Tải bản đầy đủ

SKKN nâng cao hứng thú học tập bài làm văn thuyết minh cho học sinh lớp 10a2, trường

ĐỀ Tµi nghiªn cøu khoa häc
s- ph¹m øng dông

Tên đề tài:

“Nâng cao hứng thú học tập bài làm văn thuyết minh
cho học sinh lớp 10A2 trường THPT sè 4 thµnh phè
Lµo Cai thông qua phương pháp làm việc theo nhóm”.
………………………….

Họ tên tác giả: Tập thể giáo viên tổ Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ, GDCD
Đơn vị: Tr


Tóm tắt đề tài
Bản chất của thuyết minh là giúp người đọc, người nghe hiểu và hình dung rõ hơn
về một sự vật, sự việc hay một hiện tượng nào đó. Trong chương trình Ngữ Văn THCS,
học sinh đã được làm quen với kiểu bài này dưới dạng giới thiệu một đồ vật, một thể loại
văn học, một danh lam thắng cảnh, một phương pháp….Trong chương trình Ngữ văn 10,
các em được gặp lại kiểu bài này nhưng có những yêu cầu cao hơn, đối tượng phạm vi



thuyết minh cũng rộng hơn, đòi hỏi người viết phải đáp ứng những yêu cầu chung của
kiểu bài thuyết minh: chính xác, mạch lạc, rõ ràng và phải khơi gợi hứng thú muốn tìm
hiểu sự vật, hiện tượng được thuyết minh cho người đọc.
Để đạt được yêu cầu đó, người viết phải xác định đúng đối tượng, phạm vi thuyết
minh, nắm vững các phương pháp thuyết minh và vận dụng nó cho phù hợp. Ví dụ, khi
cần nêu bật đặc điểm bản chất ta nên sử dụng phương pháp nêu định nghĩa, giải thích, khi
cần nêu tác dụng hoặc tác hại của sự vật có thể dùng phương pháp liệt kê…..Các tri thức
thuyết minh về đối tượng cũng phải được bổ sung, tích lũy qua quá trình quan sát, liên
tưởng, sưu tầm tài liệu. Đồng thời, người viết cũng phải biết vận dụng các hình thức kết
cấu của văn bản thuyết minh để bài viết đạt hiệu quả cao nhất.
Thực tế cho thấy, khi gặp kiểu bài văn thuyết minh, học sinh thường không tích cực
trao đổi nhóm, ngại quan sát và viết vội theo cảm quan của mình. Cho nên bài thuyết
minh thường nghèo nàn, đối tượng thuyết minh chưa rõ ràng, hành văn thiếu chuẩn xác.
Chính vì không có sự hợp tác làm việc theo nhóm, không quan sát kĩ, không thâm nhập
sâu đối tượng, không tìm hiểu thấu đáo sự vật hiện tượng nên dẫn đến những sai sót đáng
tiếc. Ví dụ, khi thuyết minh về đền Thượng Lào Cai, có học sinh đã khẳng định đền thờ
Lê Lợi, hoặc thuyết minh về bánh trưng xanh lại cho rằng đó là đặc sản lâu đời của người


Ty??? ú l cha k n nhng phộp tu t so sỏnh, liờn tng khp khing vụ lớ, vng
di do thiu quan sỏt chớnh xỏc.
Gii phỏp ca chỳng tụi l s dng phng phỏp lm vic theo nhúm nhm lm tng
hng thỳ cho hc sinh khi gp kiu bi vn thuyt minh
Nghiờn cu s thc hin hai lp 10A2 v 10A3 trng THPT số 4 thành phố Lào
Cai. Hai lớp cú s tng ng s s, trỡnh hc lc, nn np. Lp 10A2 l nhúm thc
nghim v nhúm 10A3 l lp i chng. Lp thc nghim c thc hin gii phỏp thay
th khi dy t tun 24 n tun 26. Kt qu cho thy, lp thc nghim hng hỏi, tớch cc
hn trong hc tp, tác động đã có ảnh h-ởng tích cực đến việc tiếp thu và chuẩn bị bài.
Từ sự thay đổi hứng thú, chúng ta có thể hi vọng vào sự thay đổi chất l-ợng học tập của
học sinh.

Gii thiu
Lm vic theo nhúm l mt trong nhng phng phỏp dy hc c ỏp dng trong
i mi phng phỏp dy nhm phỏt huy tớnh tớch cc ca ngi hc, dy hc hng v
ngi hc. Ging dy trờn phng phỏp lm vic theo nhúm l mt phng phỏp s
phm m theo ú, lp c chia thnh nhiu nhúm, mi nhúm c phõn cụng gii


quyt mt cụng vic th hng ti mt ni dung cụng vic ln hn. Kt qu ca tng

nhúm s c trỡnh by tho lun chung trc khi i ti kt lun cui cựng. Phng
phỏp lm vic theo nhúm cú nhng u im sau õy:
- Kớch thớch s hp tỏc, sỏng to ca tt c cỏc thnh viờn trong nhúm
- Khuyn khớch s c lp t ch. Cỏc thnh viờn cú th a ra ý kin quan im ca
mỡnh cựng tho lun.
- Giỏo viờn hng dn giao vic, theo dừi vic thc hin v ỏnh giỏ kt qu lm vic
ca cỏc nhúm
Tuy nhiờn, trong khi tho lun, cỏc thnh viờn trong nhúm cn phi cú thỏi lm vic
nghiờm tỳc, tớch cc. Thỏi lm vic thiu nhit tỡnh ca mt s thnh viờn s nh
hng xu n kt qu chung ca c nhúm. Trong trng hp ny, giỏo viờn cn un
nn v a ra nhng yờu cu, nhim v c th hn.
Trong Sỏch giỏo khoa hin nay, phần H-ớng dẫn học bài không hng dn c th
cỏch trao i nhúm, ch a ra nhng cõu hi để học sinh t son bi v viết đoạn văn
luyện tập. Mt khỏc, dung lng kin thc nhiu bi hc quỏ nng, mt s thy, cụ giỏo
cha tỡm c bin phỏp phự hp kớch thớch s tỡm tũi khỏm phỏ ca hc sinh. Vỡ
vy, trong gi hc mụn Ng Vn, thy cụ ú cha phỏt huy hết c kh nng phỏt hin


v gii quyt vn , giỳp HS x lớ linh hot nhng tỡnh hung, nhng yờu cu khỏc
nhau.
Qua kho sỏt thc t (d gi thm lp) trng THPT s 4, tụi thy a s thy
cụ giỏo ó s dng nhiu phng phỏp, k thut dy hc mi nhng cũn nng v hỡnh
thc, vn tho lun cha tht s hp dn, cú khi ch s dng cõu hi sỏch giỏo khoa
mt cỏch n iu. HS có suy ngh tr li cõu hi nhng cha tht s hng thỳ.
Xut phỏt t nhng nguyờn nhõn trờn, chỳng tụi chn gii phỏp lm vic theo
nhúm tng s hng thỳ v tớch cc tham gia hc tp cho hc sinh.
Nghiờn cu v ti ny, đã cú nhiều bài viết đựơc trình bày trong các hội thảo về
đổi mới ph-ơng pháp giảng dạy nh-:
- Vũng trũn tho lun ca nh NC Harvey Daniels (ngi dch: TS. Nguyn Th
Hng Nam) cp n vn Worksheets (dch ra Ting Vit l Phiu bi tp phõn vai).
- ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của Lê Minh C-ơng MS 720.
- Ph lc 6.1: Mt s ti minh ha, D ỏn Vit-B, Nghiờn cu khoa hc ng dng, nh
XB i hc s phm, 2010.
Vn nghiờn cu


Việc sử dụng phương pháp làm việc theo nhóm khi học bài văn thuyết minh có
làm tăng hứng thú học tập của HS lớp 10A2 trường THPT sè 4 thµnh phè Lµo Cai
không?
Giả thuyết nghiên cứu :
Việc sử dụng phương pháp làm việc theo nhóm khi học bài văn thuyết minh sẽ
làm tăng hứng thú học tập của HS lớp 10A2 trường THPT sè 4 thµnh phè Lµo Cai

Phương pháp :
a. Khách thể nghiên cứu :
Chọn ngẫu nhiên học sinh ở hai lớp 10A2 và 10A3 trường THPT số 4 thành phố
Lào Cai. Hai lớp này có những đặc điểm thuận lợi cho việc nghiên cứu vì tương
đương về sĩ số, về trình độ văn hóa, nền nếp học tập, tỉ lệ giới tính, dân tộc. Cụ thể
như sau :

Sĩ số

Lớp 10A2

Lớp 10A3

28

26


Nữ

16

16

Nam

12

10

Dân tộc

9

8

- Về ý thức học tập, phần lớn học sinh của hai lớp đều ngoan, có ý thức học tập
- Chọn hai lớp nguyên vẹn: 10A2 là nhóm thực nghiệm và 10A3 là nhóm đối chứng, lấy
bài viết số 5 làm bài kiểm tra trước tác động. Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình
của hai nhóm có sự khác nhau, do đó, tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng
sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhóm trước khi tác động. Ta có
TBC nhóm đối chứng: 6,0
TBC nhóm thực nghiệm: 6,3
p= 0,135> 0,05. Từ đó, kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm thực
nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương.
b. Thiết kế :
Chọn thiết kế kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương : Nhóm 1
là nhóm thực nghiệm và nhóm 2 là nhóm đối chứng


Nhóm

Kiểm tra

Tác động

trước tác động
Nhóm 1

O1

động
GV sử dụng

(Thực

phương pháp

nghiệm)

trao đổi nhóm

Nhóm 2

O2

(Đối chứng)

Kiểm tra sau tác

GV không sử

O3

O4

dụng phương
pháp trao đổi
nhóm

Ở phép kiểm chứng này, tôi chỉ sử dụng một phép kiểm chứng: dùng phép kiểm
chứng T-test độc lập nhằm để đo thái độ hứng thú học tập của học sinh.
c. Quy trình nghiên cứu :
- Dạy nhóm 1 có sử dụng phương pháp trao đổi nhóm và dạy nhóm 2 không có sử
dụng phương pháp trao đổi nhóm.


- Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường
và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan.
- Cả hai nhóm đều tiến hành cùng một nội dung trong chương trình Ngữ Văn – lớp
10 (Học kì II). Đồng thời tiến hành đo thái độ hứng thú học tập của học sinh thông qua
Bảng đo thái độ trước và sau tác động.

d. Đo lường :
- Nghiên cứu tiến hành đo thái độ trước và sau khi tác động. Bài kiểm tra trước tác động
là bài viết số 5 theo đề chung . Bài kiểm tra sau tác động là bài viết số 6 theo phân phối
chương trình và đề chung của trường.
- Sau khi kiểm tra, ta tiến hành chấm bài theo đáp án đã xây dựng.
- Phân tích dữ liệu và kết quả, ta có bảng phân tích sau:

Kết quả
Nhóm thực nghiệm

Nhóm đối chứng


Trước tác

Sau tác động

động

Trước tác

Sau tác động

động

Giá trị trung bình

26.8

30.47

26

26.87

Độ lệch chuẩn

2.933

1.727

4.359

3.681

Mức độ ảnh hưởng

0.978

(Giá trị SMD)
Giá trị p của T-test

0.001

Bàn luận
Dùng phép kiểm chứng ttest độc lập để xác định sự chênh lệch giá trị trung bình của
hai nhóm thực nghiệm và đối chứng. Kết quả bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực
nghiệm là điểm trung bình = 30.47, kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng
là điểm trung bình = 26.87. Điều đó cho thấy rõ sự khác biệt. Lớp được tác động của
nhóm thực nghiệm có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng.
Tóm lại, Sau khi tác động kết quả thu được giá trị p =0,001 (p<0,05) cho thấy chênh
lệch giá trị trung bình của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng là có ý nghĩa . Từ đó ta


có thể kết luận rằng các dữ liệu không xảy ra ngẫu nhiên, biện pháp tác động là có hiệu
quả.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng là:
SMD = 0,98. Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn.
Hạn chế
Nghiên cứu này thực hiện trong giờ học văn thuyết minh ở trường THPT là một
giải pháp rất tốt, nhưng để sử dụng hiệu quả, giáo viên phải biết đưa ra tình huống phù
hợp, có sự gợi ý chấm ngòi cho các cuộc thảo luận. Các thành viên trong nhóm phải biết
trước về đề tài làm việc, nắm vững nhiệm vụ của nhóm mình và thực hiện nghiêm túc.
Nếu nhóm trưởng quản lí không tốt sẽ dẫn tới tình trạng kẻ làm người chơi, lạm dụng
thời gian để mất trật tự, làm việc không hiệu quả. Vì vậy, giáo viên ph¶i đầu tư công phu
bài soạn, giao việc cụ thể cho từng nhóm, ấn định thời gian và phải luôn quan sát uốn
nắn kịp thời những sai sót cho từng nhóm. Việc cho điểm đánh giá kết quả làm việc của
các nhóm cũng phải công bằng chính xác đảm bảo tính khách quan cao.
Kết luận và khuyến nghị
 Kết luận:


Việc sử dụng phương pháp trao đổi nhóm vào giảng dạy môn Ngữ văn lớp 10A2
trường THPT sè 4 thµnh phè Lµo Cai ®· có tác động đến sự chú ý, hứng thú học bài của
học sinh. Biện pháp này đã khơi dậy khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề, gãp phÇn
c¶i thiÖn thùc tr¹ng vµ nâng cao hứng thú học tập cho HS.
 Khuyến nghị:
- Đối với cán bộ quản lí: thường xuyên mở lớp bồi dưỡng đổi mới phương pháp,
khuyến khích giáo viên áp dụng CNTT vào soạn giảng, tạo điều kiện để giáo viên giao
lưu, trao đổi chuyên môn lẫn nhau.
- Đối với giáo viên: thường xuyên trau dồi chuyên môn, bám sát chuẩn kiến thức kĩ
năng để thiết kế những câu hỏi phù hợp với từng đơn vị kiến thức, tùy từng bài học.
Tuy nhiên, không thể áp dụng một cách máy móc, tràn lan làm ảnh hượng đến khối
lượng bài học. Điều quan trọng nhất khi soạn câu hỏi phải chú ý tính ngắn gọn, chính
xác nhằm khơi gợi sự hứng thú tìm tòi, học tập môn Ngữ văn của HS.
ĐẠI DIỆN TỔ CHUYÊN MÔN
TỔ PHÓ CHUYÊN MÔN


Nguyễn Thị Thu Hường



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×