Tải bản đầy đủ

SKKN sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn mỹ thuật lớp 9

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MÔN MỸ
THUẬT LỚP 9”


A. PHẦN MỞ ĐẦU
Chúng ta biết Mỹ thuật là một trong những môn học đặc thù, giữ vai trò quan trọng
trong giáo dục thẫm mỹ ở trường phổ thông hiện nay. Đó là môn học về cái đẹp, khơi dậy
tư duy sáng tạo trong tâm hồn trong sáng, thơ ngây và đáng yêu của lứa tuổi thiếu nhi.
Dạy nghệ thuật nói chung và dạy mỹ thuật nói riêng, không phải là đưa ra một công thức
cứng nhắc để làm, để vẽ mà điều cốt lõi quan trọng là lối tư duy, tạo điều kiện cho sự
phát triển tưởng tượng, khả năng sáng tạo của học sinh.
Nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao cùng với sự phát triễn của kinh tế xã hội, cho nên
việc nhìn nhận và thưởng thức cái đẹp của đại bộ phận nhân dân là vấn đề tất yếu khách
quan, không chỉ đối với người lớn, tầng lớp trí thức mà là tất cả mọi đối tượng, mọi tầng
lớp trong xã hội. Mỗi lứa tuổi lại có những cách cảm nhận, suy nghĩ và lí giải về cái đẹp
khác nhau. Người lớn có cách cảm nhận lôgic, còn trẻ em thì có cái nhìn vô tư, trong
sáng, nhìn sự vật qua lăng kính màu hồng, không vướng bận những nguyên tắc, trăn trở
mà tập trung tình cảm, sự yêu thích của mình vào mỗi bài vẽ.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lí do chọn đề tài
Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học vẫn là một vấn đề được nhiều nhà
nghiên cứu giáo dục quan tâm bàn bạc thống nhất. Cụ thể biện pháp nhằm cải tiến
phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá quá trình dạy học, tăng cường khả năng tư
duy của học sinh ở qúa trình lĩnh hội tri thức, phát huy tính độc lập, tính tích cực của học
sinh được làm việc dưới nhiều hình thức và gây được hứng thú trong giờ học. Một trong
những phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh, tính độc lập sáng
tạo, độc lập tư duy là biện pháp “sử dụng đồ dùng trực quan”. Việc giảng dạy môn Mĩ
thuật ở trường THCS cũng như những môn học khác, đồ dùng trực quan đóng một vai trò
quan trọng trong giờ giảng. Bởi vì đồ dùng trực quan khi sử dụng có hiệu quả trong tiết
giảng sẽ giúp học sinh tìm hiểu, so sánh, nhận xét, phỏng đoán và ghi nhận sự vật dễ
dàng hiểu sự vật qua con mắt quan sát bằng nét vẽ, hình vẽ, màu sắc một cách nhanh
chóng, nhớ sự vật lâu hơn.
Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp “sử dụng đồ dùng trực quan trong
giảng dạy môn Mĩ thuật lớp 9” ở trường THCS sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất từ
đồ dùng trực quan và mạnh dạn xây dựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm này:
II. ĐỐI TƢỢNG,THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1. Đối tƣợng nghiên cứu:


Học sinh khối 9 trường trung học cơ sở Tân Việt.
2. Thời gian nghiên cứu:
Năm học 2012 – 2013 và học kì I năm học 2013 – 2014.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Là giáo viên bộ môn mĩ thuật của trường THCS Tân Việt tôi xin đề cập một vài
kinh nghiệm của bản thân trong việc “Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn mĩ
thuật lớp 9” tại trường THCS Tân Việt Huyện Yên Mĩ Tỉnh Hưng Yên.
III. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để tìm hiểu thành công đề tài với kết quả áp dụng được hiệu quả thì phương pháp
nghiên cứu góp một phần chủ yếu quan trọng. Đồng thời cần có sự kết hợp hài hòa giữa
các phương pháp sau:
- Phương pháp trực quan, quan sát sư phạm, minh họa.
- Phương pháp điều tra, có phiếu điều tra.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp gợi trí tò mò cho học sinh.
- Phương pháp đặt vấn đề và giao nhiệm vụ.
- Phương pháp hoạt động nhóm.

Tùy theo nội dung từng bài học mà có sự kết hợp phương pháp dạy học phù hợp để
mang lại hiệu quả tốt cho quá t nh dạy và học.
2. Mục đích nghiên cứu:
“Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn mĩ thuật lớp 9”
- Nhằm tạo hứng thú cho học sinh tích cực tìm hiểu học tập môn mĩ thuật.
- Rèn luyện óc sáng tạo cho học sinh.


B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận :
Do đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi là từ "trực quan sinh động đến tư duy trìu
tượng" vì vậy tầm quan trọng của đồ dùng trực quan trong các môn học là rất lớn. Với
môn mĩ thuật đòi hỏi càng cần thiết hơn. Nó kích thích hứng thú học tập của học sinh
làm cho học sinh say mê, lôi cuốn học sinh hấp dẫn học sinh tham gia vào việc sáng tạo
ra cái đẹp, là tiền đề cho giờ học đạt hiệu quả cao .
Tóm lại, việc sử dụng đồ dùng trực quan trong môn mĩ thuật ngoài việc học sinh
lĩnh hội được tri thức, nó còn có tác dụng lớn đến xúc cảm thấm mĩ, đến đạo đức, tình
cảm và trí tuệ của học sinh.
Dạy mĩ thuật cho học sinh không khác nào dạy văn miêu tả. Nếu trong văn miêu tả
chúng ta dùng ngôn từ, ngữ pháp để diễn đạt thì trong môn mĩ thuật lại dùng hình ảnh,
đường nét, hình mảng, bố cục, màu sắc để thể hiện nội dung định miêu tả. Do đặc thù lứa
tuổi cần phải nhìn thấy để cảm nhận, gợi mở nên môn mĩ thuật rất cần đồ dùng dạy học
để minh hoạ kích thích sự tìm tòi, sáng tạo nhất.
Tuy nhiên với tầm quan trọng của đồ dùng dạy học như vậy thì người giáo viên
phải biết sử dụng đồ dùng dạy học như thế nào để phát huy hết tính năng của đồ dùng
dạy học lại là điều không kém phần quan trọng.
Ví dụ
Cùng là một đề tài phong cảnh nhưng có nhiều chủ đề về phong cảnh miền núi,
nông thôn, thành phố, biển… Do vậy đồ dùng dạy học phải bao hàm những nét cơ bản
nhất hàm xúc nhất, học sinh lấy đó làm cơ sở phát huy gợi mở, sáng tạo cái đẹp.
Có thể nói: Trong giảng dạy mĩ thuật người giáo viên tìm được đồ dùng dạy học
thích hợp và biết sử dụng nó để có hiệu quả thì người giáo viên đó đã nắm được nội dung
bài dạy để đi tới sự thành công.
2. Cơ sở thực tiễn :
Học sinh lớp 9 ở giai đoạn cuối trung học cơ sở nên việc dẫn dắt gợi mở một
phương pháp vẽ cho học sinh là vô cùng quan trọng. Trong quá trình giảng dạy tôi thấy
rõ một điều là ở lớp 6, 7 các em vẽ tự nhiên ngây thơ, không đắn đo, không chần chừ,
không sợ sai nhưng lên lớp 9 nét vẽ trở nên ngập ngừng, hình vẽ khô cứng đơn điệu hay
thắc mắc, so sánh với thực tế cuộc sống. Sự hồn nhiên ngây thơ, chiều sâu của nét vẽ
không nhiều cảm xúc.


Chính vì vậy người giáo viên phải nắm bắt được tâm lý của trẻ và nắm bắt được
cách nhìn nhận của trẻ… từ đó tìm ra phương pháp dẫn dắt trẻ đi vào con đường sáng tạo
nghệ thuật một cách tự nhiên hơn. Muốn làm được điều đó thì việc sử dụng đồ dùng khi
dạy mĩ thuật là không thể thiếu. Chính điều này đã thôi thúc tôi đến với đề tài này .
I. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
Trong thực tế của ngành giáo dục, giáo viên của bộ môn mĩ thuật trong những
năm gần đây đã được chuyên biệt hóa cao. Tức là đã tương đối đủ chỉ tiêu giáo viên
chuyên dạy môn mĩ thuật trong trường THCS. Như vậy, ở các trường THCS học sinh đã
được học môn mĩ thuật do giáo viên chuyên phụ trách trước kia giáo viên thường vẫn dạy
theo nối truyền đạt cũ là thày nói trò ghi chép vì thế mà hiệu quả của việc dạy và học
chưa cao, khiến cho học sinh tiếp thu một cách thụ động, qua loa, chiếu lệ, có thái độ
không cần thiết. Một số giáo viên vẫn còn coi môn mĩ thuật là môn phụ, môn có cũng
được, không có cũng không sao, dạy thế nào cũng xong, khiến cho việc khích lệ học sinh
còn hạn chế. Phương pháp giảng dạy bộ môn mĩ thuật, cái khó là rất khó nếu như người
đóng vai trò gợi mở cho học sinh không biết cách tìm tòi, sáng tạo và kích thích sự tư duy
của học sinh.
1. Tình trạng thực tế khi chƣa thực hiện đề tài:
Số liệu khảo sát:
Khảo sát học sinh khối 9 trước khi áp dụng phương pháp sử dụng đồ dùng trong
dạy học được kết quả như sau:

Tổng số học
Giỏi
sinh khối 9
94

2

Khá

2.1
%

18

20.8
%

Trung
bình

Yếu

Kém

64 62.6
%

10 10.4
%

4 4.2
%

Nhận xét:
Qua số liệu khảo sát cho ta thấy tỉ lệ học sinh đạt giỏi còn quá ít. Số lượng học
sinh trung bình chiếm tỉ lệ cao nhất. Nguyên nhân dẫn đến số điểm của các em không cao


là do các em học thuộc lòng theo cách học vẹt, không chú ý đến ý nghĩa của bài học,
không chuẩn bị đồ dùng học tập chu đáo và đặc biệt không hứng thú trong học tập.
2. Thuận lợi và khó khăn
Thuận lợi:
* Đối với giáo viên:
Đa số giáo viên đều có lòng yêu nghề, mến trẻ, tận tụy với công tác giảng dạy,
chăm lo quan tâm đến học sinh.
* Đối với học sinh:
Học sinh được học môn mĩ thuật từ các lớp tiểu học.
Gia đình, nhà trường và xã hội luôn khuyến khích, động viên các em học tập các
môn học nói chung và môn mĩ thuật nói riêng.
Khó khăn:
- Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận không nhỏ học sinh yếu
kém dẫn đến chất lượng chưa cao.
- Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp trực quan
vào tiết học hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bài của học sinh.
- Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi được mạch nguồn
cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học.
+ Nặng sức ì, chưa khai thác hết tác dụng của đồ dùng dạy học.
Sức ì của một thời “dạy chay” vẫn tồn tại trong không ít giáo viên. Nhiều khi giáo
viên cò tâm lý lo sợ sẽ không thành công, sợ mất nhiều thời gian chuẩn bị dẫn đến việc
ngại sử dụng hoặc chỉ sử dụng thiết bị dạy học đối phó khi cần.
+ Chất lượng thiết bị dạy học còn kém cũng dẫn đến tình hình sử dụng thiết bị dạy
không thành công
- Sử dụng thiết bị dạy học còn lúng túng là do giáo viên chưa có trình độ chuẩn về sử
dụng thiết bị, các kỹ năng hầu hết là do giáo viên tự mày mò nghiên cứu, giáo viên chỉ
được hướng dẫn qua loa, không được đào tạo một cách bài bản và kỹ lưỡng nên rất lúng
túng khi kết hợp giảng bài và hướng dẫn học sinh làm bài.
- Một số học sinh vì lười học, chán học mải chơi, hổng kiến thức nên không chuẩn bị tốt
tâm thế cho giờ học.


- Địa phương xã Tân Việt thuộc vùng kinh tế còn khó khăn, hầu hết phụ huynh đều đi
làm ăn xa, ít có thời gian quan tâm kèm cặp con em mình. Bản thân các em còn phải phụ
giúp gia đình ngoài giờ lên lớp, không có thời gian học.
- Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trí như xem ti vi,
chơi game…ngày càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học, bị lôi cuốn, sao
nhãng việc học tập.
3. Những vấn đề cần giải quyết:
Trước thực trạng khó khăn, điều kiện dạy học chưa đầu đủ và đồng bộ, phương
pháp giáo dục chưa phát huy mạnh được vai trò của học sinh, để môn mĩ thuật thực sự trở
thành niềm thích thú của học sinh. Đồng thời bổ sung kỹ năng vẽ cho các phân môn.
Nhất thiết cần tìm ra nhiều hướng, nhiều phương pháp dạy học mới gây sự chú ý và thích
thú cho học sinh. Để làm được điều này giáo viên cần chú ý một số điểm sau:
+ Công tác chuẩn bị của giáo viên thật chu đáo cho bài giảng.
+ Hướng dẫn học sinh khái thác chuẩn bị bài.
+ Hướng dẫn học sinh chuẩn bị đồ dùng học tập.
Vấn đề này được giải quyết tốt thì hiệu quả sẽ đem lại một bài giảng thành công cho
bộ môn mĩ thuật.
II. CÁC GIẢI PHÁP:
Khái niệm về đồ dùng dạy học:
Đồ dùng dạy học là những hình ảnh, dụng cụ, đồ vật phục vụ cho việc dạy và học
mà học sinh có thể nhìn thấy được đặc biệt là được sử dụng trong công tác giảng dạy.
Đối với bộ môn mĩ thuật ở trường trung học cơ sở:
Đồ dùng dạy học không thể thiếu đối với người thầy khi lên lớp và đối với học
sinh khi nghiên cứu vấn đề. Vì thế đồ dùng dạy học chính là điều kiện, phương tiện để
dạy và học môn mĩ thuật ở các lớp trong trường trung học cơ sở.
Rõ ràng qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi đã thấy được tầm quan trọng của đồ
dùng dạy, nhất là trong việc hình thành cho các em thao tác thực hành, đem hình ảnh
sống động vào thực tế và có thể nói đồ dùng dạy học là nhịp cầu bắt qua ngôn ngữ, giúp
học sinh các lớp trung học cơ sở cảm thấy gần gũi và yêu thích bộ môn hơn. Tóm lại nội
dung kiến thức của bộ môn mĩ thuật bao giờ cũng đặt quan sát, phân tích và tiến hành
thực hành lên hàng đầu, do đó đồ dùng dạy học là không thể thiếu đối với hoạt động dạy
và học môn mĩ thuật.


Sử dụng các đồ dùng dạy học trong các tiết học lí thuyết và làm thực hành sẽ giúp
học sinh rèn luyện kĩ năng thao tác với các đồ dùng dạy, là một trong những biện pháp
quan trọng để thu thập thông tin từ thực tế. Thông qua đồ dùng dạy.
Các đồ dùng dạy hiện đại có sự trợ giúp của đồ dùng dạy như máy tính, máy chiếu
projector, máy chiếu hắt, tivi, loa, giúp các nội dung kiến thức được làm rõ, giờ học trở
nên sinh động, hấp dẫn hơn. Có thể nói đồ dùng dạy học với việc sử dụng có hiệu quả đồ
dùng, thiết bị dạy học là một trong những yếu tố quyết định thành công của giờ dạy. Như
vậy có thể khẳng định: muốn nâng cao được chất lượng và hiệu quả dạy cho môn học,
giáo viên cần phải sử dụng tích cực và phát huy tối đa những chức năng của đồ dùng dạy
học.
Việc sử dụng đồ dùng dạy học ở trường hiện nay có các hình thức sau:
* Phiếu học tập (cá nhân hoặc nhóm) kết hợp với bảng phụ hoặc máy chiếu. Có thể sử
dụng trong các tiết lý thuyết hay thường thức mĩ thuật.
* Tranh, ảnh, mô hình ( Tranh phiên bản của các họa sĩ trong nước và thế giới, bài vẽ
của học sinh, tranh vẽ và cách hướng dẫn của giáo viên, đồ vật thật…)
* Các phương tiện nghe nhìn: Máy chiếu projector, đầu video, băng hình, máy tính…
Để một tiết dạy mĩ thuật đạt kết quả cao tôi luôn ý thức cho mình phải có sự chuẩn
bị chu đáo và thực hiện trọn vẹn những vấn đề sau :
- Sử dụng thiết bị dạy học phải phù hợp với mục tiêu bài học.
- Chuẩn bị đồ dùng dạy học chu đáo, khoa học và có hiệu quả.
- Sử dụng đồ dùng dạy học đúng lúc đúng chỗ.
- Khai thác đồ dùng dạy học hết tính năng và tác dụng của nó.
- Không lạm dụng đồ dùng dạy học .
1. Sử dụng thiết bị dạy học phải phù hợp với mục tiêu bài học:
Đồ dùng dạy học có nhiều loại như tranh phiên bản của họa sĩ trong nước và thế
giới, tranh vẽ của họa sĩ và học sinh, mẫu vật thực, máy chiếu đa năng, máy tính...Vì thế
khi sử dụng giáo viên phải lựa chọn đồ dùng trực quan phù hợp với mục đích, yêu cầu bài
học, đi theo một trình tự nhất định thì mới đạt được hiệu quả bài dạy.
Giáo viên phải khéo léo đưa ra những câu hỏi vừa sức với học sinh, tránh những
câu hỏi thách đố để các em rơi vào thế bí điều đó chỉ làm mất thời gian tiết dạy. Giáo
viên phải biết kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như miêu tả, tường thuật, phân tích,


hướng dẫn nhằm huy động tối đa kỹ năng làm việc của học sinh: tai nghe, mắt thấy, biết
phân tích suy luận vấn đề.
2. Chuẩn bị đồ dùng dạy học chu đáo, khoa học và có hiệu qủa :
Muốn tiết dạy hiệu quả, thầy truyền đạt được hết kiến thức cần thiết, trò tiếp thu
tốt, lĩnh hội được yêu cầu bài thì việc chuẩn bị đồ dùng dạy học là rất quan trọng, để gây
được hứng thú và niềm say mê học vẽ cho học sinh thì :
+ Giáo viên cần chuẩn bị: Tranh ảnh, tư liệu, bài vẽ…
+ Học sinh: Đồ dùng học tập đủ bộ ( giấy A4, bút chì, màu, tẩy, tranh ảnh sưu tầm,
vở, SGK ...)
Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh rất hiếu động, tò mò, dễ thích ứng
nhưng cũng rất dễ chán nản. Vì vậy đồ dùng phải có tính sư phạm phù hợp với nội dung
bài dạy. Tranh ảnh phải rõ ràng, chuẩn mực có tính gợi mở đảm bảo tính thẩm mĩ, tính
khoa học và tính giáo dục cao. Tránh tình trạng đồ dùng đơn điệu, không trọng tâm, cẩu
thả tuỳ tiện, thiếu thẩm mĩ điều đó sẽ dẫn tới không phát hiện được óc thẩm mĩ và tư duy
sáng tạo của học sinh.
Đồ dùng phải rõ cho toàn bộ học sinh bao quát được, quan sát dễ dàng nếu không
sẽ ảnh hưởng đến quá trình giảng dạy .
Ví dụ : Tiết 10 - Bài 10 Vẽ tranh: Đề tài Lễ hội
Tôi chuẩn bị 1 số bài vẽ trên khổ A3 vẽ về các lễ hội khác nhau, các hình ảnh về
lễ hội cũng khác nhau như tranh vẽ về Lễ hội đấu vật, đua thuyền, hát quan họ, trọi gà, đi
chơi hội đầu xuân… Học sinh quan sát rõ có thể tìm nhiều cách thể hiện. Nếu như sử
dụng các bài vẽ vào giấy A4 thì hơi nhỏ học sinh khó quan sát và sẽ rối mắt, các hình ảnh
sẽ không rõ ràng như bài vẽ ở khổ A3. Tuy nhiên tôi cũng sử dụng những bài chưa đẹp về
cả hình, bố cục và màu sắc để học sinh rút kinh nghiệm cho bài vẽ của mình. Ngoài
những đồ dùng do thầy trò tự tạo ra thì đồ dùng thiên nhiên là một trong những đồ dùng
sống động nhất đối với đôi mắt trẻ thơ. Chính vì vậy trước khi học bài này tôi đã hướng
dẫn các em tự quan sát các lễ hội ở quê mình đặc biệt là lễ hội Tứ thôn ở xã Tân Việt
trong nhiều khía cạnh.
Ví dụ: Tiết 4 – Bài 4 Vẽ trang trí: Tạo dáng và trang trí túi xách
Giáo viên chuẩn bị ba loại đồ dùng:
- Tranh vẽ của giáo viên và học sinh về các loại túi xách phong phú về kiểu dáng, màu
sắc, họa tiết trang trí.
- Ảnh chụp về các loại túi xách


- Một số chiếc túi xách thật ( lưu ý giáo viên chuẩn bị những chiếc túi có nhiều kích
thước, màu sắc, chất liệu, họa tiết trang trí... khác nhau) để học sinh được tận mắt nhìn và
sờ vào chiếc túi.

Tranh vẽ: tôi chọn 1 số tranh vẽ của học sinh vẽ theo cách nghĩ cách cảm nhận và
sự quan sát được của các em.


Trong các bài vẽ mẫu cho học sinh tham khảo tôi cũng đưa ra một số bài vẽ chưa
đẹp để học sinh rút kinh nghiệm về cách sắp xếp bố cục, cách tạo dáng và trang trí khi vẽ
:
+ Bài vẽ 1: cái túi xách nhỏ ở giữa tờ giấy.
+ Bài vẽ 2: cái túi xách to chiếm hết tờ giấy.
+ Bài vẽ 3: cái túi xách vừa không quá to hay quá nhỏ đặt ở chính giữa tờ giấy.
Qua quan sát tranh học sinh gợi mở được nhiều điều trong khi vẽ phải chú ý : bố
cục (cách sắp xếp). Ngoài đồ dùng gợi về kiểu dáng và họa tiết tranh trí cho học sinh thì
giáo viên phải chuẩn bị đồ dùng về bố cục, màu sắc và cách tô màu .
Giáo viên đưa ra những câu hỏi:
? Theo em túi xách thường có dạng hình gì ?
? Dáng như thế nào ?
? Túi xách thường làm bằng những chất liệu gì ?
? Màu sắc túi xách như thế nào ?
? Những họa tiết nào được đưa vào trang trí túi xách ?
? Túi xách có vai trò gì ?
Sau khi đưa ra những câu hỏi giáo viên lần lượt giới thiệu những bức tranh ảnh về
các loại túi xách.
Giới thiệu tranh, ảnh xong giáo viên đưa ra những chiếc túi thật và giới thiệu cho
học sinh có thể gọi học sinh lên để tận tay sờ và cảm nhận.
Sau phần hướng dẫn cách tạo dáng và trang trí giáo viên giới thiệu những bài vẽ của
học sinh khóa trước.


3 Sử dụng đồ dùng đúng lúc, đúng chỗ :
Chuẩn bị tốt đồ dùng rất cần thiết nhưng chưa đủ. Sử dụng đồ dùng đúng lúc, đúng
chỗ mới là điều kiện để đồ dùng phát huy hiệu quả. Thông thường đồ dùng tôi thường
cho các em quan sát ở hai phần đó là hướng dẫn quan sát và nhận xét, hướng dẫn cách vẽ.
Khi học sinh đã thực hành tôi cất đi để các em không sao chép. Thời gian treo đồ dùng
cũng tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Nếu như là các tiết đầu tôi thường đưa ra các câu
hỏi vấn đáp trước sau đó mới treo tranh. Thông qua các câu trả lời và quan sát thấy các
em đã hình thành được nội dung bài và cách thể hiện riêng của mình. Tuy nhiên các tiết
học cuối buổi học sinh uể oải mệt mỏi thiếu tập trung thì ngay từ đầu tôi đã treo đồ dùng
để gây sự chú ý của học sinh hướng học sinh vào sự tò mò, dẫn dắt học sinh vào khám
phá nội dung bài học.
Khi treo tranh phải để học sinh nhận xét, nhìn nhận ra vấn đề thông qua các câu hỏi
của giáo viên, tránh tình trạng treo tranh ra mà không phân tích giảng giải hay vừa treo
lại cất đi ngay.
Để tạo sự lôi cuốn học sinh tham gia vào giờ học đôi khi người giáo viên phải biết
kết hợp minh họa nhanh trên bảng kết hợp với đồ dùng làm sẵn tạo chiều sâu của tiết học
có chất lựợng.
Tuỳ theo đối tượng học sinh mà phần củng cố có thể treo để học sinh củng cố lại
hoặc có thể lấy luôn bài vẽ đẹp và chưa đẹp của học sinh để học sinh củng cố nhận xét và
hoàn thiện bài ở nhà .
Ví dụ Tiết 15 – bài 15: Vẽ trang trí: Tạo dáng và trang trí thời trang
Trước khi cho học sinh quan sát tranh tôi đưa ra một hệ thống câu hỏi trước sau đó
mới cho học sinh quan sát và nhận xét tranh .
Hệ thống câu hỏi :
Em hay quan sát một số bộ trang phục do cô chuẩn bị hãy cho biết
? Đây là những bộ trang phục gì ?
GV giới thiệu một số trang phục đã chuẩn bị về hình dáng, kiểu cách, chất liệu, mục đích
sử dụng.
- GV giới thiệu một số hình ảnh qua máy chiếu đa năng và đặt câu hỏi
? Thời trang là gì ?
GV giới thiệu: Sự thay đổi thời trang xưa  nay (Thời trang là thước đo của xã hội, kinh
tế, văn hóa vì xã hôi, kinh tế phát triển thời trang cũng thay đổi theo sự phát triển đó)


- GV giới thiệu hình ảnh qua máy chiếu đa năng
? Thời trang giữa các vùng miền có khác nhau không ? vì sao ?
- GV giới thiệu hình ảnh qua máy chiếu đa năng


? Em có nhận xét gì về các mẫu thời tranh và màu sắc ?
? Theo em như thế nào là trang phục đẹp ?
- GV giới thiệu đưa ra ví dụ trang phục đẹp cần phù hợp theo tuổi tác, theo mùa, giới
tính, văn hóa dân tộc, hoàn cảnh( đặc biệt về trang phục học đường,…thông qua hình
ảnh).
- GV giới thiệu hình ảnh qua máy chiếu đa năng
? Ngoài thời trang quần áo còn có các vật dụng đi kèm gì ?
- GV giới thiệu hình ảnh qua máy chiếu đa năng
? Thời trang có ý nghĩa như thế nào với cuộc sống ?
Sau khi đưa ra một hệ thống câu hỏi như trên, trên máy chiếu đa năng và cho học
sinh nêu nhận xét.


Khi học sinh đã nhận xét tôi đưa ra một số bức tranh vẽ màu đẹp và chưa đẹp và
đưa ra câu hỏi cho học sinh nhận xét về màu .
* Sang phần cách vẽ: Giáo viên thị phạm trên bảng theo từng bước cụ thể, trang phục
nam đến trang phục nữ.
Trước khi đến phần thực hành tôi cho học sinh quan sát một số bài tiêu biểu về cả
nội dung và hình thức thể hiện các mẫu trang phục của học sinh khóa trước, tôi nhận xét
qua và cất tranh đi .

Phần thực hành hoàn toàn do mỗi em phát huy khả năng sáng tạo của bản thân trên
cơ sở đã được quan sát gơị ý và sự hướng dẫn của giáo viên cùng với cảm nhận và sự
hiểu của mình.
4. Khai thác hết tính năng, tác dụng của đồ dùng :


Giáo viên phải biết khai thác triệt để tính năng của đồ dùng thì giờ học mới sôi nổi
hấp dẫn. Muốn như vậy giáo viên phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi kèm theo để khai thác
hết kiến thức. Tức là giáo viên phải kết hợp cùng lúc 3 phương pháp: trực quan - quan sát
nhận xét - hỏi đáp học sinh tiến tới sự liên tưởng, hình thành khả năng nhớ lại các hình
ảnh đã được quan sát, nhìn nhận, phát huy óc sáng tạo khi vẽ bài .
Ví dụ 1: Tiết 5 – Bài 5 Vẽ tranh: Đề tài phong cảnh quê hƣơng
Tôi đưa đồ dùng ra theo 4 loại bài vẽ phong cảnh chính :
+ Phong cảnh nông thôn
+ Phong cảnh miền núi.
+ Phong cảnh miền biển .
+ Phong cảnh thành phố .

Đưa ra hệ thống câu hỏi :
+ Thế nào là tranh phong cảnh ?


(Là tranh vẽ về cảnh vật thiên nhiên ….)
+ Tranh phong cảnh thường có những loại nào ? ( 4 loại )
+ Em có nhận xét gì về từng loại tranh phong cảnh .
+ Em hãy so sánh các loại tranh phong cảnh đó ?
+ Em có nhận xét gì về cách tô màu và màu sắc trong tranh ?
+ Em yêu quý tranh nào ? Tại sao ?
Ví dụ 2: Tiết 14 – Bài 13: Vẽ theo mẫu: Tập vẽ dáng ngƣời
Giáo viên giới thiệu một số hình ảnh, yêu cầu học sinh quan sát và đưa ra câu hỏi:
? Hình này vẽ những hoạt động gì ?
? Các em có nhận ra tư thế của đầu, tay, chân, thân ? người khi đứng, cúi ngồi quỳ… như
thế nào ?

Qua hình ảnh đó gợi ý học sinh tìm ra tỉ lệ các bộ phận và chỉ ra cho học sinh thấy
được trục của từng bộ phận cơ thể người, dáng người ở tư thế đứng, đi, chạy, nhảy, ngồi,
quỳ…
Giáo viên cho học sinh xem tranh vẽ những hoạt động khác nhau của các nhân vật.
5. Không lạm dụng đồ dùng dạy học :


Học sinh trung học cơ sở thích những cái mới, cái lạ để bắt chước theo, thích ghi
nhận nhiều nhưng lại ít có khả năng chọn lọc. Vì vậy giáo viên phải thường xuyên đổi
mới đồ dùng và không nên lạm dụng đồ dùng nếu không sẽ phản tác dụng dẫn đến nhàm
chán.
Ví dụ Tiết 18 – bài 18: Vẽ tranh: Đề tài tự chọn
Tôi thấy ở bài này nhiều giáo viên chưa biết chọn lọc để giảng bài vẽ tự chọn cho
hiệu qủa. Có giáo viên đưa ra rất nhiều tranh vẽ mà vẫn cảm thấy thiếu, chưa đủ, chưa
nói được hết những gì bài yêu cầu và khả năng học sinh chưa đạt được sự thoả mãn .
Nhiều giáo viên còn chưa xác định được "thế nào là vẽ tranh đề tài tự chọn". Có
giáo viên đưa cả vẽ trang trí, vẽ theo mẫu vào đồ dùng. Chính vì vậy mà bài giảng lan
man không tập trung. Ở bài này tôi chọn mỗi chủ đề một tranh :
- Tranh phong cảnh: + Phong cảnh nông thôn.
+ Phong cảnh miền núi.
+ Phong cảnh miền biển .
+ Phong cảnh thành phố .

- Tranh sinh hoạt :

+ Lao động


+ Học tập
+ Thể thao, văn nghệ…

Tôi tập trung vào mỗi loại 1 tranh để gợi mở đề tài cho học sinh tự lựa chọn chủ đề
để vẽ . Vì thế bài vẽ của học sinh vừa phong phú về đề tài vừa đảm bảo thời gian thực
hành của học sinh và khả năng sáng tạo của học sinh sẽ cao hơn .
6. Những kết quả đạt đƣợc
a. Đối với giáo viên:
- Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức về việc sử dụng đồ dùng dạy – học vào
giảng dạy.
- 100% giáo viên đã đăng ký sử dụng thiết bị phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của bài
dạy, giáo viên đã sử dụng giáo án điện tử.
- Mặc dù cũng gặp rất nhiều khó khăn, nhưng nhiều giáo viên đã đầu tư mua máy tính
xách tay để phục vụ cho giảng dạy. Điều đó thể hiện sự yêu nghề, tâm huyết với nghề,
khát khao học hỏi để nâng cao hiệu quả cách dạy của giáo viên và cách học của học sinh.
b. Đối với học sinh:
- Tích cực, tự giác và chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức.


- Trong các tiết dạy có sử dụng thiết bị dạy hoc, ứng dụng công nghệ thông tin học sinh
học sôi nổi, hứng thú hơn.
- Đa số học sinh đã vận dụng được lý thuyết vào thực hành, nhớ và khắc sâu được kiến
thức.
Việc sử dụng đồ dùng dạy học kết hợp với các phương pháp sư phạm đã tạo hiệu
quả cao. Bằng chứng sinh động nhất chính là sự say mê học mĩ thuật, sự đón chờ háo hức
đến giờ học mĩ thuật. Nhiều học sinh mong chờ đến tiết học vẽ để thể hiện tài năng cũng
như thể hiện mình qua bài vẽ. Lớp học sôi nôi hứng thú ý thức học tốt hơn thúc đẩy các
môn học khác. Nhiều em mạnh dạn hơn, biết vận dụng môn học vào cuộc sống một cách
có ý thức thẩm mĩ.
Sau mỗi tiết học đều có nhận xét đánh giá. Đặc biệt qua quá trình thu thập kết quả
tôi thấy rất khả quan.
Kết quả
Kết quả sau khi áp dụng đưa phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học vào dạy học.
Qua thời gian giảng dạy được áp dụng, với sáng tạo của thày và hoạt động tích cực của
học sinh cùng với một số phượng pháp tổ chức hợp lý, bản thân tôi thấy kết quả đạt được
một cách tích cực với tỉ lệ học sinh hứng thú và đạt giỏi với những yêu cầu cụ thể, chứng
tỏ thành tích đạt được qua trải nghiệm hoàn toàn có sức thuyết phục. Những con số biểu
hiện trong bảng thống kê dưới đây đã nói rất rõ điều đó, cho tới hết học kỳ I năm học
2013 -1014 cụ thể như sau:
Tổng
số
học
sinh Giỏi
khối 6
94

10 8.3%

Khá

Trung bình

Yếu

50 52.1
%

34 39.6%

0

Kém

0% 0

0%

Với kết quả như trên tôi thấy việc dạy học mĩ thuật muốn có kết quả giảng dạy
cao thì người thày phải không ngừng tìm tòi và đổi mới phương pháp dạy học để tạo
được cách dạy lấy học sinh làm trung tâm cho bài dạy, giáo viên chỉ là người hướng dẫn,
gợi mở, dẫn đường thì ngoài việc sử dụng một số phương pháp dạy học truyền thống
cũng cần kết hợp nhiều phương pháp để tiết học sinh động hơn. Với kết quả này mỗi
chúng ta cũng không lấy đó làm bằng lòng để rồi dừng ở đó mà theo tôi là giáo viên học


hỏi, tìm tòi và sáng tạo trong cách dạy là một nhiệm vụ mỗi ngày của người thày, hoạt
động đó phải được diễn ra thường xuyên có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày
càng cao đối với tri thức.
MỘT SỐ GIÁO ÁN MẪU MÔN MĨ THUẬT LỚP 9
Tiết 15. Bài 15. Vẽ trang trí
Tạo dáng và trang trí thời trang
(tiết 1 )
I. Mục tiêu bài học :
- HS hiểu về nội dung và sự cần thiết của thiết kế thời trang trong cuộc sống.
- HS biết tạo dáng một số mẫu thời trang theo ý thích.
- HS coi trọng những sản phẩm thời trang mang bản sắc dân tộc.
II. Chuẩn bị :
1. Giáo viên :
- Máy chiếu đa năng
- Hình phóng to một số mẫu thời trang.
- ảnh trang phục truyền thống và hiện đại,…
- Sưu tầm một số mẫu thời trang trong cuộc sống.
- Bài vẽ của học sinh khóa trước.
2. Học sinh :
- Đồ dùng học tập đủ bộ.
- Sưu tầm tranh, ảnh về thời trang.
3. Phƣơng pháp dạy - học :
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp gợi mở.
- Phương pháp vấn đáp.
- Phương pháp hoạt động nhóm
- Kết hợp một số phương pháp khác.
III. Tiến trình dạy học :


1. ổn định lớp học : 1 phút.
- Kiểm tra sĩ số
- ổn định trật tự.
2. Kiểm tra bài cũ : 1 phút.
- Kiểm tra đồ dùng học tập của học sinh.
3. Bài mới : “tạo dáng và trang trí thời trang ”: 38 phút.
Giới thiệu bài:
Thời trang làm cho cuộc sống con người thêm đẹp và văn minh. Thời trang là lĩnh vực
rất rộng, bao gồm cách ăn mặc, cách trang điểm, kết hợp với các vật dụng, phương tiện đi
kèm như đồng hồ, túi xách, xe máy, ô tô,...
Mỗi dân tộc trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều có trang phục khác
nhau, mang bản sắc văn hoá và vẻ đẹp riêng
Trên đất nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em sinh sống, mỗi dân tộc có phong tục tập
quán riêng về trang phục cũng có vẻ đẹp khác nhau như áo tứ thân, áo dài của phụ nữ
miền xuôi. trang phục của phụ nữ các dân tộc miền núi.
Vậy để hiểu thêm về thời trang đặc biệt là thời trang quần áo và làm thế nào tạo ra
được các bộ quần áo theo ý thích hôm nay chúng ta cùng học bài “Tạo dáng và trang trí
thời trang”
- GV nêu yêu cầu bài : bài này thực hiện trong hai tiết, tiết 1 tạo dáng áo, quần hay váy,...
tiết 2 trang trí và tô màu.
Hoạt động 1
Hƣớng dẫn học sinh quan sát nhận xét
Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

- GV giới thiệu một số bộ trang - HS quan sát mẫu thật
phục đã chuẩn bị
- GV đặt câu hỏi :

- HS trả lời trên cơ sở
Em hay quan sát một số bộ quan sát được ( áo comle,
trang phục do cô chuẩn bị hãy áo tứ thân. áo dài, quần
cho biết
zin áo phông, bộ váy dân
? Đây là những bộ trang phục tộc. đồng phục học sinh.

Ghi bảng
I. Quan sát- nhận
xét.


gì ?
GV giới thiệu một số trang
phục đã chuẩn bị về hình dáng,
kiểu cách, chất liệu, mục đích
sử dụng.
* Ngoài một số bộ trang phục
trên các em hãy hướng lên màn - HS quan sát trên màn
hình quan sát tiếp một số trang hình máy chiếu
phục
+Thời trang là lĩnh vực rất
- GV giới thiệu một số hình rộng bao gồm cách ăn
ảnh và đặt câu hỏi
mặc cách trang điểm và
các vật dụng đi kèm như:
? Thời trang là gì ?
đồng hồ, túi xách, xe
cộ…được thiết kế để phục
vụ con người trong một
khoảng thời gian và không
gian nào đó.
GV giới thiệu: Sự thay đổi thời
trang xưa  nay (Thời trang là
thước đo của xã hội, kinh tế,
văn hóa vì xã hôi, kinh tế phát
triển thời trang cũng thay đổi
theo sự phát triển đó)
- GV giới thiệu hình ảnh
? Thời trang giữa các vùng + Thời trang các vùng,
miền có khác nhau không ? vì miền khác nhau vì :
sao ?
Văn hóa, thời tiết khác
nhau,…
- GV giới thiệu hình ảnh
? Em có nhận xét gì về các + Kiểu dáng, màu sắc
phong phú và đa dạng
mẫu thời tranh và màu sắc ?
? Theo em như thế nào là trang
+ Trang phục đẹp cần phải


phục đẹp ?

phù hợp theo tuổi tác, theo
- GV giới thiệu đưa ra ví dụ mùa, giới tính, văn hóa
trang phục đẹp cần phù hợp dân tộc, hoàn cảnh,…
theo tuổi tác, theo mùa, giới
tính, văn hóa dân tộc, hoàn
cảnh( đặc biệt về trang phục
học đường,…thông qua hình
ảnh.
- GV giới thiệu hình ảnh

+ Đồng hồ, túi xách, xe
? Ngoài thời trang quần áo còn máy, ô tô,…
có các vật dụng đi kèm gì ?
- GV giới thiệu hình ảnh

+ Thời trang làm cho cuộc
? Thời trang có ý nghĩa như thế sống con người thêm đẹp
và văn minh hơn
nào với cuộc sống ?
- GV nhấn mạnh: Thời trang
rất cần thiết đối với con người
nó mang giá tri văn hóa tinh
thần lớn và chỉ xuất hiện với
loài người văn minh.
Hoạt động 2
Hƣớng dẫn HS cách tạo dáng và trang trí thời trang
Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

Ghi bảng

- GV đặt câu hỏi.

- HS trả lời câu hỏi.

II. Cách tạo
dáng và trang
trí :

? Để tạo dáng áo chúng ta phải + Tìm hình dáng chung.
tiến hành những bước gì ?
+ Kẻ trục tìm dáng áo
- GV yêu cầu HS tìm khung +Tìm các chi tiết :
hình, kẻ trục.
(cổ tay, tay áo, có đường
- GV có thể đưa ra một số hình nét cụ thể).
quần áo để HS tự nêu ra
- HS liên hệ thưc tế

1. Tạo dáng
áo.
-Tìm
hình
dáng chung.
- Kẻ trục tìm


đựơc khung hình từng cái.

dáng áo

- GV giới thiệu cách tiến hành +HS quan sát
tạo dáng chiếc áo của nữ giới
trên máy chiếu đa năng.

- Tìm các chi
tiết :

- GV nhắc HS chú ý đặc điểm
cơ thể nữ : vai nhỏ mông rộng...
nên cần vẽ sát người.
- GV thị phạm trên bảng cách
tạo
- HS quan sát
dáng áo nam và quần (nếu có
thời gian )
(trong lúc thị phạm GV kết hợp
lời nói hướng dẫn HS cụ thể
từng bước tiến hành
- GV hướng dẫn: Thông qua
cách tạo dáng áo, từ đó các em + HS quan sát và trả lời
có thể tạo dáng thời trang theo câu hỏi
ý thích với cách thức tương tự
- GV đưa ra một số bài có bố
cục đẹp và chưa đẹp yêu cầu
HS nhận xét và rút ra bài học + HS quan sát, nhận biết
cho bài vẽ của mình
và rút kinh ngiệm cho bài
- GV giới thiệu cho HS một số vẽ của mình.
bài vẽ trang phục do GV chuẩn
bị
+ HS quan sát
(trang phục áo dài, thời trang
công sở, trang phục mùa hè).
- GV giới thiệu một số trang
phục của học sinh khóa trước. + HS quan sát
Hoạt động 3
Hƣớng dẫn học sinh làm bài

(cổ tay, tay
áo, có đường
nét cụ thể).


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×