Tải bản đầy đủ

Hệ thống tiền tệ việt nam

HUYẾT TÀI CHÍNH- TIỀ
HỆ THỐNG TIỀN TỆ VIỆT NAM
NHÓM 6


Khái quát quá trình phát triển của tiền tệ
Sự ra đời của tiền tệ gắn với quá trình
phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa

HÀNG- HÀNG

HÀNG- VẬT
TRUNG GIANHÀNG

HÀNG- TIỀNHÀNG


Khái niệm tiền tệ
Tiền tệ là tiền khi chỉ xét tới chức năng là phương tiện
thanh
toán,

là đồng
tiền được
luật pháp
Quá
trình
hình thành
và phát
triểnquy
củađịnh
tiềnđể
tệ phục vụ
trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia hay nền kinh tế.
Vì định
nghĩatếnhư
vậy, tiền
tệ còn
"tiềnhàng,
lưu thông".
Khi
nền kinh
sơ khai,
lúc bấy
giờđược
chưagọi
có là
ngân
tiền sử
dụng trong trao đổi là hiện vật (tiền hàng hoá) là những loại
tiền được làm ra từ các dạng vật chất mà bản thân nó đã có giá
trị sử dụng sẵn, nó không do một tổ chức nào phát hành.


Hóa tệ ( tiền tệ dưới dạng
hàng hóa)

Các hình
thức tiền tệ

Một số hàng hóa dùng làm
vật trao đổi trung gian như:

vỏ trai, da, gạo, vải, chè,
thuốc lá, súc vật,…

Tiền tệ kim loại
Tiền
giấy chia tỷ lệ trao đổi
Khó phân
Bút tệ
Nhược điểm

( tiền qua ngân hàng)

Tiền
điện
tử nhất,
( hệ thống
thẻ
Không
đồng
phổ biến
ATM)


Tiền tệ kim loại
Xuất hiện từ khoảng TK
thứ VII trước công nguyên


Khi nền sản xuất và trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển, loài
người đã tìm kiếm và khai thác được kim loại cùng với sự bộc lộ
nhiều nhược điểm của tiền hàng hoá khi kim loại được chọn làm vật
ngang giá chung với ưu điểm như: Có độ bền, gọn, giá trị phổ biến.
Kích thước

Tiền kim loại do nhà nước và cá
nhân đúc nhưng đều phải được nhà
nước quản lý, điều này đánh dấu sựHình dáng
ra đời của nghiệp vụ phát hành tiền.

Trọng lượng
mỗi đơn vị

Quy ước các bộ
kinh tế đi vào ổn định hơn
phận chia nhỏ
của đồng tiền

Đặt tên cho
đồng tiền

phát hành ra tiền giấy


Tiền giấy
Do Nhà nước (ngân hàng Trung
Với sự hình thànhƯơng,
củabộ tài chính v.v...) phát
các khu vực tiền tệ hành.
thốngKhi phân biệt tiền tệ của
nhất, ngày nay cóquốc
nhiều
gia này với tiền tệ của quốc
giamột
khác, người ta dùng cụm từ
quốc gia dùng chung
Đơnvịvịtiền
tiềntệ"
tệ của nhiều quốc gia có thể có
đơn vị tiền tệ như "đơn

đồng EURO

cùng một tên gọi (ví dụ: dollar, franc...) và
để phân biệt các đơn vị tiền tệ đó người ta
thường phải gọi kèm tên quốc gia sử dụng
đồng tiền (ví dụ: dollar Úc)


VD:
Một
tờ
séc

thể
bị
từ
chối
khi
luật pháp
Đơn vị tiền tệ của Việt Nam được gọi là đồng,Theo
ký hiệu
tiền giấy và
dùng
là "đ",toán
ký hiệu
tế là VND
được trong
dùng nước
để thanh
nợ quốc
nhưng

của Việt Nam,
tiền kim loại
là phương tiện thanh toán pháp
đơngiấy
vị nhỏvàhơn
củakim
đồngloại
là hào
hào = 1 đồng)
vàkhông
xu (10
xuhạn.
= 1 hào)
quy
giới
tiền
tiền
thì(10
không.

Tuy nhiên tiền kim loại có thể là
phương tiện thanh toán pháp quy bị

Tiền tệ là phương tiện thanh toán pháp quy nghĩa là luật
luật pháp
quốctagia
hạnphải chấp nhận nó khi
pháp
quy của
địnhmột
người
bắtgiới
buộc
được
dùng
để
thanh
toán
cho
một
khoản
nợ
được
xác
lập
không vượt quá một số lượng đơn vị
bằng đơn vị tiền tệ ấy.
tiền tệ nào đó tuỳ theo mệnh giá của
những đồng tiền kim loại ấy.


Bút tệ

Phát triển cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của ngân hàng

Là tiền ghi sổ, việc thanh
toán thông qua việc
chuyển khoảng hoặc bù
trừ trên tài khoản ký thác
ở ngân hàng

Ưu điểm

Nhược điểm

Làm đa dạng các
phương tiện thanh
toán, giảm chi phí
lưu hành tiền giấy

Mất thời gian luân
chuyển và lưu phép
chứng từ


Tiền điện tử
Là hình thức tiền tệ hiện
đại trong thời đại tiến
bộ khoa học kỹ thuật
Chuyển khoản
thanh toán


HỆ THỐNG TIỀN TỆ VIỆT NAM
Các yếu tố cấu thành hệ thống tiền tệ
- bản vị tiền tệ: cơ sở để định giá đồng tiền của quốc
gia.
- Đơn vị tiền tệ
- Công cụ thanh toán.

Trong chế độ tiền tệ, thì bản vị tiền tệ là yếu tố
luôn thay đổi
Hệ thống tiền tệ đảm bảo cho việc thực hiện các chức
năng của tiền tệ một cách thích hợp bằng việc quy
định sự cung tiền tệ, quản lý tiền tệ, tổ chức lưu thông
tiền tệ.


Lịch sử ra đời của tiền tệ Việt Nam
Đồng tiền của nước Việt Nam thời Bắc thuộc
Căn cứ vào các hoạt động khảo
cổ, thời kỳ này tiền đồng Trung
Quốc được lưu hành tại Việt
Nam như Hán nguyên thông
bảo Hán, Khai nguyên thông
bảo của
nhà Đường và
cả
những đĩnh vàng, đĩnh bạc
cũng được lưu hành.


Lịch sử ra đời của tiền tệ Việt Nam
Thời phong kiến độc lập
Mỗi triều đại nước ta thường cho
đúc một loại tiền riêng, bao gồm
tiền đồng, tiền kẽm, tiền sắt, tiền
giấy. Cuối năm 1820 (cuối triều Gia
Long), song song với tiền đồng, các
thoi vàng, thoi bạc, đồng vàng, bạc
cũng được sử dụng.


Lịch sử ra đời của tiền tệ Việt Nam
Thời kỳ Việt Nam là một phần Đông Dương thuộc Pháp
Đơn vị tiền tệ cả khu vực
là Piastre, thường gọi là “bạc”.
Lúc
đầu

đồng
bạc Mexico nặng 27,73 gam,
sau đó có đồng bạc Đông
Dương nặng 27 gam. Ngân
hàng Đông Dương cũng phát
hành cả tiền giấy nữa. Tờ tiền
giấy in hình 3 thiếu nữ với
những bộ trang phục truyền

Đồng
bạc
Đông
đúc tại
Pháp.
Đồng
Tờ
bạc
100
Mexico
bạc Dương
Đông
đúcDương.
năm
1838.


Lịch sử ra đời của tiền tệ Việt Nam
Thời kỳ sau cách mạng tháng 8
Từ 1945 – 1954, sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, giấy bạc Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà ra đời ngày 31/11/1946. Một mặt in chữ “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” bằng
chữ quốc ngữ, chữ Hán và hình chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt in hình Nông – Công – Binh.
Các loại giấy bạc đều có số Ả Rập, chữ quốc ngữ, chữ Hán, Lào, Campuchia chỉ mệnh giá;
có ký tên của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Giám đốc Ngân khố Trung Ương.

Tờ giấy bạc tài chính 100 đồng với chữ Hán ngay
bên dưới ảnh Bác Hồ.

Tờ giấy bạc tài chính 5 đồng.


Ngày 5/6/1951, Ngân hàng Quốc gia
Việt nam thành lập và phát hành giấy
bạc ngân hàng. 1 đồng ngân hàng đổi
lấy 10 đồng tài chính. Giấy bạc ngân
hàng có các loại mệnh giá: 1, 10, 20,
50, 100, 200, 500, 1.000 và 5.000
Tờ giấy bạc ngân hàng 20 đồng có màu tím khá đẹp.
đồng. Một mặt in chữ “Việt nam Dân
chủ Cộng hoà” và hình Hồ Chí Minh,
một mặt in hình Công – Nông –
Binh và bộ đội ở chiến trường. Trên
giấy bạc có số hiệu, mệnh giá ghi
bằng số Ả Rập, chữ quốc ngữ và
chữ Hán.Tờ giấy bạc ngân hàng 100 đồng.

Tờ giấy bạc ngân hàng 20 đồng có
màu tím khá đẹp.

Tờ giấy bạc ngân hàng 100 đồng.

Và tờ 5.000 đồng, tờ giấy bạc
có giá trị nhất lúc bấy giờ.
Và tờ 5.000 đồng, tờ giấy bạc
có giá trị nhất lúc bấy giờ.


Sau đó, do có nhiều khó khăn trong liên lạc, Trung Bộ và Nam Bộ được phát
hành tiền riêng. Tiền này có mệnh giá 1, 5, 20, 50 và 100 đồng. Hình ảnh
trang trí tương tự nhưng có thêm chữ kí của Chủ tịch Uỷ Ban kháng chiến
Nam Bộ, đại diện Bộ trưởng Tài chính và Giám đốc Ngân khố Nam Bộ.


Tờ1954
200 đồng.
chữPháp
“Hình
Từ
– 1975,Dòng
sau khi
rờiphạt
khỏikhổViệt sai những kẻ nào giả mạo giấy
bạc do
ngân-hàng
Việt-Nam
Nam,
miền
Bắc và quốc
miền gia
Nam
có 2 chếphát
độ ra” nhằm răn đe những kẻ làm
tiền giả
đã bắt
thời
kì này.
khác
nhau,
mỗiđầu
chếnhen
độ nhóm
in tiềntrong
riêng,
đều
gọi
đồng. Ở tiền
miềnmiền
Nam,Nam
từ phải
1953,đổilưu
Saulà30/4/1975,
thành tiền giải phóng. Từ Quảng
hành
Cộngđồng
hoà).miền
NămNam đổi lấy 1 đồng giải phóng.
NamĐồng
– Đà (tiền
NẵngViệt
trở Nam
vào, 500
1953,
tiềntrở
kim
20, miền
50 xuNam
đượcđổi
đưa
Từ Huế
ra, loại
100010,
đồng
3 đồng giải phóng.
Tờ 1.000 đồng.
vào lưu thông. 1960, có thêm tiền kim loại
1 đồng, và 10 đồng năm 1964, 5 đồng năm
1966 và 20 đồng năm 1968. 50 đồng đúc
năm 1975 nhưng chưa kịp lưu hành thì Việt
Nam Cộng hoà sụp đổ. Vì thế rất hiếm
đồng xu này còn tồn tại.
Tờ 500 đồng.


Tờ 10 xu.

Tờ 10 đồng.

Tờ 2 đồng.


Vào năm 1978, sau khi đất nước thống nhất về mặt hành chính, đã có
một cuộc đổi tiền nữa. Ở miền bắc 1 đồng giải phóng đổi 1
đồng thống nhất, ở miền Nam 1 đồng giải phóng đổi 8 hào thống nhất.
Có phát hành thêm các loại tiền 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20
đồng, 30 đồng, 50 đồng, 100 đồng.

Tờ 5 hào với ảnh cây dừa ở Bến Tre

Tờ 1 đồng với ảnh nhà máy Gang thép
Thái Nguyên.


Lần đổi tiền thứ 3 vào năm 1985, khi 10 đồng
thống nhất đổi 1 đồng tiền mới. Phát hành các
loại tiền 10, 20, 50 đồng.
Tờ 10 đồng với hình ảnh cầu
Thê Húc và đền Ngọc Sơn.

Mặt trước của tờ 50 đồng.


Cho đến nay
Tiền giấy cotton 10.000 và 20.000 đồng in vào năm 1990, loại
50.000 đồng được phát hành từ 15/10/1994, 100.000 đồng cotton
phát hành ngày 1/9/2000.


Trong những năm gần đây, Việt Nam cho
in tiền kim loại mệnh giá nhỏ (nhưng đã
ngừng lưu hành vì tính bất tiện), kết hợp
với việc in tiền giấy làm từ polymer thay
cho giấy cotton. Tiền polymer có nhiều
ưu điểm hơn tiền cotton, như khó làm
giả, độ bền cao hơn 3 – 4 lần, khó rách…
Loại tiền này không thấm nước, phù hợp
khí hậu của Việt Nam mà vẫn thích ứng
với các máy xử lí tiền như máy ATM,
máy đếm tiền… Chi phí tính toán để in
tiền polymer cao gấp đôi tiền cotton.


Thước đo giá trị
Phương tiện lưu thông

CHỨC NĂNG
CỦA TIỀN TỆ VN

Phương tiện cất giữ
Phương tiện thanh toán
Tiền tệ thế giới


Thước đo giá trị

Dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các
hàng hóa khác. Khi đó giá trị của hàng hóa
được biểu hiện bằng 1 lượng tiền nhất định gọi
là giá cả hàng hóa. Giá cả hàng hóa là hình thức
biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa,giá cả
hàng hóa có thể lên xuống xung quanh giá trị
nhưng tổng số giá cả luôn bằng giá trị.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×