Tải bản đầy đủ

SKKN hạn chế lỗi chính tả trong bộ môn ngữ văn của học sinh lớp 7a qua việc sử dụng bảng phụ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"HẠN CHẾ LỖI CHÍNH TẢ TRONG BỘ MÔN NGỮ VĂN CỦA
HỌC SINH LỚP 7A QUA VIỆC SỬ DỤNG BẢNG PHỤ VÀ THAY
ĐỔI THƯ KÍ TRONG QUÁ TRÌNH THẢO LUẬN NHÓM"

1


I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
Trước xu thế phát triển và hội nhập trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu đã đòi hỏi
ngành giáo dục phải đổi mới một cách mạnh mẽ, đồng bộ cả mục tiêu, nội dung, phương
pháp và phương tiện dạy học cũng như phương pháp đánh giá kiểm tra học sinh để có thể
đào tạo ra lớp người lao động mới mà xã hội đang cần. Trong đó việc đổi mới phương
pháp và phương tiện dạy học phải hết sức chú ý.
Đối với bộ môn Ngữ văn, đòi hỏi ở các em không những nắm vững kiến thức của văn bản
mà hình thức trình bày một bài văn cũng vô cùng quan trọng như câu văn phải đúng câu
trúc ngữ pháp, cách dùng từ đúng nghĩa, đúng hoàn cảnh giao tiếp đặc biệt là viết phải
đúng chính tả .
Như vậy, để hạn chế lỗi chính tả trong bộ môn Ngữ văn của học sinh lớp 7A , để các em

có thể đạt được điểm cao và hứng thú hơn đối với bộ môn này tôi đã đưa ra giải pháp là
sử dụng bảng phụ và thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm khi học bộ môn Ngữ
văn. Nghiên cứu được tiến hành trên học sinh lớp 7A Trường THCS Sơn Bình. Kết quả
cho thấy tác động đã hạn chế rõ rệt lỗi chính tả của học sinh. Điều đó chứng minh rằng
việc sử dụng bảng phụ và thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm hạn chế được lỗi
chính tả trong bộ môn Ngữ văn của học sinh lớp 7A Trường THCS Sơn Bình.
Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương: hai lớp 7 Trường THCS Sơn
Bình: lớp 7A (32 học sinh) làm lớp thực nghiệm, lớp 7B ( 32 học sinh) làm lớp đối
chứng. Lớp thực nghiệm được hướng dẫn cho học sinh thay đổi thư kí trong quá trình
thảo luận nhóm. Kết quả cho thấy tác động đã hạn chế rõ rệt lỗi chính của học sinh. Điểm
trung bình (giá trị trung bình) bài kiểm tra của lớp thực nghiệm là 5,813; của lớp đối
chứng là 5,094. Kết quả kiểm chứng T-Test cho thấy p =0,0001 < 0,05 có nghĩa là có sự
khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Điều đó chứng
minh rằng việc hướng dẫn cho học sinh thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm
trong bộ môn Ngữ văn làm hạn chế lỗi chính tả cho học sinh Trường THCS Sơn Bình.
II. GIỚI THIỆU:
1. Hiện trạng:
Ngữ văn là một trong những bộ môn quan trọng trong nhà trường nhằm thực hiện mục
đích giáo dục phát triển toàn diện nhân cách học sinh. Mục đích của dạy môn Ngữ văn là:
Dạy cho học sinh biết sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và mở rộng hiểu biết thông qua các
kĩ năng nghe, đọc, nói, viết, thông qua các giờ dạy môn học này có nhiệm vụ phát triển
năng lực, trí tuệ của học sinh, rèn luyện cho các em phương pháp suy nghĩ và giáo dục

2


cho các em những tình cảm mới. Đọc đúng thành thạo, viết đúng thành thạo chữ Việt là
hai yêu cầu cơ bản nhất, trọng tâm nhất trong suốt quá trình học tập của học sinh. Đó
cũng là hai yêu cầu luôn tồn tại song song với nhau. Có đọc đúng thành thạo mới giúp
các em viết đúng. Ngược lại quá trình viết là quá trình giúp các em tư duy chính xác lại kí
hiệu về âm, vần, tiếng, từ…cũng như kí hiệu về ngữ âm, ngữ pháp trong môn Ngữ văn.
Qua đó kĩ năng đọc của các em được củng cố thêm, góp phần lớn vào việc giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt. Thực trạng hiện nay hầu hết học sinh dường như viết sai lỗi
chính tả đặc biệt học sinh không chú ý đến khi nào nên viết hoa, khi nào nên viết thường
mà phần lớn các em viết rất tùy tiện. Kĩ năng viết đúng chính tả của học sinh lớp 7A
Trường THCS Sơn Bình còn ở mức độ thấp, sở dĩ như vậy là do các nguyên nhân sau:
- Do cách phát âm theo phương ngữ vì thông thường tiếng Việt phát âm như thế nào thì
viết chữ như thế ấy.
- Do thường lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu như : ch/tr, x/s, d/v/gi, oa/ua, ai/ay/ây,
au/ao, ăm/âm, ăp/âp, iu/iêu, im/êm/iêm/em …

- Do thường phát âm sai hoặc nhầm lẫn các âm cuối như: an/ang, at/ac, ăn/ăng, ăt/ăc,
ân/âng, ât/âc/, en/eng, et/ec, ên/ ênh, iên/ iêng, iêt/ iêc …
- Do nhầm lẫn, không phân biệt rõ hai thanh hỏi, ngã .
- Do không nắm được và không hiểu được nghĩa của từ ngữ sử dụng. Mỗi từ ngữ đều
biểu đạt một khái niệm nào đó. Nếu không nắm được nghĩa của từ thì khi viết sẽ sai chính
tả.
- Do ít đọc sách báo, tạp chí .
- Do giáo viên không chú trọng sửa lỗi chính tả trong nhà trường. Thông thường, chỉ có
bộ môn Ngữ văn có yêu cầu về viết đúng chính tả và trong đáp án bài kiểm tra luôn có
yêu cầu này. Nhưng còn lại các môn học khác, giáo viên hầu như bỏ qua, thậm chí chỉ
yêu cầu học sinh tính toán đúng, không lưu tâm chính tả đúng hay không. Hơn nữa, bài
vở thì nhiều, thời gian hạn hẹp, áp lực công việc khá lớn nên giáo viên chưa quan tâm
đúng mức nên việc sửa lỗi chính tả cũng chưa toàn tâm toàn ý , chưa có hiệu quả.
- Mặt khác, một bộ phận không nhỏ học sinh còn lười học, không chịu suy nghĩ, tư duy
trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
- Các em chưa nắm được quy tắc viết đúng chính tả.
Như vậy, để hạn chế những lỗi chính tả mà học sinh thường mắc phải tôi chọn nguyên
nhân: “Các em chưa nắm được quy tắc viết đúng chính tả”.
2. Giải pháp thay thế:

3


Để khắc phục nguyên nhân trên, tôi có rất nhiều giải pháp như:
- Luyện phát âm đúng vì như trên đã nói, tiếng Việt phát âm thế nào thì viết như thế ấy.
Tuy nhiên, khi phát âm có thể theo phương ngữ (vì theo thói quen, phong tục, tập
quán) nhưng khi viết vẫn đúng chính tả. Trong những trường hợp này, người viết luôn
hiểu nghĩa của từ và nắm được các dấu thanh (hỏi, ngã). Ở đây, đòi hỏi người viết phải
nắm chắc nghĩa của từ ngữ qua quá trình học tập, khảo cứu, đọc sách báo nhiều, …
- Sử dụng các mẹo luật chính tả, vận dụng linh hoạt vào thực tế để viết đúng chính tả.
Các mẹo luật này dựa trên cơ sở quy luật của từ ngữ tiếng Việt, từ Hán Việt và nêu ra
những quy tắc chung trong việc viết đúng chính tả.
- Rèn luyện thói quen đọc sách, lòng say mê đọc sách. Cần xác định sách là người bạn
đường của mỗi chúng ta. Sách là nguồn tri thức vô tận của nhân loại lưu truyền lại tới bây
giờ và mãi mãi về sau. Trong quá trình đọc, tìm hiểu, cảm thụ tác phẩm văn học, vốn từ
ngữ sẽ không ngừng được tích lũy, nâng cao. Từ đó, khi cần viết, biểu đạt một vấn đề thì
chúng ta luôn có vốn từ ngữ để sử dụng.
- Có thói quen sử dụng các loại sách công cụ như Từ điển tiếng Việt, Từ điển từ và ngữ
Hán Việt ( tiếng Việt có hơn 70% từ Hán Việt). Khi gặp từ khó, chưa xác định được rõ
ràng thì nên tra từ điển để nắm thêm nghĩa của từ và hạn chế việc viết sai chính tả.
- Thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm.
Như vậy có rất nhiều giải pháp để khắc phục hiện trạng trên, tuy nhiên mỗi giải pháp đều
có những yếu điểm và hạn chế nhất định. Đối với cấp THCS, vì trong chương trình không
có những tiết luyện viết, lại mỗi môn một thầy dạy cho nên không có thời gian để sửa và
luyện chữ cho học sinh và không quan sát thường xuyên liên tục chữ viết cho các em.
Cho nên việc luyện chữ viết cho học sinh thật là khó khăn cho những thầy cô giáo chúng
ta. Vì thế trong tất cả các giải pháp đó tôi chọn giải pháp“ Thay đổi thư kí trong quá
trình thảo luận nhóm”. Với phương pháp này, nhằm mục đích hạn chế lỗi chính tả cho
cả tập thể học sinh của lớp 7A nói riêng và học sinh trong toàn trường nói chung. Với
những lí luận mà tôi nêu trên, muốn hạn chế lỗi chính tả cho học sinh ta cần thực hiện các
bước sau:
Các bước cơ bản:
Để thực hiện được ý định “Hạn chế lỗi chính tả cho học sinh lớp 7A Trường THCS Sơn
Bình” của mình tôi đã vạch ra một số biện pháp cụ thể ngay từ đầu năm học khi bắt đầu
nhận lớp.
Bước 1: Xây dựng nhóm.

4


+ Lớp 7A có 32 học sinh, tôi chia thành 4 nhóm : nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3
và nhóm 4, mỗi nhóm có 8 học sinh.
+ Mỗi nhóm đều có nhóm trưởng, nhóm phó, còn thư kí thì tôi thay đổi liên
tục trong quá trình thảo luận nhóm.
Bước 2: Hoạt động nhóm.
Trong một tuần môn Ngữ văn 7 có 4 tiết, mỗi tiết tôi tiến hành một đến hai lần thảo
luận nhóm. Mỗi lần thảo luận nhóm tôi lại thay đổi thư kí, chính vì vậy các thành viên
trong nhóm ai cũng được làm thư kí ít nhất là hai lần trong vòng một tháng.
Bước 3: Tiến hành sửa lỗi chính tả cho học sinh.
+ Sau khi hoàn tất quá trình thảo luận nhóm học sinh sẽ treo bảng phụ nhóm
lên bảng lớn.
+ Tôi cho học sinh giữa các nhóm nhận xét lẫn nhau về nội dung thảo luận đặc biệt là lỗi
chính tả.
+ Sau khi học sinh giữa các nhóm nhận xét xong, tôi tiến hành nhận xét lại nội dung thảo
luận và sửa những lỗi chính tả mà các em không phát hiện ra.
+ Đối với những em viết sai tôi cho các em về nhà chép đi chép lại 10 lần lỗi bị sai đó.
1.

Một số đề tài gần đây:

- Sáng kiến kinh nghiệm: “Cách chữa lỗi chính tả thông thường” của giáo viên
Nguyễn Thị Thủy Trường THCS Hòa Phú, TP Buôn Mê Thuật.
- Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp hữu hiệu giúp học sinh lớp 4 viết
đúng chính tả” của giáo viên Nguyễn Khoa Dũng Trường tiểu học Nguyễn Tri Phương,
Đắk Lắk.
- Sáng kiến kinh nghiệm: “ Sửa lỗi chính tả cho học sinh trong giảng dạy Ngữ văn
7” của giáo viên Nguyễn Thị Hương Trường THCS Hồng Thủy.
Các đề tài này đều đề cập đến những giải pháp cụ thể nhưng không thường xuyên liên tục
trong bộ môn Ngữ văn THCS.
Bản thân tôi muốn có một nghiên cứu có thể áp dụng thường xuyên trong các tiết dạy của
bộ môn Ngữ văn THCS và hạn chế hiệu quả lỗi chính tả của học sinh đặc biệt là các em
học tại địa bàn huyện Khánh Sơn.
4. Vấn đề nghiên cứu:
Việc thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm có làm hạn chế lỗi chính tả cho học
sinh không?
5


5.

Giả thuyết nghiên cứu:

Có. Việc thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm có làm hạn chế lỗi chính tả cho
học sinh.
III. Phương pháp :
1. Khách thể nghiên cứu:
1.1. Khách thể nghiên cứu :
Hạn chế lỗi chính tả của học sinh đối với môn Ngữ văn.
1.2. Đối tượng nghiên cứu:
Một số phương pháp nhằm hạn chế lỗi chính tả cho học sinh lớp 7A trên địa bàn Trường
THCS Sơn Bình.
Hai lớp được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau về tỉ lệ giới tính,
dân tộc. Cụ thể như sau:
Bảng 1: Giới tính và thành phần dân tộc của học sinh lớp 7A và 7B Trường THCS Sơn
Bình:
Số học sinh các nhóm

Dân tộc

Tổng số

Nam

Nữ

Kinh

Raclay

Lớp 7A

32

8

24

4

28

Lớp 7B

32

14

18

5

27

Về thành tích học tập của năm học trước, hai lớp tương đương nhau về điểm số của tất cả
các môn học.
2. Thiết kế:
Chọn hai nhóm của hai lớp: nhóm học sinh lớp 7A là nhóm thực nghiệm và nhóm học
sinh lớp 7B là nhóm đối chứng. Tôi dùng bài kiểm tra để kiểm tra lỗi chính tả của học
sinh trước tác động. Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác
nhau, do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số
trung bình của 2 nhóm trước khi tác động.
Kết quả:
Bảng 2. Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương

6


Đối chứng

Thực nghiệm

Giá trị trung bình

5,063

5,156

p

0,2897

p =0,2897 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương.
Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương
(được mô tả ở bảng 3):
Bảng 3. Thiết kế nghiên cứu
KT
trước


Nhóm

Tác động

KT
sau


Thực nghiệm
O1
(7A)

Thay đổi thư kí trong quá trình thảo
O3
luận nhóm

Đối
(7B)

Không

chứng

O2

O4

3. Quy trình nghiên cứu:
3.1. Trong quá trình thảo luận nhóm giáo viên nhắc cho các em một số quy định về
chuẩn chính tả:
3.1.1. Về cách viết hoa tên riêng tiếng Việt:
- Tên người và tên gọi nơi chốn : Viết hoa tất cả các chữ cái đầu mà không
dùng gạch nối. Ví dụ: Trần Quốc Toản, Quảng Bình,...
- Tên tổ chức, cơ quan: Viết hoa chữ cái đầu trong tổ hợp từ dùng làm tên. Ví
dụ : Đảng cộng sản Việt Nam, Trường Trung học cơ sở Sơn Bình,...
3.1.2. Việc dùng dấu nối:
- Dùng dấu nối trong các liên doanh như: khoa học – kĩ thuật, Quảng Nam –
Đà Nẵng, ...
- Dùng dấu nối khi chỉ giới hạn về không gian, thời gian, số lượng.
7


Ví dụ: Chuyến tàu Hà Nội – Huế, thời kì 1945 – 1954, sản lượng 5 – 7 tấn, ...
- Khi phân biệt ngày, tháng, năm. Ví dụ : 30 - 4 - 1975,...
3.2. Trong quá trình thảo luận nhóm giáo viên chỉ ra một số lỗi chính tả thường gặp
ở học sinh và biện pháp sửa chữa:
3.2.1. Lỗi chính tả do sai nguyên tắc chính tả hiện hành:
- Lỗi do đánh sai vị trí dấu thanh điệu.
Ví dụ: “quý” thì viết là “qúy”
- Lỗi do không nắm được quy tắc phân bố các kí hiệu cùng biểu thị một âm.
Ví dụ: nghành ( ngh không đi trước a); kach ( k không đi trước a trừ kali)
- Lỗi do không nắm được quy tắc viết hoa.
Ví dụ: Trần bình Trọng, Khánh hòa, khánh Sơn…
Để khắc phục những lỗi này, chỉ cần cho học sinh ghi nhớ và tuân thủ những đặc
điểm về nguyên tắc kết hợp, quy tắc viết hoa của chữ viết.
3.2.2. Lỗi chính tả do viết sai với phát âm chuẩn.
Đặc điểm phát âm đặc trưng cho từng vùng khác với phát âm chuẩn là nguyên nhân
dẫn đến những cách viết sai chính tả. Có thể quy những lỗi này thành ba dạng chủ yếu.
3.2.2.1. Lỗi viết sai phụ âm đầu:
- Lỗi do không phân biệt được tr và ch: Do cách phát âm của học sinh không phân biệt
được tr – ch. Có thể giúp các em nắm một số quy tắc nhỏ để phân biệt tr – ch.
+ Tr không kết hợp với những vần bắt đầu bằng: oa, oă, oe, uê( choáng, choai,…)
+ Từ láy phụ âm đầu phần lớn là ch ( Những từ láy phụ âm đầu là tr rất ít : trơ trọi, trống
trải,…)
- Lỗi do không phân biệt s và x :
Hiện tượng này cũng là do đặc điểm phát âm không phân biệt, ở lỗi này cần cho học sinh
hiểu và nhớ một số quy tắc phân biệt s và x như sau:
+ S không kết hợp với vần oa, oă, oe, uê( xuề xòa, xoay xở, xoen xoét,…)
Từ láy phụ âm đầu có cả s và x. Từ láy bộ phận thường là x: loăn xoăn, lòa xòa,…
+ Về nghĩa tên thức ăn thường viết là x: xôi, xúc xích, lạp xưởng,…
- Lỗi do không phân biệt r, gi với d:

8


Giúp học sinh nhớ một số quy tắc để phân biệt r, gi với d như sau:
+ R và gi không kết hợp với những vần: oa, oă, uâ, oe, uê, uy.
+ Xét về nguồn gốc không có từ Hán Việt đi với r. Trong Hán Việt, d đi với thanh ngã và
nặng, gi đi với thanh hỏi và sắc.
+ Trong từ láy bộ phận vần: r láy với b và c, còn gi và d không láy: bứt rứt, bủn rủn, …và
r và d láy với l, còn gi không láy: liu diu, lim dim,…
3.2.2.2. Lỗi sai phần vần:
Lỗi viết sai phần vần ( Viết sai âm cuối hoặc âm chính)
Ví dụ: yêu/ iêu; ơu/ iêu,..
.

3.2.2.2. Lỗi viết sai thanh điệu:

Lỗi viết sai thanh điệu do sự phát âm không phân biệt giữa thanh hỏi và thanh ngã.
Để khắc phục lỗi này có thể giúp học sinh nhớ hai quy tắc:
- Các chữ khởi đầu bằng nguyên âm chỉ mang dấu hỏi, không mang dấu ngã: ả, ỷ
lại, ảnh,…( Trừ 5 ngoại lệ: ẵm, ễ mình, ễnh bụng, ễnh ương, ỡn ngực,…
- Các chữ Hán Việt bắt đầu bằng các phụ âm: m, n, nh, l, v, d, ng chỉ mang dấu ngã
không mang dấu hỏi: mã lực, lãnh tụ, vĩ nhân, …( chỉ có một trường hợp ngoại lệ: cây
ngải)
Phần lớn từ láy điệp vần mang thanh hỏi.
3.3. Chọn đối tượng thực hiện:
Chọn nhóm: Nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng thuộc khối lớp 7 Trường
THCS Sơn Bình, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình thực nghiệm đã được tổ
chức ở hai nhóm của hai lớp 7A và 7B.
Nhóm của lớp 7B là nhóm đối chứng, gồm 32 học sinh. Đối với nhóm này tôi
không hướng dẫn học sinh thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm.
Nhóm 7A là nhóm thực nghiệm: gồm 32 học sinh. Tôi chia nhóm này thành 4
nhóm nhỏ: nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 và nhóm 4, mỗi nhóm là 8 học sinh . Đối với nhóm
này tôi hướng dẫn học sinh thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm.
3.4. Tiến hành thực nghiệm :
Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và
theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan.
4. Đo lường :
9




Tiến hành kiểm tra và chấm bài.

4.1.Tôi tiến hành bài kiểm tra chính tả cho học sinh trước khi tác động(nội dung đáp
án trình bày ở phần phụ lục 3).
Đề: Giáo viên đọc bài thơ “ Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương cho học sinh chép.
Ghi chú: - Học sinh ghi đầy đủ họ và tên, lớp, trường, nơi thường trú.
- Thời gian 10 - 15 phút.
Kết quả khảo sát:
LỚP 7A

LỚP 7B

Stt Họ và tên

Điểm

Stt

Họ và tên

Điểm

01

Cao Thị Mĩ

Châu

4

01

Bo Bo Thị

An

4

02

Bo Bo Thị

Diệu

5

02

Mấu

Binh

5

03

Cao Văn



4

03

Mấu Văn

Chí

5

04

Cao Hồng

Dũng

04

Bo Bo
Kim

Thị Chuyên

4

5

05

Cao Thị Mỹ

Duyên 4

05

Bo Bo

Chương 5

06

Bo Bo Thị

Huyết

6

06

Tro Thị Đình

Diễm

5

07

Cao

Hưng

5

07

Cao Thị Tiền

Diễm

5

08

Cao Văn

Khải

5

08

Bo Bo

Duẩn

5

09

Mấu Thị Minh

Khang 6

09

Bo Bo Thị Kỳ Duyên

10

Bo Bo Thị Bích

Loang

5

10

Cao

Đàn

5

11

Bo Bo Thị



6

11

Cao Thị

Điềm

5

12

Tro Thị

Ly

5

12

Mấu Hà

Đông

6

13

Cao Văn

Mạnh

6

13

Bo Bo

Huân

5

6

10


14

Trần Thanh

Nguyê
5
n

14

Doãn Trọng

Khánh
5

15

Bo Bo Thị

Nhanh 5

15

Cao Thanh

Kiệt

5

16

Bo Bo Thị

Nhíp

16

Bo Bo

Lâm

5

17

Bo
Bo
Quỳnh

Thị Như

17

Nguyễn Nhật

Lâm

Tro Mấu
Ngọc

Thị Sen

18
19

Lê Thị Thu

Thảo

20

Bo Bo Thị

Thể

21

Cao văn

Thìn

4
5
5
6
5
6

4
18

Cao Thị

Lệ
6

19

Bo Bo Thị

Linh

20

Nguyễn
T.Thùy

Linh

Nguyễn
T.Bích

Ngà

21

4
5
6

22

Bo Bo Thị

Thịnh

5

22

Phan Anh

Nghĩa

5

23

Mấu Minh

Thoại

5

23

Mấu Thị Kim

Ngoan

4

24

Mấu Thị Kim

Thu

24

Cao

Nhượn
g

6
5

4

25

Trần Anh

Thư

6

25

Cao Thị

Nở

26

Tro Thị Mỹ

Trinh

6

26

Cao Thị

Phương 5

27

Phan Thị Quỳnh

Trúc

6

27

Cao Xuân

Quyển

5

28

Mấu Thị Kim

Tuệ

6

28

Cao Ánh

Tầng

6

29

Bo Bo

Tuyền

6

29

Bao Bo Thị

Thảo

5

30

Cao Thị

Uyển

30

Mấu
Hồng

5

Thị Thấm
5

11


31
32

Mấu Thị

Xoàn

Bo Bo Thị

Yến

5
5

31
32

Cao
Thanh

Thị Thùy
4

Mấu Thị Kim

Duyên

6

4.2. Sau hơn một tháng áp dụng giải pháp đã nêu trên tôi tiến hành kiểm tra chính
tả học sinh( nội dung bài kiểm tra trình bày ở phần phụ lục)
Đề: Giáo viên đọc bài thơ “ Qua Đèo Ngang ” của Bà Huyện Thanh Quan cho học sinh
chép.
Ghi chú: - Học sinh ghi đầy đủ họ và tên, lớp, trường, nơi thường trú.
- Thời gian 10 - 15 phút.
Kết quả khảo sát:
LỚP 7A

LỚP 7B

Stt

Họ và tên

Điểm

Stt Họ và tên

01

Cao Thị Mĩ

02

Châu

4

01 Bo Bo Thị

An

5

Bo Bo Thị

Diệu

6

02 Mấu

Binh

5

03

Cao Văn



6

03 Mấu Văn

Chí

5

04

Cao Hồng

Dũng

5

04 Bo Bo
Kim

Thị Chuyên

05

Cao Thị Mỹ

Duyên

4

05 Bo Bo

Chương 5

06

Bo Bo Thị

Huyết

6

06 Cao Thị Tiền

Diễm

5

07

Cao

Hưng

6

07 Tro Thị Đình

Diễm

5

08

Cao Văn

Khải

6

08 Bo Bo

Duẩn

5

09

Mấu Thị Minh Khang

7

09 Bo Bo Thị Kỳ Duyên

10

Bo

6

10 Cao

Bo

Thị Loang

Điểm

Đàn

5

6
5

12


Bích
11

Bo Bo Thị



5

11 Cao Thị

Điềm

5

12

Tro Thị

Ly

5

12 Mấu Hà

Đông

6

13

Cao Văn

Mạnh

6

13 Bo Bo

Huân

5

14

Trần Thanh

Nguyên 6

14 Doãn Trọng

Khánh

5

15

Bo Bo Thị

Nhanh

5

15 Cao Thanh

Kiệt

5

16

Bo Bo Thị

Nhíp

6

16 Bo Bo

Lâm

5

17

Bo Bo
Quỳnh

17 Nguyễn Nhật

Lâm

18

Tro Mấu Thị Sen
Ngọc

5

18 Cao Thị

Lệ

19

Lê Thị Thu

Thảo

7

19 Bo Bo Thị

Linh

20

Bo Bo Thị

Thể

5

20 Nguyễn
Thùy

Thị Linh

21

Cao văn

Thìn

6

21 Nguyễn
Bích

Thị Ngà

22

Bo Bo Thị

Thịnh

6

22 Phan Anh

Nghĩa

5

23

Mấu Minh

Thoại

5

23 Mấu Thị Kim

Ngoan

4

24

Mấu Thị Kim

Thu

6

24 Cao

Nhượng 6

25

Trần Anh

Thư

7

25 Cao Thị

Nở

26

Tro Thị Mỹ

Trinh

8

26 Cao Thị

Phương 5

27

Phan
Quỳnh

27 Cao Xuân

Quyển

28

Mấu Thị Kim

28 Cao Ánh

Tầng

Thị Như

Thị Trúc
Tuệ

5

7
7

4
5
4
5
6

5

6
6
13


29

Bo Bo

Tuyền

6

29 Bao Bo Thị

Thảo

5

30

Cao Thị

Uyển

6

30 Mấu Thị Hồng Thấm

5

31

Mấu Thị

Xoàn

5

31 Cao
Thanh

5

32

Bo Bo Thị

Yến

6

32 Mấu Thị Kim

Thị Thùy
Duyên

5

Để kiểm tra độ tin cậy của dữ liệu, tôi tiến hành kiểm tra nhiều lần trên cùng một nhóm
vào các thời điểm gần nhau. Kết quả cho thấy, sự chênh lệch về điểm số không cao, điều
đó chứng tỏ dữ liệu thu thập được là đáng tin cậy.
Để kiểm chứng độ giá trị của dữ liệu, tôi dùng phương pháp kiểm tra độ giá trị hình
thức. Bài tập tôi đưa ra kiểm chứng khái quát được vấn đề tôi nghiên cứu. Bài tập phản
ảnh đầy đủ, rõ ràng quá trình nghiên cứu.
Sau hơn một tháng áp dụng các giải pháp đã nêu tôi thấy kết quả là: đã hạn chế được
những lỗi chính tả cơ bản cho học sinh lớp 7A.
Đa số các em học sinh nắm được những quy tắc cơ bản khi viết chính tả. Hầu như các em
đều cảm thấy thích thú hơn khi học môn Ngữ văn.
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
1.

Phân tích dữ liệu:

Bảng 5. So sánh điểm trung bình (giá trị trung bình) sau khi tiến hành kiểm tra
trước và sau tác động:
STT

Nhóm thực nghiệm

Nhóm đối chứng

01

4

4

4

5

02

5

6

5

5

03

4

6

5

5

04

4

5

5

5

05

4

4

5

5

14


06

6

6

5

5

07

5

6

5

5

08

5

6

5

5

09

6

7

6

6

10

5

6

5

5

11

6

5

5

5

12

5

5

6

6

13

6

6

5

5

14

5

6

5

5

15

5

5

5

5

16

4

6

5

5

17

5

5

4

4

18

5

5

6

5

19

6

7

4

4

20

5

5

5

5

21

6

6

6

6

22

5

6

5

5

23

5

5

4

4

24

4

6

6

6

25

6

7

5

5

26

6

8

5

5

15


27

6

7

5

6

28

6

7

6

6

29

6

6

5

5

30

5

6

5

5

31

5

5

4

5

32

5

6

6

5

Mốt

5

6

5

5

Trung vị

5

6

5

5

Giá trị trung
bình
5,156

5,813

5,063

5,094

Độ
chuẩn

0,896

0,619

0,530

lệch
0,723

Giá trị p

0,2897

0,0001

Trước tác động

Sau tác động

Nhóm thực
nghiệm
5,156

5,813

Nhóm
chứng

5,063

5,049

Giá trị chênh
lệch
0,093

0,764

Giá trị p

0,0001

đối

0,2897

16


Có ý nghĩa
p<=0,05
Không có ý nghĩa

Có ý nghĩa

Giá trị SMS

1,3566038

0,150242

Mức độ ảnh
hưởng
Nhỏ

Rất lớn

Như trên đã chứng minh rằng kết quả 2 nhóm trước tác động là tương đương. Sau tác
động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T-Test cho kết quả p = 0,0001 cho
thấy sự chênh lệch giữa điểm trung bình nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là có ý
nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn điểm trung
bình nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 1,3566038. Điều đó cho thấy mức độ ảnh
hưởng của hướng dẫn cho học sinh thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm của
nhóm thực nghiệm là rất lớn.
Giả thuyết của đề tài “Việc thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm có làm hạn chế
lỗi chính tả cho học sinh không? đã được kiểm chứng.
2. Bàn luận kết quả:
Kết quả giá trị trung bình của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là 5,813, kết
quả bài kiểm tra của nhóm đối chứng là 5,094. Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 0,719.
Điều đó cho thấy điểm giá trị trung bình của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác
biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 1,3566038. Điều này
có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là rất lớn.
Phép kiểm chứng T-Test giá trị trung bình sau tác động của hai lớp là p=0,0001< 0,05.
Kết quả này khẳng định sự chênh lệch giá trị trung bình của hai nhóm không phải là do
ngẫu nhiên mà là do tác động.
Qua kết quả thu nhận được trong quá trình ứng dụng, tôi nhận thấy rằng việc thay đổi thư
kí trong quá trình thảo luận nhóm của giờ học làm hạn chế được lỗi chính tả cho học sinh,
học sinh tích cực, hứng thú học tập. Nhờ đó mà học sinh khi làm bài kiểm tra hoặc viết
bài vào vở ít sai lỗi chính tả. Lớp học trở nên sôi nổi. Các em hăng hái vào hoạt động học
tập, tinh thần thoải mái. Việc thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm đã hạn chế
được lỗi chính tả và làm tăng kết quả học tập của học sinh hơn rất nhiều.
17


V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
- Để giúp học sinh hứng thú và hạn chế được lỗi chính tả, điều cơ bản nhất mỗi tiết
dạy giáo viên phải tích cực, nhiệt tình, chịu khó, kiên nhẫn ,...
- Thường xuyên nhắc nhở các em viết sai nhiều lỗi chính tả; động viên, biểu dương
các em viết đúng chính tả, cập nhật vào sổ theo dõi và kết hợp với giáo viên chủ nhiệm
để có biện pháp giúp đỡ kịp thời, kiểm tra thường xuyên vở viết của các em trong mỗi tiết
học, làm như vậy để cho các em có một thái độ đúng đắn, một nề nếp tốt trong học tập.
- Đối với một số học sinh chậm tiến bộ thì phải thông qua giáo viên chủ nhiệm kết
hợp với gia đình để giúp các em học tốt hơn, hoặc qua giáo viên bộ môn Ngữ văn để giúp
đỡ một số học sinh yếu môn Ngữ văn có thể hạn chế được những lỗi chính tả cơ bản. Từ
đó gây sự đam mê, hứng thú với bộ môn Ngữ văn.
- Qua thời gian áp dụng phương pháp“ Thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận
nhóm” ở trên tôi nhận thấy học sinh say mê, hứng thú và hạn chế được những lỗi chính tả
cần thiết. Học sinh chủ động, tự tin hơn khi viết văn.
VI. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận:
1.1. Những mặt làm được:
- Nêu ra được sự cần thiết của giải pháp phù hợp với quan điểm, chủ trương của ngành và
thực tế địa phương nơi công tác.
- Nêu ra được cơ sở lí luận, đưa ra được giải pháp cụ thể rõ ràng áp dụng cho việc giúp
học sinh hạn chế lỗi chính tả.
- Kết quả khi vận dụng giải pháp: làm chuyển biến phần lớn và giải quyết được phần yêu
cầu thực tiễn.
- Qua giải pháp, phát huy được vai trò chủ động, tích cực của học sinh, học sinh hứng thú
hơn với môn học. Đây là vấn đề quan trọng nhất của giải pháp, phù hợp với chủ trương
của phương pháp dạy học mới.
1.2. Những mặt hạn chế:
Đa số các em học sinh là người sở tại nên hay thụ động, nhút nhát. Một số em viết quá
yếu nên quá trình làm thư kí trong thảo luận nhóm mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến
tiết dạy.
Từ những mặt làm được cũng như hạn chế nêu trên, là cơ sở, là bài học kinh nghiệm quý
báu cho bản thân trong quá trình giảng dạy.
18


Giải pháp được áp dụng trong các hoạt động học tập nhằm giúp học sinh Trường THCS
Sơn Bình hứng thú học môn Ngữ văn, không còn cảm thấy sợ lỗi chính tả khi viết một
bài văn. Ngoài ra, giải pháp này có tính khả quan cao do đó nó còn có thể được áp dụng
cho các trường THCS trong huyện, tùy theo từng trường, từng lớp, mà chúng ta điều
chỉnh sao cho phù hợp.
2. Khuyến nghị:
- Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn để bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo
viên.
- Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học: bảng phụ nhóm,...
- Giáo viên thường xuyên tìm tòi để đọc, tham khảo tài liệu nhằm phục vụ tốt hơn cho
quá trình dạy học môn Ngữ văn.
Với kết quả của đề tài này, chúng tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp quan tâm, chia sẻ
và có thể ứng dụng đề tài này trong quá trình dạy học để tạo hứng thú và nâng cao kết
quả học tập cho học sinh.
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo viên Ngữ văn 6, 7, 8, 9 ................................... NXB giáo dục
2. Sách giáo khoa Ngữ văn 6, 7, 8, 9 ................................... NXB giáo dục
3. Sách bài tập Ngữ văn 6, 7, 8, 9 ........................................ NXB giáo dục
4. Từ điển tiếng Việt............................................................. NXB Đà Nẵng
Biên tập và xuất bản:
Vũ Xuân Hương
Hoàng Thị Tuyền Linh

19


VIII. CÁC PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI.
PHỤ LỤC I
XÁC ĐỊNH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1. Tìm và chọn nguyên nhân:

Hiện trạng

2.

Tìm giải pháp tác động:

3. Tên đề tài: Hạn chế lỗi chính tả cho học sinh lớp 7A qua việc sử dụng bảng phụ và
thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm.

20


PHỤ LỤC II
KẾ HOẠCH NCKHSPƯD
Tên đề tài:: Hạn chế lỗi chính tả cho học sinh lớp 7A qua việc sử dụng bảng phụ và thay
đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm.
Bước

Hoạt động

1. Hiện trạng

Học sinh lớp 7A viết sai lỗi chính tả.

2. Giải pháp thay Hướng dẫn học sinh thay đổi thư kí trong quá trình thảo
thế
luận nhóm.
3. Vấn đề nghiên Việc thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm có
cứu, giả thuyết làm hạn chế lỗi chính tả cho học sinh không? Có. Việc
nghiên cứu.
thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm có làm
hạn chế lỗi chính tả cho học sinh.
4. Thiết kế

Kiểm tra trước tác động và sau tác động đối với các
nhóm tương đương.
Nhóm

5. Đo lường

Kiểm
trước
động

tra
Kiểm
tác Tác động sau
động

N1(7A) O1

X

O3

N2(7B) O2

---

O4

tra
tác

1. Bài kiểm tra của học sinh
2. Kiểm chứng độ tin cậy của bài kiểm tra.
3. Kiểm chứng độ giá trị của bài kiểm tra.

6. Phân tích

Sử dụng phép kiểm chứng độc lập và độ ảnh hưởng

7. Kết quả

Kết quả đối với vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa không?
Nếu có ý nghĩa, mức độ ảnh hưởng như thế nào?

21


PHỤ LỤC III
BÀI KIỂM TRA TRƯỚC TÁC ĐỘNG
Đề: Giáo viên đọc bài thơ “ Bánh trôi nước’’ của Hồ Xuân Hương cho học sinh chép tại
lớp.
Ghi chú: - Học sinh ghi đầy đủ họ và tên, lớp, trường, nơi thường trú.
- Thời gian 10 - 15 phút.
Bài làm :
BÁNH TRÔI NƯỚC
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
( Hồ Xuân Hương)
PHỤ LỤC IV
BÀI KIỂM TRA SAU TÁC ĐỘNG
Đề: Giáo viên đọc bài thơ “ Qua Đèo Ngang’’ của Bà Huyện Thanh Quan cho học sinh
chép tại lớp.
Ghi chú: - Học sinh ghi đầy đủ họ và tên, lớp, trường, nơi thường trú.
- Thời gian 10 - 15 phút.
Bài làm :
QUA ĐÈO NGANG
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều, vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
22


Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
(Bà Huyện Thanh Quan)
PHỤ LỤC V
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
STT

Nhóm thực nghiệm

Nhóm đối chứng

01

4

4

4

5

02

5

6

5

5

03

4

6

5

5

04

4

5

5

5

05

4

4

5

5

06

6

6

5

5

07

5

6

5

5

08

5

6

5

5

09

6

7

6

6

10

5

6

5

5

11

6

5

5

5

12

5

5

6

6

13

6

6

5

5

14

5

6

5

5

15

5

5

5

5

16

4

6

5

5

23


17

5

5

4

4

18

5

5

6

5

19

6

7

4

4

20

5

5

5

5

21

6

6

6

6

22

5

6

5

5

23

5

5

4

4

24

4

6

6

6

25

6

7

5

5

26

6

8

5

5

27

6

7

5

6

28

6

7

6

6

29

6

6

5

5

30

5

6

5

5

31

5

5

4

5

32

5

6

6

5

Mốt

5

6

5

5

Trung vị

5

6

5

5

Giá trị trung
bình
5,156

5,813

5,063

5,094

lệch 0,723

0,896

0,619

0,530

Độ

24


chuẩn
Giá trị p

0,2897

0,0001

Trước tác động

Sau tác động

Nhóm thực
nghiệm
5,156

5,813

Nhóm
chứng

5,063

5,049

Giá trị chênh
lệch
0,093

0,764

Giá trị p

0,0001

đối

0,2897

Có ý nghĩa
p<=0,05
Không có ý nghĩa

Có ý nghĩa

Giá trị SMS

1,3566038

0,150242

Mức độ ảnh
hưởng
Nhỏ

Rất lớn

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×