Tải bản đầy đủ

SKKN kinh nghiệm rèn luyện kĩ năng làm dạng đề nghị luận xã hội cho học sinh giỏi người dân tộc thiểu số

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƢỜNG THPT SỐ I BÁT XÁT
------------------------------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM DẠNG ĐỀ
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI NGƢỜI
DÂN TỘC THIỂU SỐ

Họ và tên: Đinh Thị Minh Hƣơng
Chức vụ: giáo viên
Tổ chuyên môn: Ngữ văn-Lịch sử-GDCD
Đơn vị công tác: Trƣờng THPT số 1 Bát Xát

Bát Xát, tháng 5 năm 2014
MỤC LỤC
1


STT


NỘI DUNG

TRANG

1

MỤC LỤC

1

2

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

2

3

NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

3

4

I/ Cơ sở lí luận

3

5

II/ Thực trạng vấn đề nghiên cứu

4

6

III/ Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề

5


7

IV/ Thiết kế bài dạy

12

8

V/ Hiệu quả của SKKN

16

9

KẾT LUẬN

17

10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

18

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

2


Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung, bồi dưỡng học sinh giỏi môn ngữ văn nói
riêng cho các kỳ thi tuyển học sinh giỏi là vấn đề luôn được các cấp quản lý, các
giáo viên trực tiếp giảng dạy quan tâm, trăn trở. Đây là công việc hàng năm, khó
khăn thường nhiều hơn thuận lợi nhưng rất có ý nghĩa đối với các trường. Kết quả
thi học sinh giỏi số lượng và chất lượng học sinh giỏi là một trong các tiêu chí
quan trọng, phản ánh năng lực, chất lượng dạy và học của các trường, của giáo
viên và học sinh. Thông qua kết quả này, nhà trừơng, các bô môn, các thầy cô, học
sinh còn có thêm những kinh nghiệm qúi báu, có thêm cơ sở để chia sẻ, khích lệ, tự
tin; dạy tốt hơn và học tốt hơn cho khóa học hiện tại và các khóa tiếp theo; trường
lớp càng ngày càng có thêm nhiều học sinh khá, giỏi.
Để có được đạt kết quả ôn thi học sinh giỏi tốt, vấn đề không hoàn toàn đơn
giản. Kiến thức môn học, tâm lí, phương pháp giáo dục vốn có của người thầy
chưa đủ. Người thầy còn phải dành rất nhiều tâm huyết, kinh nghiệm, sự hiểu biết,
cố gắng của mình vào việc phát hiện, bồi dưỡng cho các học sinh. So với những
em học sinh ở thành phố, thị xã thì những em học tại trường huyện gặp rất nhiều
khó khăn, nhất là những em học sinh người dân tộc thiểu số còn gặp khó khăn hơn.
Với kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi ở dạng đề nghị luận xã hội cho học sinh
người dân tộc thiểu số, tôi thường gặp những khó khăn như sau:
Các em có điều kiện kinh tế khó khăn, không có nhiều tài liệu tham khảo; một
số em nhà xa, phải ở trọ, không được sự quan tâm của gia đình; vốn sống xã hội ít;
nhiều em có tâm lý “ngại” học môn xã hội, trong đó có môn ngữ văn.
Dù khó khăn như vậy, nhưng trong những năm qua tôi cũng đã cố gắng phát
hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi môn ngữ văn cho học sinh, nhất là rèn luyện dạng đề
nghị luận xã hội cho học sinh là người dân tộc thiểu số có hiệu quả và đạt giải cấp
tỉnh.
Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Kinh nghiệm rèn luyện kĩ năng làm dạng đề
nghị luận xã hội cho học sinh giỏi người dân tộc thiểu số ” nhằm giới thiệu, chia
sẻ với đồng nghiệp những kinh nghiệm nhỏ bé của mình trong việc bồi dưỡng dạng
đề nghị luận xã hội cho học sinh giỏi bộ môn ngữ văn là người dân tộc thiểu số
vùng sâu, vùng xa cũng là để góp thêm một giọt nứơc nhỏ vào đại dương mênh
mông của nền giáo dục nước nhà.

3


NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, đầy những
khó khăn, bởi vì học sinh giỏi là những học sinh có tố chất đặc biệt khả năng cảm
thụ, khả năng tư duy và nhất là khả năng viết. Người giáo viên phải có quá trình
tích lũy kinh nghiệm, sự chuẩn bị và đầu tư nhiều hơn để có thể đạt hiệu quả và
thuyết phục học sinh, làm cho các em thực sự hứng thú và tin tưởng.
Học sinh giỏi môn ngữ văn trước hết phải là những học sinh có niềm
say mê, yêu thích văn chương. Sự say mê ấy phải được biểu hiện thường
xuyên, liên tục và bằng ý thức tự giác trong học tập, như soạn bài cẩn
thận chu đáo, luôn chủ động tiếp thu kiến thức trong giờ học, đặc biệt
phải thể hiện rõ ý thức trách nhiệm trong các bài làm văn theo quy định
của chương trình và những bài luyện tập, thực hành rèn luyện kỹ năng mà
giáo viên hướng dẫn. Sự say mê sẽ giúp các em chịu khó tìm tài liệu để
mở mang kiến thức, phát huy được trí tưởng tượng, sự liên tưởng để sống
sâu sắc hơn với những cái mình đã đọc, đã học.
Học sinh giỏi môn ngữ văn là những học sinh có khả năng cảm thụ
tinh tế, nhạy trước mọi vấn đề của cuộc sống. Thường thì đây là những
học sinh sống tình cảm, thích gần gũi với thầy cô, bạn bè và với mọi
người, hay bộc lộ quan điểm tình cảm và chiều sâu nội tâm của mình
thông qua cách phát biểu trực tiếp hoặc gián tiếp trong các bài viết.
HSG văn là những học sinh có vốn từ tiếng Việt khá dồi dào, nắm chắc
các kỹ năng làm bài nghị luận.
Văn nghị luận: là loại văn bản được tạo lập nhằm mục đích thuyết
phục người đọc người đọc, người nghe về những ý kiến, quan điểm của
người nói, người viết trước một vấn đề đặt ra.
Nhìn từ phương diện đề tài, có thể chia văn nghị luận thành hai loại
lớn: nghị luận xã hội và nghị luận văn học.
Nghị luận xã hội: là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội-nhân sinh
như: một tư tưởng đạo lí, một lối sống cao đẹp; một hiện tượng tích cực
hoặc tiêu cực của đời sống; một vấn đề về thiên nhiên, môi trường...
Nghị luận xã hội là dạng đề đòi hỏi học sinh phải có tư duy độc lập, óc
sáng tạo và chủ động lựa chọn nội dung và cách trình bày về một vấn đề
xã hội nào đó. Đây là đòi hỏi khá cao và trên thực tế không ít học sinh đã
thực sự gặp khó khăn khi giải quyết một đề bài cụ thể.

4


Để làm tốt bài nghị luận xã hội, về cơ bản, có hai yêu cầu và cũng là
điều kiện căn bản là kiến thức và kĩ năng. Có kiến thức mà không có kĩ
năng thì không biết cách triển khai bài làm và lập luận thế nào cho thuyết
phục; ngược lại, có kĩ năng mà không có kiến thức thì bài làm có vẻ bài
bản nhưng nông cạn, hời hợt, thậm chí rơi vào sáo rỗng.
Kiến thức phục vụ cho việc làm văn nghị luận xã hội rất phong phú bởi
tính đa dạng của lĩnh vực xã hội làm đề tài cho bài văn nghị luận xã hội.
Dạng đề này thường gắn với đời sống xã hội, văn hóa, tư tưởng… yêu
cầu học sinh phải có kiến thức thực tiễn, có năng lực vận dụng, trình bày
suy nghĩ, hiểu biết, quan niệm của mình về những vấn đề đó. Vì vậy, học
sinh có thể huy động các nguồn kiến thức như: kiến thức từ sách vở, kiến
thức từ đời sống, kiến thức từ sự trải nghiệm của bản thân.
Về kĩ năng, ngoài những kĩ năng làm bài văn nghị luận nói chung
như: kĩ năng đọc và phân tích đề để tìm ra yêu cầu, vấn đề cụ thể mà bài
văn yêu cấu nghị luận; kĩ năng tìm và lập ý để làm rõ vấn đề; kĩ năng
diễn đạt, triển khai ý thành những đoạn văn cụ thể và kĩ năng trình bày
bài viết...giáo viên hướng dẫn học sinh quan tâm đến một số vấn đề như:
rèn luện thói quen độc lập suy nghĩ, dám phát biểu chính kiến, quan điểm
riêng của cá nhân trước một vấn đề; nắm vững các thao tác lập luận; thấy
được vai trò và những yêu cầu của luận điểm trong bài văn.
Thường những em là học sinh giỏi môn ngữ văn đều có khả năng diễn
đạt trong sáng, hàm súc, giàu cảm xúc, và có dấu ấn riêng; diễn đạt lưu
loát. Bởi lẽ, ngôn ngữ vừa là công cụ, vừa là sản phẩm của tư duy.
Học sinh giỏi môn ngữ văn còn phải có vốn tri thức phong phú và hệ
thống; phải có sự hiểu biết càng nhiều càng tốt về con người và xã hội.
Bởi vậy, khi bồi dưỡng học sinh giỏi dạng đề nghị luận xã hội cho học sinh cần
chú trọng rèn luyện kĩ năng cho học sinh.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

1. Thuận lợi:
Bản thân tôi dành nhiều thời gian tìm tòi, tham khảo nhiều tài liệu, suy ngẫm
và chắt lọc về chuyên môn, giúp ích cho việc dạy bồi dưỡng học sinh giỏi.
Đam mê tích lũy được một số đề thi học sinh giỏi trong tỉnh, các đề học sinh
giỏi ở các tỉnh khác ... để cập nhật thường xuyên.
Bộ môn ngữ văn là một bộ môn quan trọng, có một vị trí đặc biệt trong trường
phổ thông, ảnh hưởng đến việc xếp loại học lực của học sinh. Môn ngữ văn còn là

5


một bộ môn nghệ thuật, có sức hấp dẫn riêng nếu chúng ta biết khai thác để tạo
hứng thú cho học sinh.
Lãnh đạo nhà trường có sự quan tâm, động viên sâu sắc đúng mức đến công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi. Các thầy cô đồng nghiệp trong tổ, trong trường tích cực
ủng hộ.
Quý phụ huynh học sinh đồng tình và tạo điều kiện, khuyến khích con em theo
học bồi dưỡng. Một số học sinh có năng khiếu tích cực tham gia bồi dưỡng.
2. Khó khăn:
Quan niệm của xã hội nói chung về việc học bộ môn ngữ văn ảnh hưởng đến
tinh thần học tập và sự quan tâm của đại đa số học sinh, không thuận lợi cho việc
chọn lựa học sinh tham gia. Nhiều học sinh có tư tưởng coi nhẹ môn ngữ văn.
Việc vận dụng kĩ năng làm bài, nhất là đối với dạng để xã hội ở một số học sinh
còn hạn chế.
Một số học sinh có khó khăn trong việc sưu tầm tài liệu tham khảo. Ngoài thời
gian học tại trường, các em chưa dành nhiều thời gian ôn luyện thêm ở nhà.
Chính vì những khó khăn trên, nên tôi thiết nghĩ: việc rèn luyện kĩ năng làm
dạng đề cho học sinh (trong đó có học sinh là người dân tộc thiểu số) rất quan
trọng. Giáo viên cần tiến hành từng bước kĩ càng, tỉ mỉ để học sinh hình thành
được kĩ năng làm bài đối với dạng đề nghị luận xã hội trong cấu trúc đề thi học
sinh giỏi.
III. CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1/ Phát hiện học sinh giỏi
Chất lượng, hiệu quả của đội tuyển phụ thuộc phần lớn vào đối tượng được
tuyển chọn. Tôi quan tâm tới đối tượng học sinh, đặc biệt là những học sinh có
hứng thú và say mê học tập. Trên cơ sở đó, kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng và
ý thức học tập của các em; khích lệ, động viên kịp thời; tránh để các em căng thẳng,
mệt mỏi.
Để hoạt động học của học trò có hiệu quả thì không khí thân mật, lắng nghe
chia sẻ giữa cô và trò là vô cùng quan trong…Cốt lõi trong vấn đề này là “đãi cát
tìm vàng”. Nếu không cố gắng, tâm huyết với công việc thì khó thể phát hiện được
học trò có tố chất “trò xuất sắc”. Không phát hiện được học trò có tố chất “trò xuất
sắc” thì việc bồi dưỡng học sinh giỏi sẽ rất gian nan.
Yếu tố trò xuất sắc được hiểu là có tố chất học tập và nghiên cứu môn học, có
tinh thần say mê, ham học hỏi, có khả năng biến quá trình được thày cô đào tạo
thành quá trình tự đào tạo: và đặc biệt phải có khả năng và phương pháp tự học.

6


Việc phát hiện và bồi dưỡng sinh giỏi là việc làm cần thiết và có cơ
sở khoa học. Vì vậy, việc tìm hiểu kết quả học tập của học sinh ở ở
những năm học trước qua điểm tổng kết môn học là rất quan trọng. Ngoài
ra, giáo viên phát hiện cần tham khảo thêm ý kiến giáo viên đã trực tiếp
giảng dạy học sinh năm học trước đó để nắm bắt những mặt mạnh, mặt
yếu của học sinh.
Khi chấm bài, thầy cô không chỉ chú trọng những bài chu đáo, khuôn
mẫu, đầy đủ... mà còn quan tâm đến những bài có thể có chỗ chưa sâu,
chưa đầy đủ, nhưng có sự độc đáo, sâu sắc… phải sửa kỹ, phê kĩ, thật sự
nghiêm khắc khi đánh giá chấm bài. Từ những bài kiểm tra còn thiếu sót,
giáo viên có định hướng bồi dưỡng cho các em ở những bài viết tiếp theo.
2. Lựa chọn hƣớng ra đề
Tôi luôn ý thức một cách sâu sắc rằng, việc ra đề là khâu quan trọng
đầu tiên của quá trình phát hiện, đánh giá và lựa chọn học sinh giỏi. Đề
đúng và hay sẽ kích thích hứng thú làm bài của học sinh, giúp người thầy
nắm được điểm mạnh, điểm yếu của mỗi học sinh. Từ đó có thể đánh giá
khách quan, chính xác, công bằng năng lực, sự cố gắng vươn lên của học
sinh. Ngược lại, đề thiếu chính xác, sáo mòn không những không đánh
giá được chính xác về năng lực học sinh, mà còn giảm thiểu tính độc lập
sáng tạo không gây được hứng thú học văn. Và hậu quả của nó là việc rèn
kỹ năng sẽ trở nên vô nghĩa.
Theo dõi hướng ra đề thi học sinh giỏi các cấp trong những năm qua,
tôi nhận thấy, đề thi HSG có xu hướng mở, và chú ý đến hình thức nghị
luận xã hội. Khi ra đề để ôn luyện cho học sinh cần tăng cường các đề thi
gắn với thực tiễn đời sống (nghị luận xã hội). Có thể ra đề về những vấn
đề gần gũi với học sinh, thanh niên đó là những vấn đề về lý tưởng, đạo
đức, lối sống… những vấn đề mang tính thiết yếu, cập nhật của xã hội,
đất nước, như về việc học tập, về đọc sách, giải trí, về văn hóa, thiên
nhiên, môi trường v.v…
Từ nhận thức đó, trong quá trình ra đề rèn luyện kỹ năng cho học
sinh tôi đã chú ý đến các dạng đề chẳng hạn như:
Đề 1:
Về hiện tượng một số giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đang
bị mai một.
Đề 2:

7


Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những
chùm hoa thật đẹp.
Phát biểu suy nghĩ của anh ( chị ) được gợi ra từ hiện tượng nêu trên.
Đề 3:
" Ước mơ không phải là cái gì sẵn có, cũng không phải là cái gì không thể có.
Ước mơ giống như một con đường chưa có, nhưng con người sẽ khám phá và vượt
qua" ( Lỗ Tấn )
Anh ( chị ) suy nghĩ gì về ý kiến trên?
Đề 4:
“ Nếu một người được gọi là phu quét đường, hãy quét những con đường như
Mi-ken-lăng-giơ vẽ tranh, hãy quét con đường như Bét-tô-ven đã soạn nhạc và hãy
quét con đường như Sếch-xpia đã làm thơ. Người phu quét đường cần phải quét
những con đường sạch tới độ tất cả các thiên thần trên thiên đàng lẫn con người
nơi trần gian sẽ phải dừng lại và nói rằng: " Anh là người quét đường vĩ đại,
người đã làm thật tốt công việc quét đường của mình"
( Mục sư Ma-tin Lu-thơ- Kinh )
( Dẫn theo Bài học làm người, NXB Trẻ - NXB Giáo dục, 2006)

Anh/ chị hiểu thế nào về ý kiến trên?
Đề 5:
Trong việc nhận thức, F. Ăng-ghen có phương châm: “Thà phải tìm hiểu sự
thật suốt đêm còn hơn nghi ngờ nó suốt đời”, C. Mác thì thích câu châm ngôn:
“Hoài nghi tất cả”.
Anh/Chị hiểu thế nào về những ý tưởng trên
Đề 6:
Từ vở kịch Hồn Trương Ba da làng thịt ?( Lưu Quang Vũ), anh ( chị)
hãy nêu quan niệm thế nào là một cuộc sống có ý nghĩa ?
Đề 7:
Anh (chị) hãy viết một bài văn nghị luận với chủ đề "Con đường phía
trước"
3. Rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận xã hội:
3.1. Kỹ năng tìm hiểu đề:

8


Tìm hiểu đề của bài văn nghị luận nhằm xác định yêu cầu cơ bản của
bài văn theo các phương diện: vấn đề trọng tâm ( nội dung) cần bàn luận,
thao tác lập luận chính cần sử dụng, phạm vi tư liệu cần huy động.
Thao tác này có ý nghĩa định hướng cho việc xử lý đề bài của học
sinh. Cần phải cho học sinh thấy rằng, không thể có bài làm tốt nếu xác
định sai yêu cầu, kiều dạng đề ra.
Có những dạng đề yêu cầu này được thể hiện ngay ở đề bài, nhưng
cũng có những đề bài không nêu yêu cầu cụ thể về vấn đề và thao tác
nghị luận (còn gọi là đề mở), đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ kĩ càng,
gạch chân những từ ngữ then chốt.
Sau khi đã nhận diện đúng yêu cầu đề, việc xác định thao tác nghị
luận chỉ cần củng cố và hệ thống lại. Điều cần lưu ý với học sinh là dù đề
thi học sinh giỏi có yêu cầu hay không, học sinh vẫn phải vận dụng nhiều
thao tác nghị luận khác nhau trong một bài làm (Phân tích, giải thích,
chứng minh, bình luận, so sánh…) và phải xác định thao tác nào là chính,
thao tác nào là hỗ trợ. Nắm chắc yêu cầu này, học sinh sẽ có cơ sở để xây
dựng hệ thống luận điểm hợp lý và khoa học cho bài viết. Đây cũng là
trọng tâm của bài viết. Những thao tác hỗ trợ thường gắn với những ý
phụ, ý bổ sung, giúp cho nội dung bài viết hoà chỉnh, trọn vẹn.
Để triển khai bài nghị luận, cần chú ý xác định đúng yêu cầu của đề bài.
Tuy nhiên, mỗi đề bài lại có đặc điểm riêng nên khi phân tích đề cần linh
hoạt tránh máy móc.
3.2. Rèn kĩ năng lập dàn ý:
Bước đầu tiên trong rèn kỹ năng lập dàn ý tôi thường yêu cầu học
sinh phải lập dàn ý sơ lược theo các yêu cầu như: đề xuất được hệ thống
luận điểm sẽ triển khai trong bài viết; xác định mối quan hệ giữa các luận
điểm, tầm quan trọng của mỗi luận điểm trong việc thể hiện các yêu cầu
của bài; sắp xếp các luận điểm theo trình tự chặt chẽ, khoa học.
Để xác định được các luận điểm cho bài văn nghị luận, sau khi đã xác
định được yêu cầu của đề bài, cần tôi thường hướng dẫn các em dựa vào
vấn đề trọng tâm để đặt hệ thống câu hỏi và tự trả lời câu hỏi. Hệ thống
các từ ngữ để hỏi như: là gì? như thế nào? tại sao? có ý nghĩa gì? phải
làm gì...
Khi đã tìm ra các luận điểm, cần tiếp tục hướng dẫn học sinh chia tách
thành các ý nhỏ và sắp xếp hệ thống luận điểm, luận cứ một cách hợp lí,
rõ ràng làm sáng tỏ được vấn đề

9


Những nội dung này học sinh được suy nghĩ độc lập, sau đó học sinh
sẽ trình bày ngắn gọn dàn ý của mình. Cuối cùng giáo viên mới nhận xét,
sửa chữa hoàn chỉnh.
Kỹ năng này nếu được làm một cách nghiêm túc, thường xuyên sẽ
giúp các em chủ động, độc lập tư duy, khắc phục dần tình trạng ngẫu
hứng, nghĩ đến đâu viết đến đó, thậm chí làm bài xong không biết mình
viết gì. Tác dụng của khâu này là giúp các em khi đọc đề bài có thể
nhanh chóng hình thành hệ thống luận điểm, đủ ý và mạch lạc; định
hướng kiến thức cho bài viết. Đây cũng là một trong những biểu hiện của
tính khoa học ở một bài văn học sinh giỏi.
Giáo viên cần chú trọng hướng dẫn học sinh cách lập dàn ý. Cụ thể
như:
a) Cách lập dàn ý bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
* Mở bài: Giới thiệu sự việc, hiện tượng; trích dẫn ( nếu đề nêu nhận định
hoặc đoạn tin )
* Thân bài:
- Giải thích hiện tượng (nếu cần thiết).
- Biểu hiện của hiện tượng.
- Nguyên nhân:
+ Khách quan:
+ Chủ quan :
- Hậu quả hoặc ý nghĩa.
- Bày tỏ ý kiến, thái độ ( phê phán, bác bỏ hoặc khẳng định, biểu dương).
- Biện pháp (khắc phục hoặc phát huy).
* Kết bài: Đánh giá lại vấn đề, rút ra bài học, liên hệ bản thân.
b) Cách lập dàn ý bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
* Mở bài: Giới thiệu tư tưởng, đạo lí cần bàn luận; trích dẫn ( nếu đề đưa ý
kiến nhận định)
* Thân bài:
- Giải thích tư tưởng, đạo lí.
- Bình luận về tư tưởng, đạo lí:
+ Đánh giá, chứng minh: mặt đúng - mặt sai, tốt – xấu, ....

10


+ Khẳng định, ngợi ca hoặc phê phán.
+ Phương hướng, biện pháp phấn đấu.
* Kết bài: Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.
c) Cách lập dàn ý bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học.
* Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm có vấn đề nghị luận.
- Giới thiệu vấn đề được đưa ra bàn bạc
* Thân bài:
- Nêu vấn đề được đặt ra trong tác phẩm văn học. Phần này người viết phải
vận dụng kĩ năng đọc-hiểu văn bản để trả lời các câu hỏi: Vấn đề đó là gì? Được
thể hiện như thế nào trong tác phẩm? Càn nhớ, tác phẩm văn học chỉ là cái cớ để
nhân ý kiến đó mà bàn bạc, nghị luận về một vấn đề xã hội, vì thế không nên đi
quá sâu vào việc phân tích tác phẩm mà chủ yếu rút ra ý nghĩa khái quát để bàn
bạc vấn đề có ý nghĩa xã hội.
- Từ vấn đề được rút ra, người viết tiến hành làm bài nghị luận xã hội, nêu
những suy nghĩ của bản thân mình về vấn đề ấy ( Chú ý cách thức làm dạng bài
nghị luận về một hiện tượng đời sống và nghị luận về một tư tưởng, đạo lí)
* Kết bài:
- Khẳng định ý nghĩa của vấn đề trong việc tạo nên giá trị tác phẩm.
- Từ vấn đề bàn luận rút ra bài học cho bản thân.
Trên đây chỉ là gợi ý cách lập dàn ý một số dạng đề nghị luận xã hội.
Thực tế cho thấy, các em trong đội tuyển học sinh giỏi có khả năng nhận
diện đề và lập dàn ý khá nhanh và tự tin, sáng tạo, có ý thức rõ rệt cần
phải thiết lập hệ thống luận điểm trước khi bắt tay vào viết bài. Nhiều
học sinh có cách giới thiệu vấn đề rõ ràng hấp dẫn, cách khái quát vấn đề
đúng, lắng đọng, có chiều sâu.
3.3. Rèn luyện kỹ năng viết văn
Đây là kỹ năng quan trọng có ý nghĩa quyết định chất lượng một
bài làm văn của học sinh. Bởi lẽ, nhận thức đề đúng, đề xuất luận điểm
hợp lý, có kiến thức phong phú, suy đến cùng mới chỉ là điều kiện ban
đầu. Một bài viết tốt, học sinh phải biết trình bày những hiểu biết, những
rung động, suy nghĩ của mình một cách mạch lạc, sáng sủa, giàu cảm xúc

11


và có sức thuyết phục. Năng khiếu văn chương của học sinh được thể
hiện rõ nhất là ở đây.
Rèn kỹ năng viết văn cho học sinh, tôi thường tiến hành theo hình thức
nâng dần độ khó; đi từ nhỏ tới lơn; từ một ý đến nhiều ý và hoàn thiện.
Viết thành văn một đoạn văn được xác định rõ yêu cầu: viết đoạn văn
mở bài, viết đoạn văn kết bài, triển khai những luận điểm ở phần thân bài
thành các đoạn văn. Đối với đoạn văn mở bài học sinh cần giới thiệu vấn
đề nghị luận rõ ràng hấp dẫn, khuyến khich học sinh viết mở bài gián tiếp.
Những đoạn văn triển khai luận điểm cần chú ý đến các câu chuyển đoạn,
chuyển ý để tạo sự liên kết, lôgic cho bài văn.
Viết thành bài văn hoàn chỉnh ở nhà trên cơ sở dàn ý đã được giáo viên
chữa.Viết thành bài văn hoàn chỉnh trên lớp trong thời gian quy định.
Yêu cầu trước hết đối với học sinh là phải diễn dạt lưu loát rõ ý; chữ viết
sạch sẽ, dễ đọc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, viết câu. Từ đó nâng
dần yêu cầu học sinh phải viết được những đoạn văn hay, có cách dùng từ
chính xác, sáng tạo, mới lạ, có giọng văn riêng, thể hiện được dấu ấn,
phong cách của người viết.
Để đạt được những yêu cầu đó, học sinh phải tham khảo những bài văn
mẫu do giáo viên lựa chọn, định hướng; có thể học tập cách viết của các
bạn của mình (những đoạn, những ý mà giáo viên cho là đúng và hay).
Hình thức này rất có hiệu quả bởi đó là những đoạn văn, bài văn hay do
chính các em viết. Các em rất tự hào khi có được bài văn, đoạn văn hay
mà được thầy cô và bạn mình trân trọng, kích thích hứng thú học tập cho
các em.
4. Chấm và chữa bài
Đối với các em học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi là người dân
tộc thiểu số nói riêng, khi chấm bài giáo viên phải chỉ ra được điểm mạnh,
yếu cơ bản của mỗi bài; theo dõi và động viên kịp thời mức độ tiến bộ
của mỗi học sinh trong từng bài viết. Khi chấm, giáo viên phải chỉ ra các
lỗi cụ thể về dùng từ, viết câu, tổ chức ý… phân tích cho học sinh hiểu
nguyên nhân và định hướng cách chữa để học sinh có thể tự sửa chữa các
lỗi của mình. Và để tạo hứng thú, giáo viên có thể tổ chức hướng dẫn học
sinh đọc và chữa bài cho nhau.
5. Hƣớng dẫn học sinh đọc tài liệu tham khảo:
Song song với việc bồi dưỡng các chuyên đề cho học sinh giỏi thì khâu đọc tài
liệu tham khảo cũng rất quan trọng. Từ việc đọc tài liệu tham khảo các em sẽ có
vốn kiến thức, từ ngữ phong phú, đặc biệt sẽ phát huy được khả năng tự học của
12


các em. Đối với học sinh là người dân tộc thiểu số, các em rất khó khăn về điều
kiện kinh tế. Vì vậy, các em không có nguồn tài liệu phong phú để tham khảo.
Giáo viên cần là người định hướng tài liệu tham khảo cho các em, sưu tầm và cho
các em mượn tài liệu; hướng dẫn các em đọc sao cho có hiệu quả.
IV. THIẾT KẾ GIÁO ÁN
Tôi đã áp dụng những kinh nghiệm trên thông qua bài dạy thực nghiệm bồi
dưỡng học sinh giỏi. Sau đây là một trong số thiết kế giáo án: Luyện đề nghị luận
xã hội.
LUYỆN ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
A.MỤC TIÊU BÀI HỌC:
Giúp học sinh rèn luyện kỹ năng làm đề nghị luận xã hội:
- Kĩ năng phân tích đề.
- Kĩ năng lập dàn ý.
- Kĩ năng dựng đoạn văn.
B.TIẾN TRÌNH BÀI HỌC:
I. Ổn định lớp:
II. Tiến hành luyện đề:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ
HS

NỘI DUNG KIẾN THỨC
I. Đề bài:
Anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600
từ) trình bày suy nghĩ của mình về câu chuyện sau:

GV: Ra đề bài

Diễn giả Lê-ô- Bu-sca-gli-a lần nọ kể về một cuộc
thi mà ông làm giám khảo. Mục đích của cuộc thi là
tìm ra đứa trẻ biết quan tâm nhất. Người thắng cuộc
là một em bé bốn tuổi.Người hàng xóm của em là
một ông lão vừa mất vợ. Nhìn thấy ông khóc, cậu bé
lại gần rồi leo lên ngồi vào lòng ông. Cậu ngồi rất
lâu và chỉ ngồi như thế. Khi mẹ em bé hỏi em đã trò
chuyện những gì với ông ấy, cậu bé trả lời: "Không
có gì đâu ạ. Con chỉ để ông ấy khóc."
(Theo Phép màu nhiệm của đời - NXB Trẻ, 2005)

13


II. Gợi ý làm bài:
GV: Gợi ý HS làm bài câu 1

1. Phân tích đề:
- Vấn đề nghị luận:
Cần xác định rõ nội dung chính và ý nghĩa giáo dục
của câu chuyện là: người thực sự biết quan tâm đến
người khác là người dùng cả tấm lòng chân thành
của mình để đồng cảm với cảnh ngộ của họ. Và khi
đó, dù chỉ là những hành động nhỏ bé nhưng chân
thành cũng trở thành sự sẻ chia, an ủi lớn lao nhất.

GV: hướng dẫn học sinh
phân tích đề bài ( vấn đề nghị - Thao tác lập luận:
luận, thao tác lập luận,TL dẫn Cần phối hợp hài hoà các thao tác lập luận như: giải
chứng )
thích, bình luận, chứng minh, đồng thời phải trình
bày được những suy nghĩ, cảm xúc cá nhân về câu
chuyện niềm đồng cảm, sự sẻ chia với những người
xung quanh.
- TL dẫn chứng: chủ yếu trong cuộc sống
2. Gợi ý dàn bài:
* Mở bài:
GV: hướng dẫn học sinh lập
- Giới thiệu ngắn gọn về câu chuyện: Em bé đạt giải
dàn ý
trong cuộc thi vì em là người biết quan tâm, chia sẻ
nỗi đau với người khác. Người được chia sẻ không đòi
HS: Lập dàn ý trên cơ sở hỏi gì, chỉ cần một chỗ dựa trong lúc đau đớn cũng là
quá đủ. Cách em bé quan tâm đến người khác cũng
hướng dẫn của giáo viên.
rất "trẻ con": ngồi vào lòng người hàng xóm. Thế
nhưng đó là cách chia sẻ hiệu quả nhất ngay trong
GV: H/dẫn HS cách MB.
tình huống ấy.
-Giới thiệu vấn đề được đưa ra bàn bạc qua câu
chuyện: để quan tâm, sẻ chia với mọi người cần niềm
cảm thông sâu sắc. Và sự quan tâm chân thành làm
cho con người và cuộc sống tươi đẹp, giàu ý nghĩa
hơn.
* Thân bài:
a) Giải thích nội dung, bài học giáo dục trong
chuyện:

14


H: TB cần trình bày những
luận điểm nào?

( Chú ý các luận điểm xoay quanh
những câu hỏi như: sự quan tâm là

- Cậu bé là người biết quan tâm tới người khác nhất
bởi vì cậu đã dùng cả tấm lòngđồng cảm chân thành
để sẻ chia nỗi đau mất mát với ông cụ.
- Sự quan tâm: là đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh của
người khác để thấu hiểu họ một cách chân thành tự
đáy lòng. Đó là sự sẻ chia có ý nghĩa và đáng trân
trọng nhất.
b) Bàn luận về câu chuyện:

- Cuộc sống hiện đại càng cần tới sự quan tâm, sẻ
chia chân thành bởi vì trong cuộc sống đôi khi con
quan tâm chân thành thì sẽ như thế người gặp phải những mất mát, đau thương, cần có
một mối đồng cảm từ những người xung quanh.
nào? ...)
gì? Cuộc sống nếu thiếu đi lòng

- Biết quan tâm, sẻ chia với người khác là một hành
động đẹp. Nhưng cách thể hiện sự quan tâm đó như
thế nào còn tuỳ thuộc ở mỗi người.
GV: hướng dẫn học sinh xác
định luận điểm và sắp xếp
luận điểm theo trình tự lôgic.

- Cuộc sống nếu thiếu đi lòng quan tâm chân thành
thì sẽ như thế nào? Cuộc sống sẽ trở nên vô vị,
thiếu tình người. Xã hội loài người nếu thiếu đi
niềm đồng cảm, sẻ chia sẽ chỉ là phép cộng đơn
thuần những con người sống vì bản thân thật ích kỷ,
vô cảm.
- Phân biệt sự quan tâm xuất phát từ tình cảm chân
thành với sự quan tâm giả dối mang tính chất vụ lợi.
- Từ đó, phê phán thái độ sống thờ ơ, lạnh lùng, vô
cảm với nỗi đau của người khác.

H: Nhiệm vụ của phần KB ?

c) Ý kiến, trải nghiệm của bản thân về sự quan tâm
đã để lại ấn tượng sâu sắc trong cuộc sống
* Kết bài:
- Khẳng định ý nghĩa quan trọng nhất của câu
chuyện về lòng quan tâm chân thành trong cuộc
sống.
- Rút ra bài học.

GV: yêu cầu học sinh viết
đoạn văn triển khai:

III. Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn:
Đoạn văn kết bài tham khảo:

15


- Đoạn mở bài.
- Đoạn kết bài
- Một trong những luận điểm
của phần thân bài
HS: Hoạt động độc lập, trình
bày đoạn văn.
GV: nhận xét, đọc đoạn văn
tham khảo.

Trong cuộc sống, sự quan tâm chân thành có ý
nghĩa rất quan trọng. Bài học vô cùng quý giá mà ta
học được từ những điều hết sức bất ngờ. Những em
bé đôi khi cũng có những việc làm mà mọi người
phải suy ngẫm. Thấu hiểu và chia sẻ với nỗi đau của
người khác là mình đã làm được một việc ý nghĩa.
Biết sống đẹp sẽ nhận được cái đẹp từ cuộc sống.
Quan tâm chính là trao đi yêu thương và nhận lại
yêu thương.

C. Cñng cè- dÆn dß :
- Lưu ý cách làm dạng bài NLXH.
- Viết thành bài viết hoàn chỉnh trên cơ sở dàn ý đã lập.
D. RóT KINH NGHIÖM GIê D¹Y:

16


V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
T«i ®· ¸p dông kinh nghiệm nµy trong hai năm học ( năm học 2012-2013,
2013-2014 ) tại trường trung học phổ thông số 1 Bát Xát cho học sinh giỏi (trong
đó có học sinh là người dân tộc thiểu số) và ®¹t ®-îc nh÷ng kÕt qu¶ kh¸ kh¶ quan.
Kết quả cụ thể như sau:
Trƣớc khi áp dụng
kinh nghiệm

Sau khi áp dụng kinh nghiệm

đạt 1 giải
Năm học khuyến
2011-2012 khích
cấp tỉnh

Năm học đạt 2 giải khuyến khích cấp tỉnh
2012-2013 ( trong đó có 01 HS là người dân tộc Tày )
Năm học đạt 02 giải cấp tỉnh
2013-2014 Cụ thể: 1 giải ba (HS là người dân tộc Dao)
và 1 giải khuyến khích.

So với những giáo viên dạy học ở các trường trong tỉnh, kết quả như trên thật
khiêm tốn. Song, đây cũng là thành công bước đầu của cá nhân tôi trong quá trình
bồi dưỡng đề nghị luận xã hội cho học sinh giỏi (trong đó có học sinh là người dân
tộc thiểu số). Với những kinh nghiệm trên, tôi nhận thấy học sinh rất hào hứng và
yêu thích bộ môn hơn trong quá trình bồi dưỡng.

17


KẾT LUẬN
Dạy học là một nghệ thuật. Người giáo viên khi đã chọn nghề dạy học là phải
có tâm yêu nghề, đặc biệt là mục tiêu hướng tới và là niềm hạnh phúc nhất trong
cuộc đời của người thầy là đào tạo bồi dưỡng được thật nhiều học trò giỏi. Tuy
nhiên để có được kết quả thành công tốt đẹp thì mỗi người giáo viên chúng ta phải
luôn tìm tòi, sáng tạo, trăn trở và nổ lực không ngừng với nhiều cách thức và
phương pháp tối ưu nhất để giảng dạy, bồi dưỡng cho các em.
Thực tế giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi trong mấy năm qua
giúp tôi nhận ra rằng, "thiên bẩm" hết sức quan trọng. Song trên thực tế,
không có một tài năng thiên bẩm nào tự nó có thể đi đến thành công, nhất
là đối với những em học sinh là người dân tộc thiểu số thiếu thốn về
nhiều mặt. Bởi thế, vai trò người thầy là hết sức quan trọng. Phương pháp
giảng dạy thì phong phú, kiến thức thì mênh mông rộng lớn vô cùng, nhất là kiến
thức gắn với yêu cầu đề thi của học sinh giỏi. Trong giới hạn của chuyên đề này,
người viết chỉ khiêm tốn đưa ra một vài suy nghĩ về kinh nghiệm rèn kĩ năng dạng
đề nghị luận xã hội cho học sinh giỏi người dân tộc thiểu số có hiệu quả. Đó là
những điều mà người viết suy tư, cọ xát và trải nghiệm qua thực tế giảng dạy. Vì
vậy, muốn có học sinh giỏi, trước hết người thầy phải luôn có ý thức tích
luỹ tri thức và kinh nghiệm giảng dạy một cách nghiêm túc.
Trên đây là một số kinh nghiệm rèn kĩ năng làm dạng đề nghị luận xã
hội học sinh giỏi người dân tộc thiểu số mà tôi đúc rút từ thực tế giảng
dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi. Có thể những điều này không còn mới
mẻ với những đồng nghiệp có bề dày kinh nghiệm, nhưng với tôi, đó là
những điều tôi tâm đắc và bước đầu đã có được những thành công. Rất
mong nhận được sự đóng góp chân thành của các đồng nghiệp để tôi có
thể tiếp tục làm tốt công việc này trong những năm tiếp theo.
Ngƣời thực hiện
Đinh Thị Minh Hương

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.

Bí quyết giỏi văn, NXB Giáo dục, năm 2002.
Tuyển tập 10 năm đề thi Ôlympic 30 tháng 4 môn văn, NXB Giáo dục, năm
2006.
Thực hành Làm văn lớp 12, NXB Giáo dục, năm 2009
Các dạng đề và bài làm văn chọn lọc Ngữ văn 12, nxb Giáo dục, năm 2009
Những bài văn đạt giải quốc gia, NXB Giáo dục.
Các dạng đề và hướng dẫn làm bài nghị luận xã hội môn Ngữ văn 10,11,12
NXB Giáo dục, năm 2010.
Tham khảo một số đề thi học sinh giỏi trong tỉnh, ngoài tỉnh.
Tham khảo các tư liệu trên mạng Internet.

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×