Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm bồi DƯỠNG học SINH GIỎI sử lớp 12

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"BỒI DƢỠNG HỌC SINH GIỎI SỬ LỚP 12"

1


A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lịch sử là một môn khoa học xã hội, lịch sử là những sự kiện, hiện tượng đã xảy ra trong
quá khứ xã hội của loài người, nó tồn tại độc lập, khách quan với ý muốn của con người.
Chính vì vậy mà trong lý luận cũng như trong thực tiễn, bộ môn lịch sử giữ vai trò quan
trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ. Học lịch sử không chỉ giúp chúng ta có cái nhìn
toàn diện hơn về quá khứ mà còn để hiểu hiện tại và tiên đoán trong tương lai. Vì vậy từ
những hiểu biết về lịch sử con người có thể vững vàng bước vào tương lai.
Thế nhưng một thực tế đáng buồn là hiện nay thế hệ trẻ lại khá thờ ơ đối với môn lịch sử
vì rất nhiều lí do như: Lịch sử chỉ là những sự kiện, con số khô khan, rất khó hình dung
và ở đâu đó trong xã hội vẫn coi sử là môn phụ. Chính vì vậy mà thế hệ trẻ, nhất là học
sinh phổ thông ít chịu học sử, hiểu biết ít về lịch sử dân tộc. Điều này cũng thể hiện rõ
trong các kì thi khảo sát, kiểm tra định kì, thi tốt nghiệp.. Đặc biệt là trong kì thi học sinh

giỏi chất lượng học tập của học sinh còn thấp. Nguyên nhân của hiện trạng này có nhiều,
ngoài yếu tố vừa nêu trên còn có lí do không nhỏ xuất phát từ phía những ngưòi trực tiếp
làm công tác giảng dạy, ôn luyện và bồi dưỡng học sinh giỏi.
Là một giáo viên sử đứng lớp giảng dạy hơn 10 năm và đã từng tham gia bồi dưỡng học
sinh giỏi trong 5 năm. Tôi nhận thấy thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi những

2


năm qua còn nhiều bất cập, nên chất lượng giải chưa cao. Làm thế nào để đạt kết quả cao
trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, đó cũng là điều băn khoăn trăn trở không chỉ
riêng tôi mà đây cũng là nổi niềm chung của tất cả giáo viên khi tham gia bồi dưỡng học
sinh giỏi. Nên việc chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử là việc làm thiết thực và
quan trọng. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay đất nước đang đứng trước xu thế hội nhập,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, rất cần những người có tri thức, những người tài
giỏi để xây dựng nước nhà. Bằng sự nổ lực của bản thân, qua trao đổi, học hỏi đồng
nghiệp, bạn bè cùng chuyên môn. Cùng với thực tiễn trải nghiệm trong công tác giảng
dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12. Tôi chọn Sáng kiến kinh nghiệm “Kinh nghiệm
bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 ở Trung tâm GDTX&DN Lang Chánh”
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Góp phần nâng cao chất lượng học sinh đại trà nói chung và chất lượng học sinh
giỏi của nhà trường nói riêng.
III. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng: Học sinh khối 12 ở Trung tâm GDTX &DN Lang Chánh.
2. Phạm vi nghiên cứu: Lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới thuộc chương trình lịch sử
lớp 12. (theo khung chưong trình thực dạy và quy định hướng dẫn của SGD& ĐT Thanh
Hoá)

3


3. Thời gian: Từ năm học 2004-2005 trở lại đây.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Dạy học lịch sử là quá trình giáo viên cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ
bản về lịch sử nhằm phục vụ cho việc giáo dục, giáo dưỡng và phát triển tư duy học sinh
qua môn học. Chính vì vậy mà trong quá trình giảng dạy, ôn tập, đặc biệt là công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng. Đòi hỏi người giáo viên phải có lòng
yêu nghề, quyết tâm cao, có sự chuẩn bị và đầu tư nhiều thời gian, nhiều công sức hơn
tiết dạy bình thường trên lớp, thậm chí phải có quá trình tích luỹ kinh nghiệm qua thời

gian mới có thể thuyết phục học sinh, làm cho các em thực sự tin tưởng và hứng thú say
mê học tập, từ đó đưa đến kết quả cao trong quá trình học tập, ôn luyện. Đây cũng chính
là cơ sở để tôi đưa ra những suy nghĩ của mình với mong muốn góp phần nâng cao kinh
nghiệm, hợp tác lẫn nhau để có kết quả tốt nhất.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1. Thực trạng chung
Trung tâm GDTX& DN Lang Chánh được thành lập vào ngày 9 tháng 11 năm
2000 ( tiền thân là trường Văn hóa tập trung và Bổ túc văn hóa ). Diện tích của trường
hơn 5000m vuông với khuôn viên rộng rãi và thoáng mát bởi hàng cây xanh. Khi mới

4


thành lập cơ sở vật chất và trường lớp còn hết sức khó khăn, phòng học và thiết bị dạy
học còn thiếu thốn rất nhiều. Đội ngũ giáo viên chưa đầy đủ và đồng đều ở các bộ môn (
Môn vật lý, môn toán phải thuê giáo viên cấp 3 dạy). Nhưng từ năm học 2008 - 2009 đến
nay, trường đã được tỉnh và huyện quan tâm, đầu tư xây dựng nhiều dãy nhà học, nhà
nghề cao tầng rất khang trang, đội ngũ giáo viên cũng được chuẩn hóa và đầy đủ ở các bộ
môn.
Tuy nhiên vấn đề còn tồn tại nhiều năm ở Trung tâm đó là chất lượng học tập của các em
còn thấp. Làm thế nào để nâng cao chất lượng giảng dạy, đặc biệt là đối với công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi, đây là một vấn đề không mới đối với học sinh ở các trường THPT vì
các em đã được cọ sát nhiều qua thực tế ôn luyện. Nhưng vấn đề này lại mới mẽ đối với
học sinh ở Trung tâm GDTX& DN Lang Chánh khi lần đầu các em tiếp cận. Vậy thực
trạng của vấn đề này xuất phát từ 2 phía giáo viên và học sinh.
a.

Thực trạng đối với giáo viên

Trung tâm GDTX &DN Lang chánh trong những năm gần đây về cơ sở vật chất, trang
thiết bị đã được nâng cấp rất nhiều. Mặc dù được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao và tạo điều
kiện tốt nhất của Ban giám đốc trung tâm, nhưng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở các
bộ môn nói chung và môn lịch sử nói riêng trong những năm đầu còn hạn chế. Bởi vấn đề
thực tế còn tồn đọng là giáo viên chỉ chú trọng đến cách dạy học truyền thống thầy đọc

5


trò chép mà ít chú ý đến việc sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm
trung tâm, nên các em mới dừng lại ở việc nắm bắt được kiến thức cơ bản, chưa kích
thích được sự say mê nghiên cứu tìm tòi và khả năng tư duy hay chuyên sâu một vấn đề
nào đó ở các em. Chính điều này đã làm cho giờ học ôn lịch sử trở nên nặng nề áp đặt đối
với cả thầy và trò.
b.

Thực trạng đối với học sinh

Học sinh ở Trung tâm GDTX& DN phần lớn các em là con em đồng bào dân tộc thiểu số,
người dân tộc Thái, Mường là chủ yếu, nên khả năng tiếp thu bài cũng như sự tìm tòi, tư
duy sáng tạo còn chậm chạp. Điều kiện kinh tế gia đình còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu
các em thuộc gia đình hộ nghèo theo chính sách 30a của Chính phủ. Hơn nữa đối với
môn lịch sử, học sinh lại chưa nhiệt tình với môn học, xem đó là môn phụ nên các em
cũng không thực sự mặn mà với việc ôn luyện học sinh giỏi. Chính vì vậy mà từ năm học
2000 đến 2004 nhà trường chưa có một giải tỉnh học sinh giỏi sử nào. Vì vậy việc chú
trọng đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đang được đặt ra một cách bức thiết
2. Nguyên nhân của thực trạng
a) Chủ quan:
Trình độ học sinh không đồng đều, chất lượng đầu vào còn thấp, phần lớn là những em
không thi hoặc thi không đậu vào cấp 3.

6


Tài liệu tham khảo còn ít, kênh hình minh häa còn hạn chế, tản mạn, hầu hết là giáo
viên tự mua.
Phần lớn phụ huynh, học sinh coi lịch sử là môn phụ, không có tính hướng nghiệp cao
nên chưa nhiệt tình với môn học, hầu hết các em được chọn vào lớp bồi dưỡng học sinh
giỏi sử chưa nhiệt tình, thoái mái mà mang tính gượng ép, bắt buộc.
Do đội ngũ giáo viên trẻ mới ra trường, tuy có lòng nhiệt huyết, yêu nghề nhưng kinh
nghiệm va vấp thực tế ôn luyện chưa nhiều.
b) Khách quan:. Trường ở địa bàn miền núi xa xôi, việc đi lại gặp nhiều khó khăn, hơn
nửa nhiều phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình.
III. CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH
Biết rằng mỗi giáo viên dạy sử đều có phương pháp dạy học và bồi dưỡng học sinh
giỏi khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là đem lại kết quả cao nhất. Chính vì vậy trong
khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này này tôi mạnh dạn đưa ra một số vấn đề mà tôi đúc
rút ra ®-îc qua thực tiễn giảng dạy, đặc biệt là công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12.
1. Lập khung chương trình và Đề cương ôn thi.
a) Khung chương trình.

7


Để ôn thi học sinh giỏi đạt kết quả, trước tiên giáo viên tham gia bồi dưỡng đội tuyển
phải xác định được yếu tố quan trọng đầu tiên trong quá trình ôn luyện là phải lập được
khung chương trình ôn thi dựa trên khung chương trình chung của Sở GD&ĐT Thanh
Hóa, dựa vào cấu trúc đề thi học sinh giỏi THPT năm học 2012 - 2013 và các đề thi học
sinh giỏi tỉnh Thanh Hóa những năm trước đây.
Trong chương trình lịch sử 12 được chia làm hai phần: Lịch sử Việt Nam( 1919 2000) và lịch sử Thế giới hiện đại (1945 - 2000)
VD: Đối với phần lịch sử Việt Nam (1919 - 2000) Giáo viên phải cho học sinh nắm
được kiến thức lịch sử Việt Nam phát triển qua các thời kì chủ yếu với nội dung chính
sau:
* Từ 1919 đến 1930:
+ Công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp làm cho kinh tế, xã
hội Việt Nam có sự chuyển biến mới.
+ Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc và vai trò của Người đối với việc chuẩn bị về
chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng của giai cấp vô sản ở Việt Nam.
+ Phong trào cách mạng trong những năm trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra
đời.
+ Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ( 3/ 2/1930)
8


* Từ 1930 đến 1945
+ Đây là thời kì cách mạng Việt Nam có sự lãnh đạo của Đảng, và sau 30 năm hoạt
động ở nước ngoài ngày 28/1/1941 NAQ trực tiếp về nước lãnh đạo cách mạng và chủ trì
Hội nghị Trung ương đảng lần thứ VIII ( 5/1941) làm nên thắng lợi của cách mạng tháng
tám đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
+ Thắng lợi của cách mạng tháng tám là kết quả của 3 cuộc tổng diễn tập: phong
trào cách mạng (1930 -1931) đỉnh cao Xô Viết Nghệ Tĩnh, cao trào dân chủ (1936 1939) và cuộc vận động cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945.
* Từ 1945 đến 1954
`

+ Sau cách mạng tháng tám, nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã

đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Dướ sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Hồ
Chí Minh, nhân dân ta vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, xây dựng chính quyền cách
mạng, giải quyết khó khăn ban đầu.
+ Trước âm mưu của thực dân Pháp muốn cướp nước ta một lần nữa, từ 19/12/946,
cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, giành được nhiều thắng lợi ngày càng to lớn như:
Chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947), Biên giới( thu đông 1950), cuộc tiến công Đông
Xuân (1953 - 1954) mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ buộc Pháp phải kí Hiệp
định Gionevo chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình.

9


* Từ 1954 đến 1975
+ Từ sau Hiệp định Gionevo, Đảng ta đã đề ra đường lối tiến hành đồng thời cách
mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam nhằm
thực hiện mục tiêu chung là chống Mĩ cứu nước và đạt được nhiều thành tựu to lớn.
- Miền Nam: Lần lượt đánh bại 4 chiến lược chiến tranh của Mĩ: “ Chiến tranh đơn
phương” (1954 - 1960), “Chiến tranh đặc biệt” (1961 -1965), “Chiến tranh cục bộ” (
1965 - 1968), “ Việt Nam hóa chiến tranh” (1968 - 1973). Thắng lợi đó đã giải phóng
hoàn toàn miền Nam, kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 30 năm.
- Miền Bắc: Khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa, đi lên chủ nghĩa xã hội và
làm nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Từ khi Mĩ gây chiến
tranh phá hoại miền Bắc, nhân dân đã chiến đấu và đánh bại hai cuộc chiến tranh phá
hoại bằng không quân và hải quân, tiêu biểu là trận “Điện Biên Phủ trên không”.
* Từ 1975 đến 2000
+ Sau đại thắng mùa xuân 1975, nước ta nhanh chóng hoàn thành thống nhất về
mặt nhà nước, đưa cả nước đi lên CNXH.
+ Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng từ 1986 đến nay đã làm thay đổi sâu
sắc bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và nâng cao
vị thế nước ta trên trường quốc tế.
10


Tương tự những phần còn lại của lịch sử thế giới chúng ta cũng hệ thống hóa kiến
thức như vậy sẽ tạo điều kiện cho các em nắm được cái sườn của khung chương trình ôn
thi
b) Xây dựng đề cương ôn thi .
Xây dựng được đề cương ôn thi là khâu rất quan trọng trong quá trình bồi dưỡng học sinh
giỏi. Đây là công việc rất khó khăn đối với mỗi giáo viên khi tham gia ôn luyện. Cùng
một lượng kiến thức nhưng giáo viên phải xác định được kiến thức nào là trọng tâm nhất
để học sinh dể hiểu, dể nhớ và phát triển được kĩ năng tư duy, so sánh và nhận định vấn
đề.
Trong khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm tôi không thể lập đề cương ôn thi đầy đủ
cho tất cả các tiết trong chương trình lịch sử 12 mà chỉ nêu đơn cử một vài ví dụ.
VD: Chẳng hạn đối với phần lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới giáo viên có thể cho
học sinh xây dựng đề cương theo từng chủ đề, giúp học sinh nắm vững nội dung kiến
thức cơ bản và bao quát được nhiều vấn đề về kiến thức nâng cao.
Chủ đề
Liên



1945 - 1991

Kiến thức cơ bản

Kiến thức nâng cao

từ Giúp HS nắm được kiến - Từ thành tựu xây dựng
thức cơ bản sau:

CNXH , giúp HS rút ra

11


- Hoàn cảnh và thành tựu được ý nghĩa của thành tựu
đạt được của LX trong và vai trò của LX đối với
công

cuộc

xây

dựng sự nghiệp đấu tranh vì hòa

CNXH từ 1945 đến 1970

bình, tiến bộ thế giới.

- Từ 1970 Liên Xô lâm vào - Tìm hiểu vì sao CNXH ở
khủng hoảng và sự sụp đổ Liên Xô lại sụp đổ. Trên cơ
của CNXH

sở đó liên hệ với công cuộc
cải cách ở Trung Quốc(
12/1978) và đổi mới đất
nước ở VN (1986)

Liên
Quốc

Hợp - Hoàn cảnh thành lập, mục -Vẽ sơ đồ tổ chức Liên
đích, nguyên tắc và vai trò Hợp Quốc
của tổ chức Liên Hợp - Mối quan hệ Việt Nam Quốc

LHQ,

những

tổ

chức

chuyên môn của LHQ đang
hoạt động ở VN
- Lấy ví dụ cụ thể về vai

12


trò của LHQ làm được cho
các nước trên thế giới.

Nhật Bản

- Giúp HS nắm được kiến - Rút ra được nguyên nhân
thức quan trọng trong bài quan trọng nhất trong phát
là về vấn đề phát triển kinh triển kinh tế ở Nhật
tế “thần kì” ở Nhật Bản từ - Bài học thành công của
1952 đến 1973

Nhật trong phát triển kinh

- Nguyên nhân của sự phát tế, Việt Nam học tập được
triển đó
Trung Quốc

gì.

- Sự ra đời của nước Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa
và ý nghĩa.
- Công cuộc cải cách mở
cửa của TQ ( T12/1978) do
Đặng
xướng

Tiểu

Bình

khởi

Từ công cuộc cải cách ở
Trung Quốc, liên hệ thực tế

13


với Việt Nam.
Cuộc

cách - Nguồn gốc, đặc điểm, - Thời cơ, thách thức của

mạng

khoa thành tựu của cuộc cách Việt Nam trước sự phát

học công nghệ mạng khoa học công nghệ.

triển của cách mạng khoa

ở nửa sau thế - Tác động tích cực, tiêu học công nghệ.
kỉ XX

cực của cuộc cách mạng - Vị trí, ý nghĩa của cách
khoa học công nghệ.

Tình

mạng khoa học công nghệ.

hình - Cuộc khai thác thuộc địa - So sánh với cuộc khai

kinh tế và xã lần thứ hai của Pháp ở thác thuộc địa lần thứ nhất(
hội nước ta từ Đông Dương ( Nguyên 1897 - 1914) : về hoàn
sau

chiến nhân, nội dung, tác động cảnh, mục đích, nội dung,

tranh thế giới của cuộc khai thác).

tác động

thứ nhất đến - Ảnh hưởng của cuộc khai
đầu năm 1930 thác đối với sự phân hóa xã
- Làm rõ thái độ chính trị
(1919 -1930)

hội Việt Nam làm xuất và khả năng cách mạng của
hiện các giai cấp:

các giai cấp

14


+ Địa chủ phong kiến
+Công nhân
+ Nông dân
+ Tư sản
+ Tiểu tư sản

Vai trò của - Nêu khái quát quá trình - Từ quá trình tìm đường
Nguyễn

Ái tìm đường cứu nước từ cứu nước của Nguyễn Ái

Quốc đối với 1911 đến 1917

Quốc giúp HS so sánh với

sự ra đời của - Hoạt động chính của con đường cứu nước của
Đảng

cộng Nguyễn Ái Quốc từ 1919 lớp người đi trước như :

sản Việt Nam đến đầu 1930:

Phan Bội Châu, Phan Châu

( 3/2/1930)

Trinh.

+ Thời kì ở Pháp ( 1920 1923)
+ Thời kì ở Liên Xô (1923
- 1924)

- Những hoạt động của
NAQ đã chuẩn bị về chính
trị, tư tưởng và tổ chức cho
việc thành lập Đảng

15


+ Thời kì ở Trung Quốc ( - Xác định được công lao
1924 - 1927)

to lớn của NAQ từ 1919 -

+ Thời kì ở Xiêm ( Thái 1930:
Lan) (1928 - 1929)

+ Đến với CN Mác Lê Nin,

- Sáng lập ra Đảng cộng tìm ra con đường cứu nước
sản Việt Nam

đúng đắn: con đường cách
mạng vô sản.
+ Thành lập Đảng cộng sản
Việt Nam.

Đảng

Cộng - Nêu hoàn cảnh, nội dung - Từ nội dung Cương lĩnh

sản Việt Nam hội nghị thành lập Đảng và thấy được tính đúng đắn,
ra đời

nội dung cương lĩnh do sáng tạo của Cương lĩnh.
NAQ soạn thảo.

- Rút ra vai trò của Nguyễn

- Ý nghĩa của việc thành Ái Quốc trong Hội nghị
lập Đảng

thành lập Đảng
- Làm rõ vì sao Đảng ra

16


đời là một bước ngoặt lịch
sử vĩ đại của cách mạng
Việt Nam.

2. Lên kế hoạch ôn thi
Ngay từ khi được phân công làm công tác bồi duỡng học sinh giỏi, thời gian không
phải là nhiều khoảng 3 tháng ngắn ngủi. Làm sao để các em có thể phát huy hết năng lực
của mình để đạt kết quả tốt nhất ? Đây cũng là nổi trăn trở trong tôi và tôi đã đúc rút được
kinh nghiệm đầu tiên cho mình đó là cần phải lập ra kế hoạch cụ thể trong quá trình bồi
dưỡng học sinh giỏi.
Trước tiên giáo viên cần cung cấp kiến thức cơ bản cho học sinh nắm được, bởi kiến thức
cơ bản là cái gốc cần thiết tối thiểu cho học sinh trước khi muốn học và nghiên cứu
những kiến thức có bề rộng và chiều sâu. Ngoài ra giáo viên cần rèn luyện cho học sinh
kĩ năng tự học, tự nghiên cứu vấn đề. Vì thời lượng bồi dưỡng rất hạn chế, nên giáo viên
bồi dưõng không thể làm thay học sinh được tất cả mọi việc, nên phần ôn tập kiến thức
cơ bản yêu cầu học sinh tự ôn tập, làm việc ở nhà đòi hỏi giáo viên phải kiểm tra một
cách chặt chẽ, thường xuyên xem ý thức học tập của các em đã tốt chưa ? đã thực hiện và
nắm rõ các yêu cầu về kiến thức mà giáo viên truyền tải chưa ? Nếu học sinh chưa thực
17


hiện đầy đủ, còn có những lỗ hổng kiến thức thì giáo viên phải đôn đốc, nhắc nhở và có
biện pháp để học sinh tự làm việc, tự nghiên cứu vấn đề. Tôi thiết nghĩ nếu giáo viên thực
hiện được các yêu cầu trên sẽ kích thích được khả năng tư duy, làm việc độc lập của học
sinh, giúp các em có thể tự đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong quá trình ôn luyện. Theo
tôi đây là một kinh nghiệm hết sức bổ ích, một định hướng ban đầu để các em xác định
được động cơ và mục đích học tập của mình, để đem lại kết quả trong quá trình ôn luyện
và bồi dưỡng học sinh giỏi.
3. Giáo viên đưa ra các dạng câu hỏi trong quá trình ôn tập, để học sinh biết cách vận
dụng kiến thức vào dạng đề cụ thể.
Như chúng ta biết học sử không phải là học thuộc lòng từng câu, từng chữ, mà điều
quan trọng là chúng ta phải học hiểu vấn đề, nắm bắt chắc vấn đề lịch sử thì khi làm bài
sẽ đạt kết quả cao. Là một giáo viên dạy sử, tôi thiết nghĩ để công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi đạt kết quả cao, đòi hỏi người dạy phải tăng cường khả năng thực hành cho học sinh
bằng cách trả lời trực tiếp hoặc làm bài, đưa ra nhiều dạng câu hỏi, đề thi để học sinh làm
quen và biết cách vận dụng kiến thức đó vào đề thi cụ thể.
Đối với dạng đề thi xác định tính kế thừa giữa các sự kiện, giai đoạn, thời kì lịch sử. Đây
là dạng đề mà trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi hay gặp phải. Khi gặp phải dạng đề
thi này, thí sinh phải nắm vững một vấn đề có tính quy luật trong sự phát triển lịch sử và

18


sự tiếp nối lôgíc giữa quá khứ - hiện tại - tương lai. Sự kiện xảy ra trước tác động đến sự
ra đời và phát triển của sự kiện sau, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, song không phải
là sự lặp lại nguyên si, máy móc, mà có sự phát triển sáng tạo đi lên.
Về cơ bản đối với dạng đề này đòi hỏi học sinh phải có sự sáng tạo trong suy nghĩ, và
được nâng cao lên về mặt khái quát - lí luận.
VD: Quá trình bày những sự kiện chủ yếu trong phong trào cách mạng 1930 - 1931, cuộc
vận động dân chủ 1936 - 1939 và cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945, nêu rõ
các cuộc đấu tranh này dẫn tới thắng lợi của cách mạng tháng 8/1945.
Yêu cầu của đề thi không đòi hỏi thí sinh phải trình bày diễn biến cụ thể của mỗi phong
trào cách mạng, mà điều quan trọng là trong mỗi phong trào cách mạng, những sự kiện
này trở thành bài học, kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh sau và góp phần tích cực vào
thắng lợi của cách mạng tháng Tám.
Đối với dạng đề này, học sinh cần phải đi sâu vào những vấn đề sau:
- Thứ nhất: Phải tìm hiểu bối cảnh lịch sử diễn ra ở mỗi phong trào cách mạng
+ Phong trào 1930 -1931 nổ ra trong khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác
động nặng nề đến nền kinh tế Đông Dương.
+ Cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939 diễn ra khi chủ nghĩa phát xít ra đời, lên
cầm quyền ở Đức, Ý, Nhật.
19


+ Cao trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945 diễn ra trong điều kiện chiến tranh thế
giới thứ hai.
- Thứ hai: Tìm hiểu về chủ trương, đường lối của Đảng trong mỗi phong trào cách
mạng. Yêu cầu học sinh phải nêu được những ý sau:
+ Trong phong trào 1930 - 1931, Đảng Cộng sản Việt Nam mới thành lập đã đảm
nhận việc tổ chức và lãnh đạo những cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân và các tầng
lớp nhân dân lao động khác.
+ Trong cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939, Đảng nhận định kẻ thù cụ thể, trước
mắt của nhân dân Đông Dương không phải là thực dân Pháp nói chung mà là bọn phản
động và tay sai và thành lập Măt trận nhân dân phản đế Đông Dương (T3/1938 đổi thành
Mặt trận Dân chủ Đông Dương).
+ Trong cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945, Hội nghị Trung ương
Đảng lầ thứ 8 chủ trương chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược cách mạng, giương cao
ngọn cờ giải phóng dân tộc, tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất, chuẩn bị lực lượng
tiến tới cách mạng thắng lợi.
- Thứ 3: Nêu lên kết quả đấu tranh:

20


+ Trong phong trào cách mạng 1930 - 1931, phong trào đấu tranh của công nhân, nông
dân nổ ra ở nhiều địa phương trong nước, phong trào phát triển cao nhất ở Nghệ Tĩnh với
việc thành lập chính quyền Xô Viết.
+ Trong cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939, đấu tranh đòi tự do dân chủ( có thể nêu 1
vài sự kiện để chứng minh điều đó).
+ Trong cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945, Mặt trận Việt Minh và Hội cứu
quốc được thành lập, phát triển tạo nên lực lượng chính trị của quần chúng, xây dựng lực
lượng vũ trang, và phát động cao trào kháng Nhật tiến tới Tổng khởi nghĩa T8/1945.
Đối với dạng đề đánh giá sự kiện lịch sử và dạng đề so sánh lịch sử. Đây là dạng đề thi
nâng cao kiến thức tổng hợp của học sinh. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh làm
quen với dạng đề thi này vì trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, dạng đề thi này
thường được sử dụng để thi. Vì nó đòi hỏi học sinh ngoài việc nắm kiến thức cơ bản ra
cần phải hiểu vấn đề mới có thể giải quyết được.
Chẳng hạn khi giáo viên cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về Hội nghị thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam 3/2/1930 và Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương
T10/1930. Giáo viên có thể cho học sinh giải quyết đề thi so sánh ở đây như:
Lập Bảng so sánh Cương lĩnh chính trị ( T2/1930) của Nguyễn Ái Quốc với Luận cương
chính trị của Trần Phú (T10/1930) theo các tiêu chí sau:

21


Nội dung so sánh

Cƣơng lĩnh chính trị Luận cƣơng chính
(T2/1930)

Tính

chất

trị ( T10/1930)

cách Làm tư sản dân quyền và Làm cách mạng tư

mạng

thổ địa cách mạng để đi sản dân quyền, không
tới xã hội cộng sản

qua TBCN và tiến
thẳng lên chủ nghĩa
xã hội.

Nhiệm

vụ

cách Chống đế quốc, phong Đánh đổ phong kiến,

mạng

kiến

đánh đổ đế quốc

Vai trò lãnh đạo Giai cấp công nhân thông Đảng Cộng sản Đông
cách mạng

qua đội tiên phong là Dương
Đảng CSVN

Vị trí cách mạng

Là 1 bộ phận của cách Quan hệ mật thiết với
mạng thế giới

Lực

lượng

cách mạng thế giới

cách Công nhân, nông dân là Công - nông

22


mạng

động lực, là gốc của cách
mạng. Cần liên minh với
trí thức, tiểu tư sản, trung
tiểu địa chủ

Hoặc khi giải quyết dạng đề thi đánh giá sự kiện lịch sử. Bên cạnh việc giảng cho
học sinh hiểu vấn đề, giáo viên cần đưa ra ví dụ cụ thể để học sinh được thực hành và
nắm vững kiến thức hơn. Vì vậy khi gặp dạng đề này ở bất cứ phần nào của lịch sử Việt
Nam và lịch sử thế giới học sinh cũng biết vận dụng và giải quyết dễ dàng.
VD: Trong giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1954- 1975. Khi học song phong trào
Đồng Khởi (1959 - 1960), giáo viên có thể đưa ra câu hỏi như: Vì sao nói phong trào
Đồng Khởi ( 1959 -1960) được coi là mốc đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách
mạng miền Nam?
VD: Trong giai đoạn từ 1945 - 1954, khi học về chiến dịch Điện Biên Phủ, giáo
viên có thể hỏi: Điện Biên Phủ có phải là pháo đài bất khả xâm phạm không ? vì sao?
Như vậy khi gặp dạng câu hỏi đánh giá sự kiện lịch sử và câu hỏi so sánh lịch sử
không những giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản, hiểu rõ bản chất của sự kiện, mà
điều quan trọng là bồi dưỡng cho các em năng lực tư duy, so sánh, nhận định, đánh giá
một sự kiện, một vấn đề hay một giai đoạn lịch sử.
23


4. Giáo viên cho học sinh cọ sát thực tế bằng cách tiếp cận nhiều đề thi thử và
hướng dẫn học sinh cách làm một bài thi
Như chúng ta biết, có kiến thức và kĩ năng làm bài là điều cần thiết trong quá trình
làm bài thi. Nhưng điều đó chưa đủ để đảm bảo bài thi đạt kết quả cao, mà điều quan
trọng là học sinh phải hiểu để, nắm được yêu cầu của đề ra và cách làm một bài thi lịch
sử.
Để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả cao, giáo viên cho học sinh tiếp cận
nhiều đề thi, giáo viên có thể ra đề cho học sinh luyện, quan trọng hơn là cho học sinh
được thực hành cọ sát đề thi học sinh giỏi trước đây ở các tỉnh.
VD: Đây là một câu trong đề thi học sinh giỏi tỉnh Bắc Giang năm học 2009 - 2010
phần lịch sử thế giới : Những biểu hiện của xu thế toàn cầu hoá, tại sao nói toàn càu hoá
vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển?
Đứng trước đề thi như vậy, giáo viên cho học sinh khoảng 5 đến 10 phút để tìm ý,
lập dàn ý. Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh trình bày các ý chính, lập dàn ý của mình.
Cuối cùng giáo viên định hướng cho các em cách làm một bài thi lịch sử:
* Phần mở đầu: Đặt vấn đề, giới thiệu vấn đề cần giải quyết

24


Giáo viên giải thích thế nào là toàn cầu hoá:Là quá trình tăng lên mạnh mẽ về
các mối quan hệ, ảnh hưởng, tác động phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, quốc
gia, dân tộc trên thế giới.
* Phần thân bài: Tập trung trình bày các sự kiện, ý tưởng và giải quyết vấn đề đặt
ra:
- Biểu hiện của xu thế toàn cầu hoá:
+ Sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế ;
+ Sự phát triển và tác động to lớn của các công ty xuyên quốc gia
+ Sự sát nhập và hợp nhất các công ty thành những tập đoàn lớn
+ Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính
+ Toàn cầu hoá vừa là thời cơ, vừa là thách thức vì:
- Thời cơ:
+ Chiến tranh bị đẩy lùi, tạo điều kiện ổn định và hợp tác phát triển giữa các nước
+ Các nước đều điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng tâm
+ Các nước đang phát triển có thể khai thác nguồn vốn đầu tư, kĩ thuật và kinh
nghiệm quản lý từ bên ngoài, có thể “ đi tắt đón đầu”, rút ngắn thời gian xây dựng và
phát triển đất nước.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×