Tải bản đầy đủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO TOÀN cầu hóa và KHU vực hóa đối với các nước ĐANG PHÁT TRIỂN

1

TOÀN CẦU HOÁ
VÀ KHU VỰC HOÁ ĐỐI VỚI
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

Trong suốt mấy thập kỷ qua, những thay đổi cơ cấu diễn ra trong nền
kinh tế thế giới đã làm tăng nhanh các mối quan hệ kinh tế qua biên giới và
hình thành nên nền kinh tế toàn cầu. Quốc tế hoá thương mại và đầu tư có sự
hỗ trợ của chế độ phi điều chỉnh các thị trường tài chính trên toàn thế giới đã
thúc đẩy quá trình hợp nhất kinh tế và hình thành các khối khu vực. Nhiều
hình thức phân công lao động mới, phương thức sản xuất, sử dụng các
nguồn lực và tích lũy vốn khác về chất đã ra đời. Tác động quan trọng nhất
của sự thay đổi cơ cấu gần đây trong nền kinh tế thế giới là hình thành sự
phụ thuộc lẫn nhau và một khối kinh tế toàn cầu.
Mặc dù liên kết kinh tế thế giới không còn là hiện tượng mới mẻ, nhưng
những thay đổi cơ cấu này đã tạo nên sự biến đổi căn bản trong việc thiết lập
một thị trường toàn cầu, có nghĩa là có sự chuyển hướng từ thương mại quốc
tế sang sản xuất quốc tế với ưu thế của nền tài chính quốc tế và các ngành
công nghiệp có hàm lượng chất xám
cao. Cook và Kirkpatrick đã viết: "Quốc tế hoá hoạt động kinh tế không phải

là một hiện tượng mới...Tuy nhiên, sự tăng trưởng trong liên kết quốc tế đã
khác về chất so với việc mở rộng thương mại quốc tế trước đây và được đặc
trưng bởi sự tăng cường mối liên kết quốc tế qua biên giới quốc gia".
Những năm trước đây, thương mại quốc tế và việc giảm bớt hàng rào
thương mại đóng vai trò chủ đạo trong liên kết kinh tế thế giới thì ngày nay,

1


2
trong nền kinh tế toàn cầu, các công ty đa quốc gia (MNCs), thị trường vốn
và tài chính cũng như công nghệ thông tin và máy tính đang giữ vị trí chủ
đạo.
Kể từ đầu thập kỷ 80, MNCs đã phát triển không những về mặt số lượng
mà còn về tỷ lệ đầu tư của chúng. Trong những năm đầu thập kỷ 90, có
khoảng 37 000 MNCs kiểm soát tới 170 000 chi nhánh và phần của chúng
trong tổng FDI toàn cầu là 2 000 tỷ USD. Ngày nay, doanh thu của một số
MNCs còn lớn hơn rất nhiều tổng sản phẩm kinh tế quốc dân (GNP) của một
số nước đang phát triển (ĐPT).
Quá trình toàn cầu hoá cũng được thúc đẩy bởi tầm quan trọng ngày càng
tăng của các thị trường tài chính và các tổ chức tài chính hiện đang đóng vai
trò chủ đạo trong các mối quan hệ kinh tế toàn cầu. Chế độ phi điều tiết thị
trường tài chính và tự do hoá chính sách tỷ giá hối đoái ở cả các nước phát
triển và các nước ĐPT làm cho dòng tài chính giữa các quốc gia tăng lên và
mang lại sự liên kết ngày càng tăng trong nền kinh tế thế giới.
Do những ảnh hưởng của toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra ở
mọi nơi trên thế giới, các nhà khoa học xã hội bắt đầu tiến hành xem xét,
tranh luận về hai khái niệm này và các mối quan hệ giữa chúng, cũng như
ảnh hưởng của chúng đối với sự tăng
trưởng và sự thịnh vượng của các quốc gia ĐPT. Nhiều vấn đề cũng đã nảy
sinh giữa các học giả. Một số học giả, như Hirst, đặt câu hỏi rằng liệu có thể
có một nền kinh tế toàn cầu hay không? Trong khi các học giả khác lại cho
rằng hình thức kinh tế mới về chất đã và đang đặt nền móng cho sự xuất
hiện của toàn cầu hoá và khu vực hoá. Các nhà khoa học xã hội cũng đang
2


3
tranh luận về việc toàn cầu hoá sẽ thúc đẩy hay hạn chế sự thịnh vượng của
các quốc gia ĐPT, và nếu hạn chế thì chúng có gây ra sự bất bình đẳng kinh

tế, xã hội mang tính khu vực hay không?
Trong bài viết này, tôi sẽ xem xét bản chất của toàn cầu hoá và khu vực
hoá, mối quan hệ và tác động của chúng đối với các nước ĐPT.
Toàn cầu hoá là một thuật ngữ của thập kỷ 90. Là một tiến trình phát
triển, toàn cầu hoá không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, mà
còn mở rộng sang khía cạnh văn hoá, xã hội và cách sống. Như vậy, toàn
cầu hoá là "một hiện tượng đa phương diện áp dụng cho nhiều hình thức
hoạt động xã hội đa dạng - như kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hoá, quân sự
và công nghệ - cũng như các vấn đề hoạt động xã hội như môi trường".
Các học giả không có sự thống nhất trong việc định nghĩa chính xác về
toàn cầu hoá, hoặc tác động của nó đến cuộc sống và đến hành vi của chúng
ta. Một số học giả có ý định mở rộng toàn cầu hoá như một khái niệm chính
trị, trong khi một số khác cố gắng làm sáng tỏ khái niệm này trong phạm vi
phát triển kinh tế, chính trị và môi trường gần đây. Một số người tập trung
phân tích tác động tích cực của toàn cầu hoá, nhưng một số khác lại nhấn
mạnh những ảnh hưởng trái ngược của nó đối với thu nhập, bất bình đẳng xã
hội, phụ nữ và người nghèo. Một số học giả lại nhấn mạnh tác động của toàn
cầu hoá đến các chính phủ quốc gia và cho rằng các chính phủ quốc gia đã
mất hết vai trò chủ thể quan trọng khi tham dự vào nền kinh tế toàn cầu của
thế giới không biên giới hiện nay".

3


4
Do toàn cầu hoá có ảnh hưởng lớn đến vô số các quốc gia, cá nhân và
đoàn thể, nên người ta buộc phải định nghĩa chính xác lại khái niệm rất quan
trọng nhưng khó nhớ này, cũng như xem xét các tác động của nó. Trong
những trường hợp đơn giản, toàn cầu hoá được xem như là sự liên kết kinh
tế thế giới, theo đó những gì đang diễn ra ở một phần thế giới đều có tác
động đến môi trường kinh tế, xã hội và cách sống của các cá nhân, cộng
đồng ở những nơi khác trên thế giới. McGrew cho rằng: "Toàn cầu hoá là...
việc hình thành một chuỗi vô số các mối liên kết và ràng buộc giữa các
chính
phủ và các xã hội, tạo lập nên hệ thống thế giới hiện đại. Toàn cầu hoá cũng
là quá trình mà ở đó các sự kiện, các quyết định và các hoạt động của một
phần thế giới có thể tác động nghiêm trọng đến các cá nhân và cộng đồng ở
các phần khác xa khác của trái đất".
Toàn cầu hoá là kết quả của sự liên kết kinh tế, chính trị và địa kinh tế.
Sau khi chế độ Bretton Woods sụp đổ trong những năm đầu thập kỷ 70, các
thị trường tài chính (bao gồm cả lãi suất và tỷ giá hối đoái) đều được thả nổi,
và đã làm tăng dòng di chuyển vốn giữa các quốc gia. Trước đó, hệ thống tài
chính thế giới phải chịu sự chi phối của hiệp ước Bretton Woods năm 1945,
theo đó, giá trị các đồng tiền được biểu hiện bằng đồng đôla và vàng với
những tỷ giá hối đoái cố định. Khi chế độ này bị hủy bỏ vào năm 1971 dưới
chính quyền Nixon và được thay thế bằng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, thị
trường toàn cầu mới được đặt nền móng.
Điều này được củng cố thêm nhờ sự tái xuất hiện tư tưởng thị trường tự
do theo trường phái tự do mới về tự do hoá, tư nhân hoá và chế độ phi điều
tiết vốn đã trở thành "trò chơi duy nhất trong thị trấn", sau khi các phái bảo
4


5
thủ chính trị lên cầm quyền - Ronald Reagan ở Mỹ và Margaret Thatcher ở
Anh. Nó còn được củng cố hơn nữa nhờ sự sụp đổ của các nền kinh tế thuộc
khối XHCN cũ và sự xuất hiện tư tưởng tự do mới với tư cách một trường
phái tư tưởng chủ đạo và bất biến. Tất cả các nhân tố đó tạo ra một môi
trường thuận lợi cho việc lưu chuyển tự do hàng hoá, dịch vụ và tài chính,
hình thành nên một nền kinh tế toàn cầu thống nhất.
Nguyên nhân
Toàn cầu hoá xuất hiện bởi một số nhân tố sau:
Thứ nhất là sự tăng trưởng của thị trường tài chính toàn cầu. Trong
những năm gần đây, tài chính quốc tế tăng trưởng nhanh hơn thương mại thế
giới và trở thành nhân tố quan trọng, động lực chính thúc đẩy sự liên kết
toàn cầu. Theo Drucker: "Chính dòng dịch chuyển vốn chứ không phải là
thương mại hàng hoá và dịch vụ đã trở thành động lực và lực lượng chủ yếu
của nền kinh tế thế giới". Cùng với chế độ phi điều tiết và chính sách tự do
hoá ồ ạt của các nước phương Tây, doanh thu và khả năng di chuyển của
dòng vốn quốc tế đã tăng lên. Trong năm 1995: "Có tới 1 200 tỷ USD ngoại
hối được trao đổi trong một ngày điển hình, tức là gấp 50 lần giá trị thương
mại hàng hoá
và dịch vụ thế giới. Trong những năm đầu thập kỷ 70, trước khi thị trường
vốn thế giới được tự do hóa, giá trị các giao dịch tiền tệ chỉ lớn gấp 6 lần giá
trị thương mại "thực tế".
Cùng với việc ra đời đồng EURO và sự gia tăng nhanh chóng của dòng
vốn tư nhân, cách hiểu truyền thống về vốn thường được cho là chỉ liên quan
5


6
đến một nước nào đó, đã mất đi ý nghĩa của nó...Hay nói cách khác, vốn đã
được quốc tế hoá và mất đi màu sắc truyền thống của nó, khiến cho việc
kiểm soát và điều tiết dòng tài chính giữa các quốc gia trở nên rất khó khăn.
Thứ hai là sự mở rộng liên kết kinh tế thế giới sau khi hệ thống Xô viết
phân rã và chiến tranh lạnh kết thúc. Ngày nay, trừ Cộng hoà Dân chủ Nhân
dân Triều Tiên, các nước trên thế giới đều được liên kết với nhau và trở
thành bộ phận của thị trường toàn cầu. Thậm chí, cả Cuba vẫn do Đảng
Cộng sản cầm quyền, cũng coi đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng nhất
định trong nền kinh tế.
Kết quả là thế giới không còn bị phân chia theo trật tự chính trị lưỡng cực
như trong thời kỳ chiến tranh lạnh, khi Mỹ và Liên Xô cùng thi đua gây ảnh
hưởng về hệ tư tưởng. Ngày nay, cạnh tranh giữa các quốc gia không phải là
ưu thế về ý thức hệ, mà là về thị trường và các nguồn lực khan hiếm. Trong
nền kinh tế ngày nay, địa chính trị đã phải nhường chỗ cho địa kinh tế.
Thứ ba là sự phát triển của công ty đa quốc gia (MNCs). Liên kết toàn
cầu là kết quả của việc tăng cường hoạt động của MNCs. Ngày nay, số
lượng cũng như phạm vi ảnh hưởng của MNCs ngày càng mở rộng. Để giảm
chi phí sản xuất và tối đa hoá lợi nhuận cũng như tạo lập thế cạnh tranh với
các tổ chức khác trong việc chiếm lĩnh thị trường, MNCs đang vượt qua biên
giới quốc gia của chúng và đầu tư vào các quốc gia khác. Do đó, dòng FDI
đã tăng đáng kể trong những năm gần đây (xem bảng 1). Điều này, một phần
còn do sự hỗ trợ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin và vận tải.
Bảng 1.
6


7

Sự tăng trưởng của FDI trên toàn thế giới (1981 - 1990)
Tăng trưởng hàng năm (%)
1981.1985

1986-1990

* Tất cả các nước
- Dòng FDI ra

4

0,5

- Tổng đầu tư trong nước

3

2

-Dòng FDI ra

-4

-3

-Tổng đầu tư trong nước

24

10

* Các nước phát triển

* Các nước đang phát triển
- Dòng FDI ra

11

17

-Tổng đầu tư trong nước

17

9

Theo Boisier: "Cuộc cách mạng công nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi
cho việc "phá vỡ" quy trình sản xuất thành nhiều phân đoạn khác nhau, tại
các địa điểm khác nhau, mà không làm mất đi tính hiệu quả và khả năng
sinh lợi". Do mức độ chuyên môn hoá cao, cơ cấu của ngành chế tạo cũng
đã thay đổi, theo đó, quy trình sản xuất cho phép sản xuất các linh kiện khác
nhau, tại các nước có lợi thế sản xuất tương đối khác nhau. Thành phẩm

7


8
được hoàn thiện hoặc lắp rắp ở một nước khác hoàn toàn. Điều đó đã tạo ra
một "nhà máy toàn cầu" và sự liên kết quá trình sản xuất.

Liên kết toàn cầu được hỗ trợ bởi sự tăng trưởng thương mại thế giới gắn
liền với FDI. Như được chỉ ra ở bảng 2, tăng trưởng thương mại thế giới
vượt mức tăng trưởng sản lượng thế giới 4,2 lần trong giai đoạn 1990- 1995.
Bảng 2.
Tăng trưởng hàng năm cuả thương mại thế giới
và GDP giai đoạn 1950 - 1995
1950-60

1960-70

1970-80

1980-90

1990-95

Thương mại thế giới

6,5

4,2

2,3

8,3

5,3

Sản lượng thế giới

3,0

5,2

3,6

1,6

5,0

Chênh lệch

3,1

1,9

6,2

2,0

4,2

Nguồn: Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD), các chỉ số
phát triển thế giới, (Washington, Ngân hàng Thế giới, 1997, trang 129.
Ghi chú: Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở các tài khoản
quốc gia.

Nhân tố thứ tư và có lẽ là động lực quan trọng nhất thúc đẩy toàn cầu
hoá, là cuộc cách mạng công nghệ thông tin liên lạc và vận tải. Cuộc cách

8


9
mạng này đã làm giảm chi phí viễn thông cũng như vận tải, xoá đi khoảng
cách trong hoạt động kinh tế.
Trong thời kỳ 1930 - 1996, chi phí gọi điện thoại một cuộc 3 phút từ New
York đi London đã giảm từ 300 USD (giá năm 1996) xuống còn 1 USD. Chi
phí điện thoại, điện tín và vận tải giảm mạnh đã cho phép có sự liên kết chặt
chẽ hơn giữa các thị trường, nhà sản xuất, nhà cung ứng và người tiêu dùng.
Các hoạt động kinh doanh, bao gồm hoạt động mua bán và dịch vụ cũng
như các giao dịch tài chính khác, có thể được thực hiện từ xa thông qua
mạng lưới viễn thông. Điều này còn được tiến hành thuận lợi hơn nữa thông
qua Internet và các công nghệ hiện đại khác, do chúng không chỉ làm giảm
chi phí viễn thông, mà còn tạo điều kiện tiếp cận dễ dàng hơn với mọi nơi
trên thế giới. Kết quả là việc mua bán thông qua điện thoại và hệ thống
Internet, hội thảo qua điện thoại, giáo dục từ xa qua băng hình và trên vô
tuyến truyền hình, thậm chí, cả "làm việc qua điện thoại" đã trở thành các
hoạt động phổ biến, đem lại hiệu quả về chi phí.
Bảng 3
Các xu hướng dài hạn trong chi phí vận tải và viễn thông tính theo
USD năm 1990

Năm

1930

1940

1950

1960

1970

1980

1990

Doanh thu
vận tải hàng
9


10
không trung
bình trên
một dặm
đường trở
khách
Chi phí điện
thoại một
cuộc 3 phút
từ New York
đi London

0,38

0,46

244,65 188,51

0,30

0,24

0,16

53,20 45,86

31,58

0,10

4,80

0,10

3,32

Nguồn: IBRD, Triển vọng kinh tế toàn cầu và các nước đang phát triển.
Ngân hàng Thế giới, 1992, trang 34
Việc giảm chi phí vận tải và viễn thông vốn đồng nghĩa với việc thu hẹp
"khoảng cách" và rút ngắn "thời gian", đã làm cho hàng hoá và thị trường
các nhân tố liên kết với nhau một cách chặt chẽ hơn. Điều đó cũng có nghĩa
là sự di chuyển của con người trong và giữa các khu vực ngày càng tăng. ở
các nước đang phát triển, việc giảm tương đối chi phí vận chuyển kết hợp
với sự xô đẩy của các điều kiện sống nghèo nàn ở trong nước và sự hấp dẫn
của mức sống cao hơn ở nước ngoài đang lôi kéo hàng triệu người từ các
nước nghèo sang sinh sống ở các nước giàu, khi lao động không có kỹ năng
bị xem thường trong thế giới công nghiệp giàu có.
Nhân tố thứ năm dẫn đến toàn cầu hoá là sự quốc tế hoá những vấn đề
môi trường, như những hiện tượng trái đất nóng dần lên và mưa axít. Những
vấn đề môi trường mang tính chất toàn cầu này đòi hỏi phải có những giải
pháp toàn cầu, bởi vậy, sự hợp tác quốc tế và phối hợp chính sách không
những là quan trọng, mà còn rất cần thiết.
10


11

Kết quả
Theo Boisier, toàn cầu hoá đã dẫn đến sự mở cửa cả bên trong lẫn bên
ngoài của các nền kinh tế quốc gia. Bên cạnh đó là hiện tượng khu vực hoá.
Các mục tiêu của thị trường toàn cầu luôn mâu thuẫn với quá trình ra quyết
định một cách tập trung. Việc mở cửa của các thị trường quốc gia đang đe
dọa nền kinh tế của các quốc gia riêng lẻ, và vì vậy, đã làm tăng quan điểm
bảo hộ của các nhóm theo chủ nghĩa quốc gia luôn kêu gọi khu vực hoá hoặc
bảo hộ thị trường trong nước. Nghịch lý là ở chỗ, toàn cầu hoá luôn đưa lại
những hiệu quả trái ngược. Một mặt nó làm tăng mức độ tự do hoá, nhưng
mặt khác, việc mở rộng thị trường quốc gia lại tạo ra môi trường cạnh tranh
gay gắt, làm lỏng lẻo thêm quan điểm chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi.
Việc mở cửa ra bên ngoài có liên quan đến vấn đề tự do hoá và xu hướng
phi điều tiết trong nền kinh tế thế giới. Điều này được tăng cường bằng việc
giảm thuế quan và thuế nhập khẩu, làm tăng các nguồn hàng hoá dịch vụ
cũng như các nhân tố sản xuất giữa các quốc gia. Mở cửa ra bên ngoài và
chính sách phi điều tiết không chỉ làm tăng các nguồn hàng hoá dịch vụ và
tài chính giữa các nước, mà còn nâng cao tầm quan trọng của các thành phố
và các tổ chức khu vực vốn đã trở thành trung tâm của mọi hoạt động kinh tế
toàn cầu. Các thành phố như New York, London, Singapore, Khu hành
chính đặc biệt Hong Kong của Trung Quốc đã là những minh chứng cho xu
hướng trên.
Việc mở cửa ra bên ngoài còn liên quan đến xu hướng phi tập trung hoá
kinh tế - chính trị gần đây, gắn liền với quá trình dân chủ hoá và sự suy biến
11


12
quyền lực của nhà cầm quyền địa phương và khu vực. Về phương diện kinh
tế, điều này bao hàm cả việc giảm vai trò lập kế hoạch của nhà nước và
trung ương trong hoạt động kinh tế, cũng như việc tư nhân hoá xí nghiệp
quốc doanh theo nguyên tắc thị trường và các điều khoản Bretton Woods.
Các học giả và các nhà hoạch định chính sách đều có lập luận giống nhau
khi xuất hiện câu hỏi: liệu các chính sách kinh tế chủ yếu vốn bị chi phối bởi
mục tiêu hiệu quả và lợi nhuận, có thúc đẩy quá trình tăng trưởng và hưng
thịnh
của các nước ĐPT hay không?
Cùng với quốc tế hoá thị trường thế giới, toàn cầu hoá cũng tạo ra một
môi trường cạnh tranh gay gắt, nơi chỉ có các thực thể kinh tế đầy tài năng
và hiệu quả mới có cơ hội sống sót. Vì vậy, các nhà nước - quốc gia phải
viện tới khu vực hoá để bảo vệ nền kinh tế của mình khỏi các vấn đề toàn
cầu, cũng như để đạt được thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, giải quyết
các vấn đề kinh tế và thương mại trong phạm vi khu vực, và để thúc đẩy đầu
tư và tăng trưởng trong khu vực.
Theo Perraton và các học giả khác, khu vực hoá không đơn giản chỉ là
sự xuất hiện hoạt động giữa các nước trong cùng một vùng điạ lý, mà còn là
sự tăng cường hoạt động quốc tế giữa các nước đó, làm cho hoạt động kinh
tế trở nên có tổ chức theo khu vực và vùng địa lý. Gần đây, đã xuất hiện một
vài tổ chức khu vực như EU, NAFTA, các tam giác tăng trưởng (GTs) ở
châu á.
Tác động đối với các nước đang phát triển

12


13
Quan điểm chủ đạo của cuộc thảo luận sôi nổi về tác động của toàn cầu
hoá đối với lợi ích và tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển có lẽ
được hiểu là với sự liên kết kinh tế chặt chẽ hơn, các dòng hàng hoá và dịch
vụ cũng như các nhân tố sản xuất sẽ tăng lên, từ đó thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và phúc lợi của tất cả mọi người. Người ta tin rằng toàn cầu hoá sẽ
tạo ra một hình thức phân công lao động tốt hơn, cho phép các nước ĐPT
(nơi có nguồn lao động dư thừa) có thể chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá
có hàm lượng lao động cao và cho phép các nước phát triển mạnh sử dụng
nhân công của họ hiệu quả hơn. Người ta cũng cho rằng toàn cầu hoá sẽ cho
phép dòng vốn di chuyển phù hợp với các cơ hội đầu tư hiệu quả và làm
tăng khả năng sinh lời của đồng vốn.
Một số người khác lại bác bỏ quan điểm này và cho rằng toàn cầu hoá
và khu vực hoá sẽ đem lại lợi ích cho các thực thể kinh tế có quyền lực, gây
bất lợi cho các quốc gia và khu vực yếu kém. Họ lập luận rằng toàn cầu hoá
trong khi làm tăng vai trò của các ngành công nghiệp dịch vụ và lao động kỹ
năng, sẽ làm giảm tầm quan trọng của các hàng hoá sơ chế và lao động
không kỹ năng. Cuộc cách mạng công nghệ sinh học và vi điện tử cũng làm
giảm tầm quan trọng của các mặt hàng công nghệ thô. Do đó, các nước từng
được xem là giàu có, được ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên không còn được
liệt vào danh sách các nước giàu. Ngày nay, không có gì là lạ khi người đàn
ông giàu nhất thế giới lại là Billgates, chủ hãng Microsoft. Sự tiến bộ trong
khoa học công nghệ không chỉ làm thay đổi cơ cấu, mà còn làm thay đổi tầm
quan trọng của các sản phẩm đầu vào. Các ngành công nghiệp hiện đại sử
dụng ngày càng ít tài nguyên thiên nhiên, do đó chúng không còn là yếu tố
cạnh tranh quan trọng. Trong các nền kinh tế hiện đại, chỉ có công nghệ tri
thức, kỹ năng được coi là các nguồn lực có lợi thế so sánh. Như vậy các
13


14
nước ĐPT, các nhà xuất khẩu hàng hoá sơ chế và lao động không kỹ năng bị
rơi vào tình thế rất bất lợi.
Hơn nữa, toàn cầu hoá buộc các nước ĐPT hoạt động theo nguyên tắc
của thị trường toàn cầu, làm hạn chế tính hiệu quả của chính sách phát triển
quốc gia của họ. Bonvin cho rằng: "Tính tự trị và hiệu quả của chính sách
kinh tế quốc gia suy giảm là kết quả trực tiếp của toàn cầu hoá thị trường tài
chính và phi điều tiết tài chính". Sự tăng trưởng trong thị trường tài chính
toàn cầu và các quỹ tư nhân có tính linh hoạt cao đang làm suy yếu khả năng
của ngân hàng trung ương các nước trong việc quản lý tỷ giá hối đoái và
phác thảo chính sách kinh tế vĩ mô hiệu quả và linh hoạt.
Cuộc khủng hoảng tài chính gần đây ở một số nước châu á đã minh
chứng cho vấn đề này. Do khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Thái Lan, sau đó,
lan rộng sang các nước châu á khác, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các nước
công nghiệp chủ chốt đã phải nhanh chóng cùng nhau đưa ra một chương
trình trợ cấp tài chính nhằm trục vớt các nền kinh tế ốm yếu như Indonesia,
Malaysia, và Thái Lan.
Mặc dù rất khó thiết lập được một mối liên hệ chính xác, nhưng có thể
rút ra một số kết luận từ những xu hướng chung đang tồn tại ở các nước
ĐPT và chỉ ra sự tương quan giữa toàn cầu hoá/khu vực hoá và tình hình
kinh tế xã hội ở các nước ĐPT. Trong hai thập kỷ qua, số người nghèo liên
tục gia tăng. Thời kỳ 1987-1993, số dân cư sống dưới mức 1 USD/ngày tăng
từ 1 227 triệu người lên 1 314 triệu người. Báo cáo tương tự cuả Ngân hàng
Thế giới chỉ ra rằng tốc độ gia tăng tình trạng nghèo khổ ở Trung á là rất
cao, chủ yếu do sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô cũ và các nước
14


15
Đông Âu- nơi trước đây các công dân được hưởng phúc lợi xã hội từ phía
chính phủ. Kết quả là số lượng người sống ở mức nghèo khổ đã tăng lên
đáng kể.
Bảng 4 cũng cho thấy sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập toàn
cầu. Hệ số Gini tăng đều đặn trong giai đoạn 1970-1989. Bảng này cũng cho
thấy, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo đang tăng lên trong cùng
giai đoạn, thể hiện ở tỷ lệ thu nhập của 20% nhóm người có thu nhập cao
nhất so với 20% nhóm người có thu nhập thấp nhất.
Bảng 4
Phân phối thu nhập thế giới những năm 1970-1989

GDP đầu người

1970

1980

1988/89

0,71

0,79

0,85

Hệ số Gini
Tỷ lệ của 20% nhóm
người có thu nhập
cao nhất so với 20%
nhóm người có thu
nhập thấp nhất<

31,9

44,7

54,5

Nguồn: UNDP, Báo cáo phát triển nguồn nhân lực năm 1992, New
York, 1992.Ghi chú: Hệ số Gini tính từ 0 - 1, đo sự bất bình đẳng thu nhập.
Hệ số càng cao, bất bình đẳng thu nhập càng lớn.
15


16

Toàn cầu hoá có xu hướng làm tăng bất bình đẳng thu nhập giữa các
quốc gia, giữa các khu vực và giữa các cá nhân. Falk đã tóm tắt quan điểm
của nhiều học giả khác nhau khi cho rằng: " Toàn cầu hoá là một quá trình
lịch sử đang diễn ra trong một trật tự quốc tế rất bất bình đẳng về mọi
phương diện, nó tập trung lợi ích vào sự tăng trưởng của những ngành đã
phát triển và làm tồi tệ đi các điều kiện tương đối và tuyệt đối của những
ngành hầu như đã mất lợi thế trong các xã hội".
Tóm lại, toàn cầu hoá có những tác động tích cực như chuyển giao
công nghệ, tăng năng suất lao động và cải thiện chất lượng cuộc sống của
một số người ở các nước ĐPT. Tuy nhiên, toàn cầu hoá, trong khi mang lại
lợi ích cho các khu vực hoặc tổ chức nhất định, cũng lại gây áp lực và gieo
nỗi lo lắng cho các khu vực và cư dân không có lợi thế và dễ bị tổn thương.
Thảo luận về tác động tiêu cực của toàn cầu hoá, Sen cho rằng toàn cầu hoá:
- Sẽ không bảo đảm về phương tiện sinh sống và quyền hạn cho nhiều
người;
- Gây ra hoặc làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng về kinh tế - xã hội (
giới, giai cấp, sắc tộc và đẳng cấp);
- Hạn chế nhu cầu lao động và nguồn lực để tái sản xuất nguồn nhân
lực, vì vậy trói buộc phụ nữ vào công việc của họ;
- Phá huỷ môi trường;

16


17
- Làm mất cân đối giữa các nhu cầu khác nhau về nhân lực, do có sự ưu
đãi đối với của cải vật chất được tạo ra từ các giá trị nhân lực và tinh thần,
gây ra tình trạng bị gạt ra bên lề và nỗi tuyệt vọng;
- Gây ra xung đột và bạo lực.
Trong nền kinh tế toàn cầu ngày nay, tầm quan trọng của nguyên liệu
thô và lao động kỹ năng thấp đang giảm dần, trong khi lao động kỹ năng và
tri thức ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ điện
tử, vi tính và viễn thông. Điều này có thể đẩy các quốc gia nghèo vốn là
những nước xuất khẩu chủ yếu hàng hoá sơ chế và lao động kỹ năng thấp,
rơi vào tình trạng không thuận lợi.
Toàn cầu hoá luôn áp dụng các quy luật và nguyên tắc của thị trường
thế giới đối với các chính phủ và quốc gia, vì vậy, nó sẽ hạn chế hiệu quả
của chính sách quốc gia của các nước ĐPT, bao gồm cả chính sách tài chính
và tiền tệ. Theo Gilpin: "Nếu một nước hạn chế cung tiền tệ để chống lạm
phát, lãi suất trong nước sẽ tăng lên, kéo theo dòng vốn đổ vào trong nước,
và do vậy, gây tác hại cho các mục tiêu, chính sách ban đầu và tỷ giá hối
đoái tăng lên... Người ta không thể tách khỏi sự ổn định của các giá trị tiền
tệ và nền kinh tế thế giới, để chỉ theo đuổi các mục tiêu trong nước."
Cũng có một vài mối quan tâm về hoạt động kinh tế và lợi ích của các
khu vực tam cực (Bắc Mỹ, châu Âu, Đông á và Thái Bình Dương) và đưa ra
nhận định rằng các nguồn lực đổ vào các nước ĐPT khác có thể sẽ giảm, do
vậy sẽ làm trầm trọng thêm các vấn đề tài chính và kinh tế của những khu
vực rộng lớn khác như châu Phi tiểu sa mạc Xahara (SSA). Mặc dù có thể
17


18
cho rằng toàn cầu hoá và khu vực hoá là "không thể tránh khỏi" trong môi
trường hiện nay, song vẫn cần phải đối mặt với những vấn đề kinh tế - xã
hội nảy sinh từ nền kinh tế thị trường toàn cầu.

Tài liệu tham khảo
1. P.Cook và C.Kirkpatrich.- "Toàn cầu hoá, khu vực hoá và sự phát triển
của Thế giới thứ Ba", Nghiên cứu khu vực, 1-1997.
2. Lester Thurow.- Tương lai của chủ nghĩa tư bản: các thế lực kinh tế ngày
nay tạo dựng thế giới tương lai như thế nào? New York, Penguin, 1996.
3. P. Hirst.- "Câu hỏi về toàn cầu hoá" Trung tâm nghiên cứu kinh tế chính
trị, tài liệu tham khảo, số 11, Sheffield: Trung tâm nghiên cứu kinh tế chính
trị, 1995.
4. Kenichi Omhmae.- Kết cục của nhà nước quốc gia, London: Harper
Collins, 1996.
5. J.Perraton.- "Toàn cầu hoá hoạt động kinh tế", Kinh tế chính trị mới 2, 21997.
6. A. McGrew.- "Thế giới thứ Ba trong trật tự toàn cầu mới".
7. Yue-man Yeung và Fu-chen Lo.- "Tái thiết toàn cầu hoá và các khu vực
thành thị đang nổi lên ở châu á - Thái Bình Dương", Các thành phố của thế
giới đang xuất hiện ở châu á - Thái Bình Dương, Tokyo: Đại học Liên Hiệp
Quốc, 1996.Và một số tài liệu khác.

18


19

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×