động dạy học bởi vì thông qua
giờ dạy trên lớp mà giáo viên và học sinh phối hợp làm việc nhiều nhất qua đó
giúp học sinh hình thành, củng cố, khắc sâu được kiến thức một cách có hệ
thống và đồng thời có được các kỹ năng cần thiết trong quá trình học tập của
mình.
Yêu cầu giáo viên có trách nhiệm đầu tư nhiều hơn cho việc nghiên cứu
nội dung, chương trình, tìm đọc tài liệu để lựa chọn nội dung, kiến thức ôn tập
đảm bảo chuẩn kiến thức song phù hợp với đặc điểm đối tượng người học của
ngành học giáo dục thường xuyên, qua việc lựa chọn kiến thức, nắm vững đặc
điểm người học tìm ra các phương pháp dạy học phù hợp, lựa chọn trang thiết bị
hỗ trợ dạy học phù hợp với nội dung, phương pháp và điều kiện cơ sở vật chất
hiện có của trung tâm, để mang lại hiệu quả tốt nhất cho giờ dạy; Giáo viên tích
cực dự giờ trong đó có giờ ôn thi tốt nghiệp của đồng nghiệp để rút kinh nghiệm
tự bồi dưỡng về chuyên môn, tích lũy thêm kinh nghiệm về phương pháp giảng
dạy và khả năng ứng xử sư phạm trong nhiều tình huống qua đó nâng cao dần
chất lượng của giờ ôn thi tốt nghiệp.
Trong sinh hoạt tổ chuyên môn, Ban giám đốc trung tâm thường xuyên
chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn đề xuất những nội dung kiến thức khó dạy, bài
dài, khó sử dụng việc đổi mới phương pháp. Yêu cầu cho giáo viên chuẩn bị
soạn bài cho những tiết dạy đó rồi trao đổi, thảo luận trước tổ, nhóm chuyên
môn cùng tìm ra giải pháp thực hiện tốt nhất những vấn đề còn khó khăn, vướng
mắc và đi đến thống nhất chung khi giảng dạy những loại bài đó, nhằm đạt mục
tiêu và phù hợp với đối tượng người học. Xây dựng, tổ chức thực hiện chuyên
đề về ôn thi tốt nghiệp ngay từ đầu năm học nhằm nâng cao chất lượng của giờ
7


ôn tập, có kiểm tra, đánh giá nghiêm túc những mặt mạnh, mặt yếu, tìm nguyên
nhân của những yếu, kém nhất là các nguyên nhân mang tính chủ quan và đề
xuất các giải pháp, biện pháp để khắc phục những hạn chế yếu kém đó.
Tổ chức cho giáo viên học tập, nắm vững tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại
giờ lên lớp ngay từ đầu năm học. Qua đó bản thân mỗi giáo viên tự đối chiếu
tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại giờ lên lớp vào chính hoạt động dạy học của mình
để phát huy mặt mạnh và khắc phục hạn chế của bản thân, đồng thời là căn cứ
để đánh giá, xếp loại giờ dạy của đồng nghiệp khi dự giờ.
Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, chú ý đến cách đổi mới của từng loại
bài, dạng bài và đảm bảo phải phù hợp với đối tượng của từng lớp học. Hướng
dẫn học viên học bài và làm bài tập ở nhà chu đáo sau mỗi tiết dạy kể cả tiết học
chính khóa lẫn tiết ôn thi tốt nghiệp. Với các môn có nhiều lý thuyết, giáo viên
hướng dẫn học viên làm đề cương, định hướng rõ những kiến thức trọng tâm cơ
bản cần nắm vững để có cơ sở ôn tập. Đổi mới kiểm tra đánh giá đối với học
viên, cung cấp cho học viên phương pháp tự học, tự kiểm tra. Đây là một biện
pháp tích cực giúp học viên tích cực tự giác trong học tập và có ý thức tự học, tự
kiểm tra từ đó có thói quen tìm hiểu kiến thức mới đáp ứng được nhu cầu học
suốt đời của mỗi người. Giáo viên thường xuyên kiểm tra việc đi học chuyên
cần, sách vở đồ dùng học tập, tài liệu tham khảo… kiểm tra tình hình học tập
trên lớp cũng như ở nhà cả việc học chính khóa cũng như các nội dung ôn tập.
Kiểm tra điều kiện học tập ở nhà của học viên để có thể tư vấn cho phụ huynh
tạo điều kiện thuận lợi nhất cho học viên học tập. Kiểm tra kết quả hai mặt giáo
dục của học viên cuối học kỳ I để có sự tư vấn thúc đẩy học viên tích cực hơn.
Biện pháp 5: Thƣờng xuyên kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm và
bồi dƣỡng nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ
Kiểm tra đánh giá thường xuyên hoạt động dạy học giúp giáo viên hoàn
thiện và duy trì nền nếp, chất lượng giảng dạy ngày một tốt hơn, hình thành thói
quen có ý thức tự giác trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Qua kiểm tra sẽ
phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, điều chỉnh sửa chữa kịp thời các lỗi các
khuyết điểm, không để các khuyết điểm trở thành sai phạm. Qua đó giúp giáo
8


viên khẳng định mình và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cũng qua kiểm tra
có thể phân loại, đánh giá khá chính xác đội ngũ giáo viên để có kế hoạch phân
công công việc cho hợp lý và có kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ cho phù hợp, thiết
thực.
Kế hoạch kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học của giáo viên trong đó có
việc ôn thi tốt nghiệp được xây dựng ngay từ đầu năm học đồng thời cũng công
khai trong hội đồng giáo dục để cán bộ, giáo viên, nhân viên đều biết và cùng
nhau thực hiện. Việc kiểm tra được thực hiện theo kế hoạch, có thể tiến hành đột
xuất, hoặc định kỳ tùy theo mục đích đặt ra. Kiểm tra việc kiểm tra đánh giá của
giáo viên trực tiếp ôn thi tốt nghiệp thông qua các bài kiểm tra định kỳ của các
lớp 12, điểm kiểm tra hàng ngày của môn ôn thi tốt nghiệp, kiểm tra kết quả
điểm trung bình môn học kỳ và điểm trung bình học kỳ của học sinh từ đó có
những nhận xét đánh giá toàn diện học sinh và rút kinh nghiệm để kịp thời điều
chỉnh việc bồi dưỡng của giáo viên cũng như tư vấn việc học tập cho học sinh.
Sau kiểm tra nhất thiết phải có thông báo kết quả kiểm tra, trao đổi rút kinh
nghiệm chỉ ra mặt mạnh, mặt còn hạn chế của mỗi giáo viên, tìm nguyên nhân
và đề xuất hướng khắc phục hạn chế, đồng thời có kiểm tra lại sau khi đã dành
một khoảng thời gian khắc phục điều chỉnh hạn chế. Người được kiểm tra thực
hiện tốt công tác tư vấn, thúc đẩy. Đó cũng là một hoạt động bồi dưỡng và tự bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên. Đầu năm học mới, kiểm tra kết quả
thi tốt nghiệp THPT qua kết quả các đợt kiểm tra có đánh giá, rút ra bài học kinh
nghiệm để có thể vận dụng vào việc ôn thi tốt nghiệp cho năm học mới và các
năm tiếp theo sao cho có hiệu quả nhất.
4. KẾT QUẢ THỰC HIỆN:
Với kinh nghiệm nhiều năm quản lý việc ôn thi tốt nghiệp cho học sinh
khối 12, với các biệp pháp quản lý khá phù hợp, với sự ủng hộ và nhiệt tình của
đội ngũ giáo viên trong quá trình thực hiện kế hoạch ôn thi tốt nghiệp, với sự
vào cuộc của phụ huynh học sinh trong việc tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con
em mình cũng như có sự động viên khích lệ kịp thời và nhất là với sự mong
9


muốn đạt kết quả cao nhất trong kỳ thi tốt nghiệp THPT của đại đa số học viên
nên hàng năm kết quả thi tốt nghiệp THPT của học viên trung tâm GDTX số 1
thành phố Lào Cai đều vượt mức chỉ tiêu và được duy trì một cách ổn định và
vững chắc.
Kết quả thi tốt nghiệp THPT một số năm gần đây như sau:
TT

Năm học

Số TS
dự thi

Số TS
tốt nghiệp

Tỉ lệ %

1

2009-2010

218

179

82,1

2

2010-2011

272

229

84,2

3

2011-2012

196

181

92,3

4

2012-2013

138

121

88,4

5

2013-2014

156

142

92,3

Ghi chú

Tỉ lệ trên đã bao gồm cả thí sinh tự do, nếu chỉ tính riêng học viên của
trung tâm thì còn cao hơn. Tỉ lệ này luôn cao hơn tỉ lệ chung của cả tỉnh đối với
ngành học GDTX.

C- KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Với kinh nghiệm nhiều năm phụ trách chuyên môn và trực tiếp quản lý
công tác ôn thi tốt nghiệp THPT của trung tâm GDTX số 1 thành phố Lào Cai.
Tôi đã có một số kinh nghiệm và sáng kiến trong công tác này như đã trình bày
ở trên. Để có được những kinh nghiệm trong công tác quản lý ôn thi tốt nghiệp
có hiệu quả đòi hỏi người quản lý phải mất rất nhiều công sức và thời gian. Việc
trao đổi kinh nghiệm giữa các đơn vị trung tâm GDTX trong tỉnh cũng như
ngoài tỉnh rất hạn chế và khó áp dụng vì mỗi trung tâm đều có những đặc điểm,
những điều kiện khác nhau (Ở trung tâm GDTX số 1 thành phố Lào Cai có các
đối tượng học sinh thi trượt THPT vào học các lớp buổi sáng, học sinh các
trường trung cấp chuyên nghiệp học buổi chiều, người lao động và một số học
sinh có năng khiếu thể thao học buổi tối, cán bộ các ban ngành và xã phường
10


học ngày thứ bảy và chủ nhật) hơn nữa những trao đổi này chỉ là những vấn đề
mang tính chung nhất. Gần đây khi mạng Internet được phổ biến, việc tìm kiếm
thông tin trên mạng đã dễ dàng hơn, tuy vậy các bài viết về công tác quản lý ôn
thi tốt nghiệp lại hầu như không có. Do đó việc học hỏi kinh nghiệm của các đơn
vị khác để áp dụng và trung tâm không được nhiều.Với những kinh nghiệm đã
có được trong công tác quản lý, với những sự nỗ lực cố gắng của thầy và trò
trong suốt thời gian dài đã mang lại những kết quả tuy chưa phải là cao nhưng
rất đáng trân trọng.
Những kinh nghiệm trong công tác quản lý ôn thi tốt nghiệp THPT như
trên có thể áp dụng một phần nào đó trong các trung tâm GDTX, ngoài ra còn có
thể áp dụng cho cả các trường THPT có điều kiện khác chưa phải là thật thuận
lợi cho công tác này.
Với khả năng có hạn và do nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan,
phần trình bày ở trên có thể không tránh khỏi những sai sót. Tôi rất mong các
bạn đồng nghiệp cùng trao đổi góp ý kiến để công tác Bồi dưỡng học sinh giỏi
của chúng ta ngày càng đạt kết quả tốt hơn.
Tôi xin chân thành cám ơn!
NGƢỜI VIẾT

Đàm Đình Hoa

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×