Tải bản đầy đủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO bài học KINH NGHIỆM xây DỰNG mô HÌNH CHỦ NGHĨA xã hội của các nước xã hội CHỦ NGHĨA TRÊN THẾ GIỚI và VIỆT NAM HIỆN NAY

BÀI HỌC KINH NGHIỆM XÂY DỰNG MÔ HÌNH XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA Ở CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRÊN THẾ GIỚI VÀ
VIỆT NAM HIỆN NAY
Sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu sụp đổ và Liên
Xô tan rã, Đảng ta nhận định: chủ nghĩa xã hội tạm lâm vào thoái trào, phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào khủng hoảng.
Từ thực tiễn những năm qua của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại
(Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Triều Tiên và Lào) chúng ta có thể thấy khá
rõ ba nét lớn sau:
Một là, mặc dù còn rất nhiều khó khăn, thách thức, nhưng các nước xã
hội chủ nghĩa còn lại đã vượt qua được cơn chấn động chính trị do sự sụp đổ
của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và sự tan rã của Liên Xô,
kiên cường đấu tranh để trụ vững và phát triển. Những mưu toan muốn xóa
chủ nghĩa xã hội trước cuối thế kỷ XX của các thế lực đế quốc, phản động đã
bị thất bại. Nhìn chung công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc của nhân dân các nước Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Triều Tiên và
công cuộc phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội của
nhân dân Lào đang tiến triển. Đặc biệt, công cuộc cải cách, mở cửa của Trung
Quốc và đổi mới của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch
sử.
Hai là, rút kinh nghiệm từ những bài học thành công và thất bại của

chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, các nước Đông Âu và những kinh nghiệm xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước mình, các đảng cộng sản cầm quyền ở các nước
xã hội chủ nghĩa còn lại đang tích cực tìm tòi sáng tạo, cả về lý luận và thực
tiễn mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước mình nhằm khắc phục những
khuyết tật của mô hình Xô Viết trước đây; khai phá con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội với điều kiện và hoàn cảnh của nước mình, dân tộc mình, phù
hợp với những biến đổi đang diễn ra trên thế giới.
Nét cơ bản và mang tính đột phá trong phát triển lý luận và thực tiễn
xây dựng chủ nghĩa xã hội của các đảng cộng sản cầm quyền ở các nước xã
hội chủ nghĩa là sử dụng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế để phát
triển kinh tế – xã hội, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Ngay từ khi đi vào mở cửa, cải cách hay đổi mới, Trung Quốc, Việt
Nam và Lào đều đi vào kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Trung
Quốc gọi là “nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”; Việt Nam gọi là “nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; còn Lào là “nền sản xuất
hàng hóa đi lên chủ nghĩa xã hội”.


2
Đối với Triều Tiên và Cu Ba, tình hình có khác so với ba nước Trung
Quốc, Việt Nam và Lào. Từ tháng 7 năm 2002,Triều Tiên cũng bắt đầu tiến
hành cải cách theo hướng kinh tế thị trường, đột phá vào lĩnh vực giá - lương
– tiền và cơ chế phân phối. Đến tháng 9 năm 2003 thực hiện chế độ khoán
trong nông nghiệp (giao đất cho hộ nông dân canh tác những gì họ thấy có
hiệu quả), xóa bỏ bao cấp, giao quyền tự chủ kinh doanh cho các xí nghiệp
công nghiệp; sửa đổi luật đầu tư để thu hút FDI, ODA, phát triển nhanh một
số khu công nghiệp, đặc khu kinh tế…
Trong hoàn cảnh đặc thù của Cu Ba, bạn coi cơ chế thị trường, quan hệ
hàng hóa – tiền tệ, hội nhập kinh tế quốc tế là các yếu tố mà Cu Ba buộc phải
vận dụng để chủ nghĩa xã hội có thể tồn tại được. Báo cáo của Bộ Chính trị
Đảng Cộng sản Cu Ba tại Hội nghị Trung ương 5 khóa IV (tháng 3 năm 1996)
viết: “Chúng ta đang có và sẽ có chủ nghĩa xã hội, nhưng để chủ nghĩa xã hội
có thể tồn tại được, chúng ta buộc phải vận dụng nhiều hơn các yếu tố rất khó
điều khiển như quan hệ hàng hóa – tiền tệ, và cả một số yếu tố tư bản chủ
nghĩa”. Về cơ bản, bạn tiếp tục duy trì mô hình kinh tế trước đây.
Nhiều Đảng cộng sản và công nhân trên thế giới (như Đảng cộng sản
Pháp, Đảng cộng sản Nhật Bản, Đảng cộng sản Liên bang Nga, Đảng cộng
sản Hy Lạp, Đảng cộng sản Mỹ, Đảng cộng sản ấn Độ, Đảng cộng sản ấn độ
mác xít, Đảng lao động Mêhicô…) đã đánh giá rằng, con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội có sử dụng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế là một

hướng đi có tính quy luật và nhiều triển vọng. Mới đây, tại cuộc Hội thảo
quốc tế về “Triển vọng của chủ nghĩa xã hội” với sự tham gia của 39 đảng
cộng sản, công nhân và cánh tả từ 34 nước trên thế giới (họp tại Praha từ 23
đến 24 tháng 4 năm 2005) đã “đánh giá cao sự phát triển nền kinh tế thị
trường xã hội chủ nghĩa và việc gắn những ưu việt của chính quyền nhân dân
với những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật, với sự tham gia tích cực
vào thị trường quốc tế… của Trung Quốc và Việt Nam”, coi đó là “sự bổ sung
độc đáo vào lý luận chủ nghĩa xã hội”
Ba là, thế và lực của chủ nghĩa xã hội hiện đã khác so với thời kỳ
những năm 90 của thế kỷ XX và đang có chiều hướng tăng lên.
Qua 20 năm đổi mới, GDP của Việt Nam tăng gấp 3,5 lần; GDP bình
quân đầu người tăng hơn 3 lần. Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã
bình thường hóa, phát triển quan hệ đa phương, đa dạng với tất cả các nước
trên thế giới theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định


3
Vit Nam sn sng l bn, l i tỏc tin cy ca cỏc nc trong cng ng
quc t, phn u vỡ hũa bỡnh c lp v phỏt trin1.
- Hn 20 nm qua, Trung Quc luụn duy trỡ tc tng trng kinh t
cao nht nhỡ th gii. Nm 2005, GDP ca Trung Quc tng 9.9%, t 2.420
t USD, ng th t th gii (sau M, Nht Bn v c). GDP bỡnh quõn u
ngi trờn 1.700 USD. Vi s dõn trờn 1.3 t ngi, thnh tu kinh t ca
Trung Quc l rt ln.
- Tc tng trng kinh t ca Lo 5 nm qua t bỡnh quõn khong
7%/ nm.
- Kinh t Cu Ba nm 2005, GDP tng 11,8%.
- Theo s liu ca Ngõn hng th gii, t trng GDP ca 5 nc Trung
Quc, Vit Nam, Cu Ba, Triu Tiờn v Lo ó tng hn 2 ln trong vũng 15
nm qua, t 1.7% lờn 4.1% v chiu hng ang tip tc tng lờn.
Nhỡn chung, cú th khng nh rng, nhng thnh qu quan trng ó
t c ca cỏc nc xó hi ch ngha trong nhng nm qua, nht l cụng
cuc ci cỏch, m ca ca Truing Quc, Vit Nam l mt thc t lch s
chng minh cho sc sng v kh nng t i mi phỏt trin ca ch ngha
xó hi hin thc; tr thnh ngun c v ng viờn rt ln cho cỏc ng cng
sn v cụng nhõn, cng c nim tin vo lý tng cng sn ch ngha, úng
gúp tớch cc vo vic phỏt trin lý lun ch ngha xó hi.
Nhỡn li chng ng i mi 30 nm qua, t nhng thnh tu cng nh
nhng hn ch, yu kộm, cú th rỳt ra mt s bi hc ln sau õy:
Mt l, trong quỏ trỡnh i mi phi kiờn trỡ mc tiờu c lp dõn tc v
ch ngha xó hi trờn nn tng ch ngha Mỏc-Lờnin v t tng H Chớ
Minh.
i vi nc ta, i mi l yờu cu bc thit ca s nghip cỏch mng, l
vn cú ý ngha sng cũn. i mi khụng phi l t b mc tiờu ch ngha
xó hi, m l lm cho ch ngha xó hi c nhn thc ỳng n hn v c
xõy dng cú hiu qu hn. i mi khụng phi l xa ri ch ngha Mỏc-Lờnin
v t tng H Chớ Mỡnh, m l nhn thc ỳng, vn dng sỏng to v phỏt
trin hc thuyt, t tng ú, ly ú lm nn tng t tng v kim ch nam
cho hnh ng ca ng. cú ng li i mi ỳng n, cỏn nm vng,
vn dng v phỏt trin sỏng to ch ngha Mỏc - Lờnin, t tng H Chớ
Minh; dựng lý lun, t tng ú lm c s phng phỏp lun quan trng nht
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr.119.
1


4
để phân tích tình hình, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, lấy đó
làm cơ sở xuất phát để hoạch định và hoàn thiện ạ đường lối đổi mới.
Đổi mới không phải là phủ định thành tựu và cách làm trước đây, mà là
khẳng định những gì đã hiểu đúng, làm đúng, loại bỏ những gì hiểu sai, làm
sai, hoặc những gì trước kia đúng nhưng nay không còn phù hợp Xây dựng
đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh ngày nay là một sự
nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng đó là con đường đi hợp
quy luật để có một nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh; nhan dân có cuộc
sống âm no, tự do hạnh phúc. Sự nghiệp đó đòi hỏi Đảng và nhân dân ta phải
vừa kiên trì công cuộc đổi mới, kiên trì công cuộc đổi mới, kiên trì mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vừa có quyết tâm rất cao và phải rất sáng
tạo trong tư duy lẫn hành động.
Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ có kế thừa có bước đi, hình thức và
cách làm phù hợp.
Thực tiễn đã chỉ rõ, phải đổi mới toàn diện: từ nhận thức, tư tưởng đến
hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, quan hệ đối ngoại đến tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước
đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị phải đổi mới
đồng bộ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, nhưng không có nghĩa làm
đồng loạt, dàn đều, mà phải có trọng tâm, trọng điểm, có sự tính toán cẩn thận
các bước đi, hình thức biện pháp thích hợp. Lúc đầu, tập trung vào đổi mới
kinh tế và từng bước đổi mời hệ thống chính trị; tiếp theo, phải tiền hành
đồng thời đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Không xác định
đúng bước đi; vội vã hấp tấp sẽ gây mất ổn định, thậm chí rối loạn, tạo cơ hội
cho các thế lực thù địch chống phá công cuộc đổi mới; ngược lại, quá chậm
chạp trong việc đổi mới hệ thống chính trị sẽ cản trở sự phát triển kinh tế
cũng như toàn bộ công cuộc đổi mới. Phải bảo đảm sự gắn kết, đồng bộ giữa
nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát
triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội.
Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai
trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn nhạy
bén với cái mới.
Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân. Chính
những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân nảy sinh từ thực tiễn là
một nguồn gốc hình thành đường lôi đổi mới của Đảng. Dựa vào nhân dân,


5
qua thực tiễn phong phú của nhân dân, tiến hành tổng kết, từng bước tìm ra
quy luật các mặt của cuộc sống để đi lên - đó là chìa khoá của thành công.
Để đẩy mạnh công cuộc đổi mới, Đảng và nhân dân ta phải không ngừng
sáng tạo; song, để sự sáng tạo không dẫn tới chệch hướng, một mặt, phải nắm
vững, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lên in, tư tưởng Hồ Chí
Minh, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước; mặt khác, phải luôn
luôn xuất phát từ thực tiễn, thường xuyên tổng kết thực tiễn, tìm ra nhân tố
mới để nhân rộng và phát hiện những điểm không phù hợp trong chủ trương,
chính sách, kịp thời có sự điều chỉnh bổ sung và phát triển.
Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời khai thác ngoại lực kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.
Phát huy nội lực, xem đó là nhân tố quyết định đối với sự phát triển bền
vững; đồng thời khai thác ngoại lực nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát
triển đất nước nhanh và bền vững. Tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát
huy nội lực mạnh hơn, dựa trên các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình
đẳng, cùng có lợi; giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ và phát triển nền văn hoá dân tộc.
Năm là, phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhàn dân.
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thành công của đổi mới. Phải
tăng cường sự lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng. Xây dựng Đảng
trong sạch, vũng mạnh là khâu then chốt. Đảng phải thực sự tiêu biểu cho
danh dự, lương tâm, trí tuệ của dân tộc; đủ năng lực đưa ra những quyết sách
đúng đắn, kịp thời để định hướng cho hoạt động của cả hệ thống chính trị và
toàn xã hội nói chung.
Dân chủ được thể hiện và thực hiện chủ yếu và trực tiếp nhất qua Nhà
nước, bằng Nhà nước. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu bức thiết của dân chủ
hoá xã hội. Để bảo đảm dân chủ, Nhà nước phải thể chế hoá và tổ chức thực
hiện có hiệu quả quyền công dân, quyền con người.
Phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc tập
hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh của khôi đại đoàn kết toàn dân
tộc để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới.


6
Xác lập những mối quan hệ hợp lý giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận
Tổ quốc cùng các đoàn thể chính trị - xã hội thông qua hệ thống cơ chế thích
hợp, làm cho từng tổ chức và cả hệ thống chính trị ngày càng mạnh lên, quyền
làm chủ của nhân dân được thực hiện ngày một tết hơn, từ đó tạo ra động lực
vô cùng mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới.
Trong thời gian tới, tình hình quốc tế bên cạnh mặt thuận lợi cũng có
những diễn biến phức tạp, khó lường. Các xu thế lớn của thế giới (hoà bình,
hợp tác và phát triển; toàn cầu hoá kinh tế; cách mạng khoa học và công nghệ;
kinh tế tri thức...) sẽ tiếp tục phát triển; các lực lượng chủ yếu của thời đại
(chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội hiện thực, các phong trào chính trị - xã
hội quốc tế) sẽ có những vận động mới, cục diện “nhất siêu, đa cường” tiếp
tục tồn tại trong xu thế đa cực hoá. Các nước tiếp tục điều chỉnh chính sách
đối ngoại của mình. Nước ta có những thuận lợi và thời cơ lớn, đồng thời
cũng đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Những thành tựu của 20 năm
đổi mới làm cho thế và lực của nước ta lớn mạnh lên nhiều, song vẫn còn
những yếu kém, khuyết điểm, những nguy cơ không thể xem thường, cộng
với sự phá hoại của các thế lực thù địch, có thể sẽ làm cho tình hình trở nên
phức tạp hơn.
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước như vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới để đưa đất nước phát triển mạnh mẽ và vững chắc
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới là động lực, ổn định là điều kiện
tiền đề, phát triển nhanh và bền vững là mục đích.
Phương hướng chung đẩy mạnh công cuộc đổi mới ở nước ta trong thời
gian tới là: Nắm vững thời cơ, vượt qua thách thức, đẩy lùi nguy cơ, huy động
mọi nguồn lực trong và ngoài nước, tạo ra những động lực mới, những đột
phá mới - từ tư duy đến tổ chức và hành động thực tiễn - để sớm đưa đất
nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển và SỚM đưa nước ta trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để thực hiện được phương hướng nêu trên, cần quán triệt và thực hiện
đồng bộ các định hướng cơ bản sau đây:
1. Giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, thực hiện phát
triển nhanh và bền vững, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tích cực và chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế; phát triển kinh tế tri thức.


7
Đối với nước ta, trong giai đoạn hiện nay, bảo đảm cho kinh tế tăng trưởng
nhanh, phát triển bền vững phải là vấn đề chính trị trọng đại số một, là nhiệm
vụ trung tâm. Bởi vì, không như thế sẽ không thể có chủ nghĩa xã hội. Phải
coi ưu tiên số một là giải phóng lực lượng sản xuất và mọi nguồn lực, mọi
tiềm năng vật chất và tinh thần của xã hội, tất cả vì mục tiêu phát triển.
Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, cần giải phóng triệt để lực lượng sản
xuất, giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu và thành phần kinh tế, làm cho tiềm
năng kinh tế của mọi công dân, mọi vùng kinh tế, mọi ngành kinh tế, mọi
thành phần kinh tế đều được phát huy mạnh mẽ, có hiệu quả.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có nhiều
hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước; kinh tế tập
thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước;
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoan. Các thành phần kinh tế hoạt động theo
pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài,
hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền
kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng
phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền
tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế cổ phần ngày càng phát
triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hoá sản
xuất và sở hữu, đặc biệt là xã hội hoá vốn của các nhà đầu tư.
Xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu; Nhà nước chỉ thực
hiện sự ưu đãi hoặc hỗ trợ phát triển đối với một số ngành, lĩnh vực, sản
phẩm, một số mục tiêu (như xuất khẩu gạo, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo;
khắc phục những rủi ro), một số địa bàn, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận được kinh
doanh theo nguyên tắc thị trường; được tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác
và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác theo luật định. Cần có cơ chế, chính sách khuyến khích và thúc đẩy sự
phát triển bền vững của kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi
và quản lý dân chủ. Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, có ý nghĩa chiến
lược lâu dài, đóng góp cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả nền kinh tế, tạo
việc làm để xoá đói giảm nghèo; nâng cao tính năng động, tính hiệu suất của
nền kinh tế. Cần tạo lập mời trường thuận lợi về thể chế và tâm lý xã hội để
kinh tế tư nhân phát triển. Thông qua quá trình đẩy mạnh xã hội hoá sản xuất,


8
cổ phần hoá doanh nghiệp, các hình thức của kinh tế cổ phần sẽ ngày càng
phát triển mạnh và trở thành phổ biến. Cẩn chuyển mạnh nền kinh tế sang
thực sự vận hành theo nguyên tắc thị trường, lấy thị trường làm cơ sở chủ yếu
phân bổ các nguồn lực kết hợp với sự điều tiết của Nhà nước.
Tiếp tục hoàn thiện hệ quan điểm về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, mở cửa và hội nhập quốc tế, đẩy mạnh phát triển và ứng dụng kinh tế
tri thức. Tích cực và chủ động hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế, khẩn
trương xây dựng và hoàn thành chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc
tế. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải vì sự phát triển và giải phóng con
người; góp phần thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Phải gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hoá và tiến bộ, công bằng xã
hội; phân phối theo kết quả và hiệu quả lao động là chủ yếu, đồng thời phân
phối theo vốn, tài sản, trí tuệ được huy động vào phát triển kinh tế - xã hội,
phân phối qua chính sách xã hội; tạo điều kiện, môi trường thuận lợi, cơ hội
bình đẳng để mọi người làm giàu chính đáng bằng kết quả lao động của mình,
đồng thời tăng cường vai trò điều tiết của Nhà nước. Xây dựng hệ tiêu chí
một nước công nghiệp trong điều kiện hiện nay để hoạch định bước đi tiến tới
các mục tiêu cơ bản là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Nét nổi bật trong tư tưởng chỉ đạo công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
là ra sức phát triển lực lượng sản xuất, coi trọng nguồn lực con người, chất
lượng nguồn nhân lực cao - yếu tố hàng đầu của lực lượng sản xuất. Con
người phải có sức khoẻ thể chất và tinh thần tốt; có năng lực sáng tạo, nhạy
bén, năng động, thích ứng và làm chủ quá trình biến đổi nhanh chóng của tình
hình; có tri thức khoa học - công nghệ và năng lực vận dụng tri thức đó vào
thực tiễn, . . . Con người với những tư chất đó là nhân tố có ý nghĩa quyết
định đối với sự phát triển nhanh và bền vững. Phát triển văn hoá - giáo dục,
khoa học - công nghệ, y tế, thể dục - thể thao, . . .là những tác nhân quan
trọng góp phần hình thành và phát triển nguồn nhân lực như vậy. Trong
những năm trước mắt, điều cấp bách nhất là đẩy mạnh đào tạo phục vụ cho sự
chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng đáp ứng yêu cầu của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Xây dựng xã hội học tập; giải quyết hợp lý mối quan hệ
giữa nâng cao dân ta, bồi dưỡng nhân lực với đào tạo nhân tài.
2. Đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế
Trên cơ sở lấy đổi mới kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt,
cần đẩy mạnh đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động và cơ chế vận hành


9
của hệ thống chính trị cùng các bộ phận cấu thành hệ thống đó, làm cho hệ
thống chính trị có tác động mạnh mẽ tới việc giải phóng lực lượng sản xuất,
phát triển kinh tế nhanh và bền vững. với tư cách là thiết chế bảo đảm quyền
làm chủ của nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải
thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bao nhiêu lợi
ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hành đều ở nơi dân, mọi quyền lực mà Nhà
nước có được đều do nhân dân uỷ quyền. Nhà nước phải đặt dưới sự kiểm tra,
giám sát của nhân dân; nhân dân có quyền bày tỏ tín nhiệm hay bất im nhiệm
đối với những người có cương vị, những bộ phận nhất định của Nhà nước.
Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước phải bảo đảm nâng cao hiệu lực,
hiệu quả, thông suốt, thống nhất. Đẩy mạnh cải cách lập pháp, hành pháp và
tư pháp, cả ở Trung ương và địa phương. Xây dựng cơ chế phân công và phối
hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước, tạo ra thiết chế giám sát quyền lực
nhà nước. Đổi mới bộ máy nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước ngày càng
gần dân, thân dân, thực sự là thiết chế phục vụ nhân dân; hoạt động theo
nguyên tắc: việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân
phải hết sức tránh.
Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
Đảng lãnh đạo xác định nội dung, nhiệm vụ căn bản của Nhà nước; lãnh đạo
xây dựng, hoàn thiện bộ máy và đội ngũ cán bộ nhà nước tương ứng với
nhiệm vụ; lãnh đạo việc thể chế hoá và triển khai thực hiện quan điểm, chủ
trương của Đảng về phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng, an ninh,
đối ngoại; lãnh đạo việc kiểm tra hoạt động của Nhà nước. . . Đảng lãnh đạo
Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước. Nêu cao tính chủ động, sáng tạo
trong hoạt động của Nhà nước. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp,
Pháp luật. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cần được đổi
mới theo hướng đa dạng hoá về hình thức, về chức năng, nhiệm vụ; nêu cao
tính thiết thực và hiệu quả; làm tốt chức năng phản biện, giám sát xã hội, góp
phần vào việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân.
Cơ chế hoá, quy chế hoá mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành
hệ thống chính trị, tạo ra sự vận động cùng chiều, theo hướng tác động thúc
đẩy phát triển xã hội, mở rộng dân chủ cho nhân.dân .
3. Gắn kết chặt chẽ kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với
chính sách xã hội, phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ xã và công
bằng xã hội ngay trong từng bước đi và từng chính sách phát triển


10
Đây là một đặc trưng cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế
thị trường ở nước ta, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội ta. Phát triển xã
hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng đòi hỏi phải có một nền kinh tế tăng
trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững. Chỉ có một nền kinh tế như thế mới
có khả năng huy động các nguồn lực vật chất cho việc thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội. Ngược lại, không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh,
hiệu quả cao và bền vững, nếu trong xã hội không có sự công bằng nhất định,
đa số dân chúng sống nghèo khổ, thấp kém về trí tuệ, ốm yếu về thể chất, và
một bộ phận đáng kể lao động lâm vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói, bị đẩy ra
ngoài lề xã hội.
Phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng phải được tiến hành
ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển kinh tế. Không chờ
đến khi đất nước đạt tới trình độ phát triển kinh tế cao mới thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, càng không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy
theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần vì lợi ích của một thiểu số. Muốn vậy, mỗi
chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính
sách phát triển xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- dù trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hay lâu dài.
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc thực
hiện công bằng xã hội không thể chỉ dựa vào chính sách điều tiết và phân phối
lại thu nhập của các tầng lớp dân cư. Kế thừa và phát huy thành quả cách
mạng hơn nửa thế kỷ qua, ngày nay chúng ta có những tiền đề và điều kiện
cần thiết để bảo đảm cho mọi người dân, nhất là những người thuộc các nhóm
yếu thế và dễ bị tổn thương, đều có cơ hội công bằng trong việc tiếp cận các
dịch vụ xã hội cơ bản về giáo dục, đào tạo, y tế, việc làm, tín dụng, thông tin,
mạng lưới an sinh xã hội . . . để họ có thể lo liệu và dần cải thiện đời sống của
bản thân, gia đình, đồng thời góp phần xây dựng đất nước.
Phát triển xã hội trên nguyên tắc công bằng không có nghĩa là cào bằng,
thực hiện chủ nghĩa bình quân, chia đều các nguồn lực và của cải làm ra, bất
chấp chất lượng, hiệu quả sản xuất - kinh doanh và sự đóng góp của mỗi
người cho sự phát triển chung của cộng đồng. Hơn nữa, nếu dồn mọi nguồn
lực cho phát triển xã hội vượt quá khả năng mà nền kinh tế cho phép thì sẽ
làm giảm những điều kiện cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khiến cho
kinh tế trì trệ hoặc khủng hoảng, và rốt cuộc cũng không thực hiện được các
kế hoạch phát triển xã hội. Do đó, trong mỗi bước di, mỗi thời kỳ cụ thể phải
tìm ra đúng cái "độ" tương thích giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát


11
triển xã hội, sao cho hai mặt này không cản trở, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau
mà hỗ trợ cho nhau cùng phát triển.
Để quản lý sự phát triển xã hội đạt hiệu quả cao, cần kết hợp sử dụng và
phát huy sức mạnh của cả Nhà nước, cộng đồng và bản thân mỗi người dân.
Nhà nước tiến hành thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành luật
pháp, chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển xã hội và đề ra các biện
pháp tổ chức, quản lý phù hợp. Nhà nước vừa phải quan tâm đầu tư thoả
đáng, vừa coi trọng huy động các nguồn lực trong nhân dân theo lời dạy của
Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”.
4. Phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chăm lo phát
triển nhân tố con người, làm cho văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần
của xã hội
Văn hoá là cội nguồn của mọi mục đích và động cơ phát triển, là nền tảng
tinh thần của xã hội. Đưa văn hoá thấm sâu vào các hoạt động kinh tế - xã hội,
làm cho sự phát triển văn hoá đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế,
phát triển xã hội, tiến bộ chính trị, . . . trở thành một định hướng căn bản của
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Song sự phát triển văn hoá của
một dân tộc không chỉ do thành quả sáng tạo của dân tộc đó mà còn do sự
giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
Để văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, cần làm cho chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh
thần xã hội; kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tốt
cả các dân tộc trong nước, tạo ra một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng;
tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, nhưng luôn giữ vững bản sắc văn
hóa dân tộc trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế xây dựng một xã hội vì
lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể
lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Chống tư tưởng văn hoá phản tiến bộ, trái với
những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài
người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội. Bảo vệ nền văn hoá dân
tộc trước sự xâm lăng văn hoá.
Nhiệm vụ bao quát hàng đầu của sự nghiệp văn hoá ở nước ta hiện nay là
xây dựng con người Việt Nam thấm nhuần những giá trị và chuẩn mực văn
hoá mới phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn cách
mạng mới theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX.
5- Giữ vững môi trường hoà bình vì sự phát triển của đất nước


12
Một trong những nhiệm vụ cơ bản của Đảng và nhân dân ta lúc này là củng
cố và giữ vững hoà bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội,
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện dại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Chúng ta kiên trì đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì hoà bình, hợp
tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá
các quan hệ quốc tế.
Môi trường đối ngoại và các mối quan hệ đối ngoại luôn ở trạng thái động,
biến đổi từng ngày, muôn hình muôn vẻ, tác động đến đời sống mọi mặt của
các quốc gia, trong đó có nước ta. Vì vậy, cần kiên định về nguyên tắc; mềm
dẻo, linh hoạt về sách lược; nhanh nhạy nắm bắt thời cơ và có đối sách thích
hợp vì lợi ích của quốc gia, dân tộc. Thực hiện tư tưởng và phong cách ngoại
giao Hồ Chí Minh, biết mình, biết người; khiêm tốn, tự trọng, không cực
đoan, cứng nhắc, máy móc; biết tôn trọng tính đặc thù, thói quen, tập tục của
nước khác, của dân tộc khác; tuân thủ luật pháp quốc tế, góp phần xác lập một
bản sắc ngoại giao Việt Nam, nâng cao giá trị Việt Nam trong con mắt nhân
dân thế giới và làm cho các đối tác nể trọng. Lợi ích quốc gia là tối cao, là
thước đo để đánh giá hiệu quả chính sách và hoạt động đối ngoại. Bảo đảm
lợi ích quốc gia của mình, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của đối tác,
thực hiện nguyên tắc “hai bên cùng có lợi”, “các bên cùng có lợi”.
Tranh thủ lợi thế về ổn định chính trị - xã hội của ta và tình cảm tốt đẹp của
nhân dân thế giới; phát huy các quan hệ quốc tế trên các lĩnh vực Đảng, Nhà
nước và nhân dân, phát huy các nguồn lực bên ngoài. Kết hợp chặt chẽ tổng
kết lý luận - thực tiễn về công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới với việc đi
sâu khai thác, phát huy kinh nghiệm lịch sử của ông cha ta trong lĩnh vực đối
ngoại; tránh tình trạng bị động, lúng túng trong hoạt động đối ngoại.
6. Tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội
Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn
luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự
- an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng. Xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng
Việt Nam.
Điều kiện mới, thời kỳ mới đòi hỏi phải có quan niệm mới về chiến lược
bảo vệ Tổ quốc, về chiến tranh nhân dân, về chiến lược quốc phòng toàn dân,
về hậu phương trong điều kiện chiến tranh kiểu mới, về chiến lược an ninh
quốc gia. Gắn bảo vệ Tổ quốc với phát triển kinh tế, an ninh, đối ngoại. Bảo


13
vệ Tổ quốc là bảo vệ biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển, bảo vệ chế độ
chính trị, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, định hướng xã hội chủ nghĩa;
bảo vệ kinh tế, văn hoá dân tộc, sự nghiệp đổi mới... Thục hiện thắng lợi
nhiệm vụ chống “diễn biến hoà bình”; kết hợp chặt chẽ xây dựng tiềm lực với
củng cố thế trận quốc phòng vững chắc, có trọng điểm; xây dựng thế trận
phòng thủ quốc gia trên cơ sỏ đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ địa
phương; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, thực sự làm nòng cốt trong
sức mạnh quốc phòng và an ninh; xây dụng quân đội nhân dân, công an nhân
dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại... Kết hợp hậu
phương trên cả nước với hậu phương trên từng địa bàn, từng vùng chiến lược;
không phân biệt cứng nhắc tiền tuyến và hậu phương; phát huy truyền thống
xây dựng hậu phương tại chỗ, hậu phương trong lòng dân. Chủ động xây
dựng và sớm triển khai các phương án phòng ngừa, xử lý các tình huống phức
tạp, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia.
7. Không ngừng đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của công cuộc
đổi mới cũng như toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Trong tình
hình hiện nay, trước yêu cầu mới của cách mạng, chúng ta càng phải kiên
đỉnh sự lãnh đạo của Đảng. Đây là vấn đề nguyên tắc, vấn đề sống còn, bảo
đảm sự phát triển của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đương
nhiên, để có đủ khả năng và điều kiện, lãnh đạo đúng đắn và có hiệu quả,
Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức mạnh của Đảng về mọi mặt, làm cho Đảng thật sự là Đảng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh: đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội
tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung
thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.
Phương hướng cơ bản của việc đổi mới và chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn
hiện nay là: Tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng và khoa học, tăng
cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của tư tưởng tổ chức;
có đạo đức cách mạng có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học,
gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức đoàn kết lãnh đạo toàn dân vượt mọi
khó khăn thử thách, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng. .
Đảng phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm tốt công tác tư tưởng chính
trị, nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực lãnh đạo chính trị, năng lực cầm
quyền, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng; phát huy dân chủ,


14
giữ vững kỷ luật, tăng cường đoàn kết thông nhất; làm trong sạch và nâng cao
chất lượng đội ngũ đảng viên; khắc phục có hiệu quả các hiện tượng tiêu cực,
đặc biệt là tệ quan liêu, tham nhũng, khôi phục và nâng cao lòng tin của nhân
dân đối với Đảng; chấn chỉnh tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, làm cho
Đảng có đủ bản lĩnh chính trị, có kiến thức, năng lực và sức chiến đấu cao
trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, môi trường
quốc tế rất phức tạp, có nhiều nguy cơ và thách thức mới. Tiếp tục cụ thể hoá,
quy chế hoá, thục hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; kiện toàn
hệ thống tổ chức của Đảng, trong đó chú trọng nâng cao sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức cơ sở đảng thực sự là hạt nhân chính trị ở
cơ sở, có khả năng lãnh đạo, quy tụ sức mạnh của đơn vị hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao; làm tốt công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đội ngũ cán
bộ, đảng viên cả về năng lực, phẩm chất đạo đức và tác phong công tác. Kiện
toàn và nâng cao chất lượng của các cơ quan tham mưu, tạo sự liên thông
giữa các cơ quan tham mưu trong hệ thống chính trị.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cán bộ, đảng viên phải có phẩm chất
chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng, có thái độ tích cực
đối với công cuộc đổi mới, đồng thời phải có trình độ trí tuệ, năng lực thực
hiện nhiệm vụ đổi mới. Đảng viên hoạt động trong các thành phần kinh tế
phải nêu được vai trò tiên phong gương mẫu, bằng lao động sáng tạo, có năng
suất và chất lượng của mình, góp phần tích cực vào việc phát triển lực lượng
sản xuất, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân
dân, trong đó có bản thân và gia đình. Trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta không xem kinh tế tư nhân là gắn với chủ
nghĩa tư bản mà lãnh đạo kinh tế tư nhân phát triển theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đảng viên làm kinh tế tư nhân không bị hạn chế về quy mô, ngoài
việc chấp hành tốt Điều lệ Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, còn
phải theo một số quy định, điều kiện nhất định. Chẳng hạn, phải là đảng viên
không ở trong biên chế của hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các
đoàn thể chính trị - xã hội), trong quân đội và công an; gương mẫu chấp hành
các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước (không làm
ăn gian dối, trốn lậu thuế, thực hiện dầy đủ các chính sách bảo hiểm, trả lương
cho người lao động, . . .) ; trực tiếp tham gia lao động (lao động chân tay, lao
động kỹ thuật, lao động quản lý); có quan hệ tốt với người lao động, với công
đoàn và các đoàn thể khác tại doanh nghiệp, với nhân dân nơi cư trú; chịu sự
giám sát, kiểm tra của tổ chức đảng; làm tốt công tác xã hội, nhân đạo,...


15
Nâng cao hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong cuộc đấu tranh
chống tham nhũng. Thực hiện nghiêm túc quy định kê khai tài sản của cán bộ
lãnh đạo, quản lý khi ứng cử, đề bạt và khi thôi giữ cương vị đó; Tăng cường
chất lượng và hiệu quả của công tác kiếm tra, giữ nghiêm kỷ luật và sự thống
nhất trong Đảng. Chú trọng kiểm tra việc cụ thể hoá, thể chế hoá đường lối,
quan điểm của Đảng; kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối của Đảng;
kiểm tra hoạt động, phẩm chất, tư cách, đạo đức cá nhân của cán bộ, đảng
viên... Nâng cao tính chủ động của công tác kiểm tra phòng ngừa. Hoàn thiện
cơ chế và quy chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của đảng viên, cấp ủy, tổ
chức cơ sở đảng và sự tham gia của nhân dân, các đoàn thể nhân dân vào
công tác kiểm tra, giám sát. Kết hợp giám sát trong Đảng với giám sát của
Nhà nước thông qua pháp luật và giám sát của nhân dân thông qua quy chế
dân chủ; phát huy vai trò giám sát của dư luận xã hội thông qua các phương
tiện thông tin đại chúng...
Nâng cao chất lượng công tác cán bộ theo hướng đẩy mạnh dân chủ hoá,
thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy trình dưới sự lãnh đạo của Đảng, chủ
động xây dựng một đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu
cầu của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn môi. Mở rộng và thể chế hoá chế
độ nhân dân giám sát cán bộ và công tác cán bộ; mở rộng quyền tiến cử và tự
tiến cử; thực hiện chế độ giới thiệu nhiều phương án nhân sự trong bầu cử và
bổ nhiệm cán bộ. Trong công tác cán bộ, giải quyết tốt mối quan hệ giữa vai
trò quyết định của tập thể tổ chức đảng với vai trò của người đứng đầu cơ
quan, đơn vị.
Thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Các tổ chức đảng
và đảng viên phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với
nhân dân, lắng nghe tiếng nói của dân. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa trách
nhiệm đối với cấp trên và trách nhiệm đối với quần chúng và cấp dưới.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của
Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các
định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền,
thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của
đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất và năng
lực vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể.
Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Khâu mấu chốt cần tập trung hiện nay là đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng đối với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc đề ra


16
đường lối, chủ trương, các chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển và
kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Hiến pháp,
pháp luật của Nhà nước; bố trí đúng đội ngũ cán bộ cầm quyền ngang tầm
nhiệm vụ.
Tổ chức việc phối hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống
chính trị, tạo điều kiện cho Nhà nước hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, bảo
đảm cho nghị quyết của Đảng .đi vào cuộc sống một cách đầy đủ, kịp thời.
Kết hợp chặt chẽ việc lãnh đạo bằng tổ chức với lãnh đạo qua cá nhân đảng
viên theo nguyên tắc tập trung dân chủ và nêu cao vai trò trách nhiệm của
đảng viên là thủ trưởng.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là làm cho Đảng lãnh đạo có hiệu
quả hơn, Nhà nước quản lý có hiệu lực hơn, quyền làm chủ của nhân dân
được phát huy tốt hơn, cả hệ thống chính trị ngày càng mạnh lên; tăng cường
vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của
Nhà nước và các đoàn thể nhân dân trong tổ chức thực hiện đường lối của
Đảng.
Tóm lại. Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá; xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm
nền tảng tinh thần cho xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; thực
hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây đựng Đảng trong sạch,
vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; tích cực và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển.
Có thể coi đó cũng là những nét phác thảo cơ bản của mô hình tổng
quát về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
trong thời kỳ quá độ.
Về thực trạng và triển vọng của phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế:
1. Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vẫn chưa ra khỏi khủng
hoảng, nhưng đã vượt qua được thời kỳ khó khăn nhấtn kể từ đầu thập kỷ 90
của thế kỷ XX đến nay, bắt đầu hồi phục và có những những bước phát triển
mới.
2. Sự vận động tới đây của phong trào cộng sản và công nhâ quốc tế
vẫn còn quanh co và không đồng đều; về tổng thể sẽ có những bước tiến mới
trong khi vẫn có thể xảy ra những bước lùi bộ phận (như đảng Cộng sản Liên


17
bang Nga lại vừa bị phân liệt năm 2004). Các nước xã hội chủ nghĩa đứng
trước cả thời co cũng như thách thức.
3. Quá trình tự đổi mới của các đảng, đổi mới các mối quan hệ đoàn
kết, hữu nghị giữa các đảng và tăng cường sự hợp tác, phối hợp hành động
giữa các đảng trên trường quốc tế chính là những xu hướng vận động chủ yếu
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong thời gian tới. Các đảng
đều nhấn mạnh yêu cầu cấp bách ở giai đoạn đấu trah hiện nay là: mở rộng
ảnh hưởng của mình trong nhân dân lao động, các tổ chức thanh niên, công
đoàn; tăng cường hơn nữa tình đoàn kết, sự hợp tác và phối hợp trên trường
quốc tế; phối hợp tích cực hơn trong việc phát triển lý luậ về chủ nghĩa xã hội,
nâng cao hiệu quả công tác lý luận, cùng nhau đưa ra những quan điểm chung
cho phong trào.
4. Triển vọng chung của phong trào sẽ tùy thuộc rất nhiều vòa sự phát
triển của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại (chủ nghĩa xã hội hiện thực), vào
việc chủ nghĩa xã hội thể hiện được đến đâu bản chất nhân đạo và giải phóng
của mình cũng như vào khả năng chủ nghĩa xã hội biết sử dụngh các thành
tựu văn minh nhân loại vì tự do và bình đẳng của con người, vì dân chủ, công
bằng và tiến bộ xã hội. Những thành tựu cải cách, đổi mới ở Trung Quốc,
Việt Nam, Lào và sự phát triển của Cu Ba, Triều Tiên là nguồn cổ vũ lớn lao,
thúc đẩy quá trình hồi phục, ra khỏi khủng hoảng và phát triển đi lên của
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Về vị trí, vai trò của phong trào cộng sản và công nhân trên trường
quốc tế hiện nay.
Mặc dù so sánh tương quan lực lượng quốc tế vẫn còn đang nghiêng về
phái các thế lực tư bản, đế quốc nhưng sự hồi phục của các đảng cộng sản và
công nhân trên thế giới, đặc biệt những thành tựu dã đạt được của các nước xã
hội chủ nghĩa còn lại, nhất là của Trung Quốc, Việt Nam đã cho thấy rõ ràng:
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang có một vai trò rất quan trọng
trong đời sống chính trị của mỗi nước, cũng như trong đời sống quốc tế
đương dại. Hội nghị 81 đảng cộng sản và công nhân họp tại Mátxcơva năm
1960 đã từng nhận định phong trào cộngh sản và công nhân quốc tế là lực
lượng quyết định sự phát triển của thế giới. Hiện nay, chưa thể nói như vậy,
song rõ ràng phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là lực lượng chính trị
có vai trò rất quan trọng đôis với sự phát triển của thế giới. Trong các vấn đề
lớn của thế giới đương đại, như chiến tranh và hòa bình , thì những người
cộng sản vẫn là những người đi tiên phong trong cuộc đấu tranh bảo vệ hòa
bình. Hay trên vấn đề phá triển thì những ngiười cộng sản cũng là những
người đi tiên phong trong cuộc đấu tranh vì sự phát triển bền vững của mỗi


18
dân tộc và cỉa cả loài người, vì dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, vì một
trật thế giới mới công bằng và dân chủ với sự tham gia của tất cả các nước,
không phân biệt nước lớn hay nước nhỏ, nước giàu hay nuyước nghèo trong
việc trong việc giải quyết các vấn đề của thế giới.
Vấn đề cần được nhận thức thật rõ là: phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế là một trong những lực lượng chủ yếu cấu thành, hậu thuẫn
chính trị quốc tế cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, cho công cuộc đổi
mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngay từ khi
thành lập, đảng ta luôn xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của
cách mạng thế giới. Suốt trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập dân
tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay, Đảng
và Nhà nước và nhân dân ta luôn luôn coi trọng và tranh thủ được sự ủng hộ
chí tình, sự giúp đớ quý báu của các lực lượng cách mạng và tiến bộ, của bạn
bè quốc tế khắp năm châu. Chúng ta cần chăm lo củng cố sự ủng hộ và hậu
thuẫn chính trị quốc tế cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, cả trước mắt, cả lâu dài, cả lúc thuận lợi lẫn khi gặp khó
khăn.
Để làm tốt việc này, trong sử lý các vấn đề quốc tế và quan hệ đối
ngoại của ta, cần nắm vững phương châm bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính,
kết hợp nhuần nhuyễn chủ ghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp
công nhân. đảng ta xác định lợi ích cao nhất của dân tộc mà cũng là của giai
cấp công nhân Việt Nam là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, chủ nghĩa xã
hội, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh . Mọi hoạt
động đối ngoại của Đảng, Nhà nước vfa nhân dân ta phải phục vụ lợi ích chân
chính đó của dân tộc ta. Việc chúng ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cũng
chính là nghĩa vụ quốc tế và là sự đóng góp lớn nhất của ta đối với sự nghiệp
cách mạng thế giới. Đồng thời, ta luôn luôn phát triển quan hệ đoàn kết, hữu
nghị và hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế, phong trào độc lập dân tộc, phong trào không liên kết và các lực
lượng hòa bình, tiến bộ khác trên thế giới, theo khả năng thực tế của ta, phù
hợp với sự chuyển biến của tình hình thế giới.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×