Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm giảng dạy triết học

Phần thứ nhất
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY
HAI NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Thạc sĩ Trần Lê Quân
Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật - nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến và nguyên lý về sự phát triển chiếm một vị trí quan trọng trong các nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin. Nắm vững hai nguyên lý này mới có cơ sở khoa
học để nghiên cứu các nguyên lý khác của chủ nghĩa Mác - Lê nin.
Việc giảng dạy mỗi nguyên lý triết học có những đặc điểm riêng. Trong bài viết
này, tôi xin trình bày một số kinh nghiệm của bản thân trong việc giảng dạy hai
nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật.
1. Vì sao nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển được gọi là hai
nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật?
Mỗi môn khoa học đều có một hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật và
nguyên lý riêng. Nguyên lý và quy luật đều được xây dựng trên cơ sở kết cấu các khái
niệm, chúng đều phản ánh bản chất của hiện thực. Nhưng mức độ rộng hẹp lại khác
nhau. Nguyên lý thì rộng hơn quy luật và có độ khái quát cao hơn quy luật.
Ví dụ: Nguyên lý về sự phát triển của thế giới khẳng định tất cả mọi sự
vật, hiện tượng trong thế giới đều vận động và phát triển không ngừng. Sự phát triển là
khuynh hướng chung của thế giới. Đó là nội dung tổng quát nhất của nguyên lý về sự
phát triển. Nhưng sự phát triển đó diễn ra như thế nào, tại sao diễn ra sự phát triển

đó,... thì lại được các quy luật giải thích, chứng minh.
Trong môn học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, phép biện
chứng duy vật gồm những nội dung cơ bản sau đây:
- Hai nguyên lý cơ bản : Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự
phát triển.
- Sáu cặp phạm trù cơ bản: Cái riêng và cái chung; bản chất và hiện tượng; tất
nhiên và ngẫu nhiên; nguyên nhân và kết quả; nội dung và hình thức; khả năng và hiện
thực.
- Ba quy luật cơ bản: Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược lại; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt
đối lập; quy luật phủ định của phủ định.
- Lý luận nhận thức duy vật biện chứng.
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển được gọi là hai
nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là vì:

1


Thứ nhất, các nguyên lý này phản ánh tất cả mọi sự vật, hiện tượng của thế giới,
nó bao quát tất cả các lĩnh vực của thế giới, cả tự nhiên, xã hội và tư duy. Vì vậy, các
nguyên lý này có tính phổ biến nhất so với các nguyên lý khác.
Thứ hai, các nguyên lý này là cơ sở để xây dựng nên những nội dung khác của
phép biện chứng duy vật. Còn những nội dung khác của phép biện chứng duy vật là sự
cụ thể hóa, nhằm giải thích, chứng minh cho hai nguyên lý này.
Cụ thể:
- Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ
sở nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Mối liên hệ giữa các phạm trù trong từng cặp là
những mối liên hệ phổ biến nhất.
- Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật cũng được xây dựng trên cơ
sở nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển:
+ Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất trong quy luật chuyển hóa từ
những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại; mối quan hệ
tác động qua lại giữa các mặt đối lập (sự thống nhất và sự đấu tranh giữa các mặt đối
lập) trong quy luật mâu thuẫn; quan hệ giữa cái phủ định với cái khẳng định trong quy
luật phủ định của phủ định đều được xây dựng trên cơ sở nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến, làm rõ hơn những mối liên hệ phổ biến nhất.
+ Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật đồng thời được xây dựng
trên cơ sở nguyên lý về sự phát triển, chúng luận giải, chứng minh cho cách thức,
nguồn gốc, động lực và xu hướng của sự phát triển.
- Lý luận nhận thức duy vật biện chứng vừa được xây dựng trên cơ sở hai

nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật vừa giải thích, chứng minh cho hai
nguyên lý đó:
Quan hệ giữa thực tiễn với nhận thức; quan hệ giữa nhận thức kinh nghiệm và
nhận thức lý luận, giữa nhận thức thông thường và nhận thức khoa học, giữa nhận thức
cảm tính và nhận thức lý tính,... đều là sự cụ thể hóa của nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến và nguyên lý về sự phát triển.
Chính vì vậy, Ăngghen khẳng định: Phép biện chứng duy vật là khoa học về sự
liên hệ phổ biến và sự phát triển.
Trong các nguyên lý triết học, hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy
vật là hai nguyên lý có tính phổ biến nhất. Khi nghiên cứu bất cứ một nguyên lý hay
quy luật triết học nào, đều phải vận dụng hai nguyên lý này.
Vì vậy, nắm vững hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật mới có cơ
sở để nghiên cứu những nội dung khác của phép biện chứng duy vật.
2. Một số yêu cầu về phương pháp giảng dạy các nguyên lý cơ bản của
phép biện chứng duy vật

2


a) Trước hết phải giảng khái niệm trong nguyên lý
Vì mỗi nguyên lý đều chứa đựng khái niệm. Việc giảng khái niệm, đảm bảo
tính chính xác của nó là điều kiện, tiền đề để hiểu đúng nội dung nguyên lý.
- Đối với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, cần phải giảng các khái niệm sau:
"mối liên hệ", "mối liên hệ phổ biến", "tính khách quan của mối liên hệ", "tính phổ
biến của mối liên hệ"; "tính đa dạng của mối liên hệ", "mối liên hệ bên trong, mối liên
hệ bên ngoài", "mối liên hệ cơ bản, mối lên hệ không cơ bản" "mối liên hệ chủ yếu,
mối liên hệ thứ yếu",...
- Đối với nguyên lý về sự phát triển, cần phải giảng các khái niệm sau: "phát
triển", "tính khách quan của sự phát triển", " tính phổ biến của sự phát triển", "tính đa
dạng của sự phát triển".
b) Phân tích nội dung nguyên lý
Khái niệm mới chỉ là những bậc thang của quá trình nhận thức khoa học, cho
nên không thể dừng lại ở khái niệm, mà phải tiếp tục khai thác nội dung của nguyên
lý, vì nguyên lý mới phản ánh được bản chất của hiện thực. Nó là chân lý, là những lý
luận đã được đúc kết từ hiện thực.
Nội dung nguyên lý phụ thuộc vào quan điểm duy vật biện chứng trong việc
phân tích khái niệm và kết cấu của các khái niệm trong nguyên lý. Vì vậy, sau khi
phân tích khái niệm phải khái quát nội dung nguyên lý.
+ Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
Theo quan điểm duy vật biện chứng thì mọi sự vật, hiện tượng không tồn tại
biệt lập, tách rời nhau mà tồn tại trong sự liên hệ ràng buộc lẫn nhau, quy định sự tồn
tại của nhau. Giữa các mặt trong mỗi sự vật, hiện tượng cũng có mối liên hệ với nhau.
Những mối liên hệ đó tồn tại khách quan chứ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của
con người. Đồng thời những mối liên hệ đó có tính phổ biến ở mọi sự vật hiện tượng
trong thế giới và rất đa dạng, phong phú trong thế giới vật chất. Những tính chất trên
của các mối liên hệ được khái quát từ bản thân các sự vật hiện tượng tồn tại khách
quan.
Khi giải thích tại sao có mối liên hệ phổ biến cũng phải dựa vào quan điểm duy
vật biện chứng: Sở sĩ có mối liên hệ phổ biến đó là vì, bản chất của thế giới là vật chất,
thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó. Thế giới vật chất vận động, phát triển không
ngừng, làm cho các dạng cụ thể của vật chất biến đổi từ cái này sang cái khác. Chúng
là nguyên nhân, kết quả của nhau. Vì vậy, giữa chúng tất yếu có mối liên hệ với nhau.
Như vậy, phân tích nội dung nguyên lý vừa phải dựa vào quan điểm duy vật,
vừa phải dựa vào quan điểm biện chứng.
+ Nội dung của nguyên lý về sự phát triển:

3


Theo quan điểm duy vật biện chứng thì mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới
vật chất luôn vận động, phát triển không ngừng. Phát triển là khuynh hướng chung của
thế giới. Sự phát triển của các sự vật và hiện tượng diễn ra khách quan, có tính phổ
biến và tính đa dạng phong phú.
Nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển nằm ngay trong bản thân thế
giới vật chất, do sự tác động qua lại giữa các mặt, các yếu tố trong bản thân sự vật,
hiện tượng vật chất hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau chứ không phải nằm bên
ngoài thế giới vật chất.
Cho nên, phải đứng trên lập trường duy vật, đồng thời phải dựa vào quan điểm
biện chứng mới làm rõ nội dung của nguyên lý. Đó là yêu cầu có tính nguyên tắc khi
giảng dạy các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Cần chống tư tưởng chủ
quan, duy ý chí, cứng nhắc, một chiều, phiến diện.
c) Đưa ra các cứ liệu để minh họa, chứng minh cho lý luận
- Các cứ liệu để minh họa, chứng minh cho lý luận có thể lấy từ các nguồn sau
đây:
+ Các tài liệu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn.
+ Các sự kiện thực tiễn
+ Các tư liệu trong cuộc sống
+ Các số liệu, thống kê, bảng biểu.
Chẳng hạn, để chứng minh cho nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, có
thể dùng những cứ liệu sau đây:
+ Trong toán học: Các con số có quan hệ với nhau theo những quy luật nhất
định. Cho nên các nhà toán học khái quát nên thành các phép tính như phép cộng, trừ,
nhân, chia, các công thức toán học.
+ Trong vật lý học: Các nhà vật lý học đã chứng minh khối lượng của vật thể
thay đổi theo tốc độ vận động của nó.
+ Trong hóa học: Các nguyên tử có sự liên kết với nhau trong mỗi phân tử. Các
phản ứng hóa học cũng thể hiện mối liên hệ giữa yếu tố này với yếu tố khác.
+ Trong địa lý tự nhiên: Trái đất, mặt trăng, mặt trời, các vì sao,... luôn luôn có
sự tương tác lẫn nhau.
+ Trong thực tiễn đời sống: Con người không thể sống tách rời môi trường tự
nhiên, không thể tách rời xã hội. Trong cơ thể con người, các bộ phận, cơ quan tuần
hoàn, tiêu hóa, bài tiết,... liên hệ với nhau rất chặt chẽ.
Hoặc với nguyên lý về sự phát triển, để chứng minh rằng, phát triển là khuynh
hướng chung của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy), có thể dùng nhiều nguồn cứ liệu
khác nhau.

4


+ Để chứng minh rằng giới tự nhiên phát triển từ giới vô cơ đến hữu cơ, rồi đến
xuất hiện sự sống; từ thực vật đến động vật rồi đến con người, có thể căn cứ vào:
Thuyết hình thành sự sống của bác học Ôparin. Thuyết này đã giải thích sự hình thành
mầm sống sinh vật đầu tiên là Côasécva; thuyết tế bào của Bác học Suan; thuyết tiến
hóa sinh vật của bác học Đắcuyn. Thuyết này đã giải thích quá trình phát triển của
thực vật và động vật từ thấp đến cao. Con người có nguồn gốc từ động vật bậc cao.
Suy cho cùng, là kết quả, là sản phẩm của sự phát triển lâu dài của thế giới vật chất.
+ Để chứng minh cho sự phát triển của của xã hội loài người từ thấp đến cao, có
thể dựa vào những cứ liệu của khoa học lịch sử, khảo cổ học, văn hóa học:
Khảo cổ học, nhân chủng học đã xác nhận các di tích còn lại của người cổ đại
như người "Giava" và người "Bắc kinh".
Ăngghen đã giải thích quá trình lao động đã làm cho con vượn tiến hóa thành
con người trải qua các giai đoạn lịch sử lâu dài (trong tác phẩm biện chứng của tự
nhiên).
Những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã chứng minh lịch sử dân tộc
Việt Nam cũng có một quá trình phát triển từ thấp đến cao: Từ nền văn hóa Đông Sơn
(Văn Lang - Âu lạc) trải qua hàng ngàn năm lịch sử phát triển cho tới ngày nay.
Thực tiễn đời sống xã hội cũng cho chúng ta thấy: Sản xuất vật chất ngày càng
phát triển, những công cụ lao động do con người chế tạo ra ngày càng tiên tiến, hiện
đại, năng suất lao động ngày càng cao, của cải vật chất và tinh thần ngày càng nhiều,
các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, tư tưởng không
ngừng phát triển với trình độ ngày càng cao.
Tóm lại, nguyên lý về sự phát triển đã được chứng minh bằng những cứ liệu
khoa học.
Như vậy, có rất nhiều nguồn cứ liệu có thể lấy để minh họa hay chứng minh cho
lý luận đã nêu. Tuy nhiên, không cần thiết phải đưa ra thật nhiều cứ liệu. Điều quan
trọng là phải chọn lựa những cứ liệu nào điển hình nhất minh họa cho nội dung của
nguyên lý để người học thấy được đó là những nguyên lý cơ bản nhất, phản ánh toàn
bộ thế giới.
d) Rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên lý (ý nghĩa phương pháp luận)
Mỗi nguyên lý triết học đều có một giá trị về mặt khoa học và thực tiễn của nó.
Giá trị khoa học của nguyên lý là ở tính phản ánh đúng đắn hiện thực khách
quan của nó. Nguyên lý được khái quát từ thực tiễn trở thành lý luận, trở thành chân
lý. Nó phản ánh bản chất của sự vật. Vì vậy, lý luận đó có giá trị to lớn khi vận dụng
vào thực tiễn.

5


Mỗi nguyên lý triết học đều được ứng dụng vào thực tiễn để giải thích thế giới
và tiến tới cải tạo thế giới. Nó chỉ ra về mặt phương pháp luận, hoạt động của con
người phải làm như thế nào thì sẽ có hiệu quả.
Về mặt nhận thức, ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý là ở chỗ, nó chỉ ra
cho con người phải làm như thế nào thì mới nhận thức đúng sự vật. Còn về mặt thực
tiễn, nguyên lý chỉ ra cho con người phải tác động vào sự vật như thế nào mới có cải
tạo sự vật theo mục đích của con người một cách có hiệu quả.
Như vậy, tuân theo phương pháp luận của nguyên lý nói trên sẽ đảm bảo cho
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người đạt được sự thành công và
tính hiệu quả cao.
Vì vậy, sau khi phân tích nội dung của nguyên lý phải rút ra ý nghĩa phương
pháp luận để ứng dụng vào hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người. Việc phân
tích ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý phải bằng những ví dụ cụ thể mới thuyết
phục được người học và hướng dẫn người học vận dụng vào hoạt động học tập, lao
động, công tác, hoạt động xã hội.
- Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến được rút ra
từ nội dung của nguyên lý đó:
Vì mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng
khác và giữa các mặt trong mỗi sự vật, hiện tượng đều có mối liên hệ với nhau. Những
mối liên hệ này có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú, cho nên
khi nhận thức hoặc cải tạo sự vật, đòi hỏi con người phải quán triệt quan điểm toàn
diện và quan điểm lịch sử - cụ thể, tránh quan điểm phiến diện, một chiều. Chỉ có như
vậy, con người mới nhận thức đúng đắn sự vật. Nhận thức đúng đắn đó khi được vận
dụng vào thực tiễn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn sẽ đem lại thành công và hiệu quả cao.
Chẳng hạn, nhờ quán triệt quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể,
cho nên Đảng ta đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân, toàn
dân, toàn diện và dựa vào sức mình là chính,...Đường lối đúng đắn đó được Đảng ta đề
ra trên cơ sở xem xét một cách toàn diện bối cảnh lịch sử trong nước và thế giới, sự
tương quan lực lượng giữa ta và địch,... Thực hiện theo đường lối đó, Đảng đã lãnh
đạo nhân dân ta giành thắng lợi hoàn toàn trong hai cuộc kháng chiến đó, làm cho đất
nước được hoàn toàn độc lập và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới
toàn diện đất nước do Đảng ta đề ra và lãnh đạo. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước
hiện nay, chúng ta không chỉ thực hiện đổi mới kinh tế mà kết hợp đổi mới kinh tế với
đổi mới chính trị, gắn kết mục tiêu tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công

6


bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường. Đó là đường lối đổi mới đúng đắn,
là kết quả của sự vận dụng đúng đắn quan điểm toàn diện và lịch sử - cụ thể.
- Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về sự phát triển được rút ra từ việc
phân tích nội dung của nguyên lý này như sau: Vì mọi sự vật và hiện tượng đều vận
động và phát triển không ngừng, phát triển là khuynh hướng chung của thế giới, cho
nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, đòi hỏi chúng ta phải quán triệt quan điểm
phát triển.
Trong nhận thức, quán triệt quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta phải khái quát
các khuynh hướng vận động và phát triển của sự vật, vạch ra khuynh hướng vận động
tiến lên của chúng, tức là khuynh hướng phát triển của sự vật. Còn trong hoạt động
thực tiễn, vận dụng quan điểm phát triển, đòi hỏi con người phải tạo ra những điều
kiện thuận lợi để thúc đẩy sự phát triển của sự vật diễn ra nhanh hơn theo hướng có lợi
cho con người.
Chẳng hạn, trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn như việc sản xuất kinh
doanh của nhiều doanh nghiệp trong tình trạng thua lỗ kéo dài, lạm phát, giá cả gia
tăng,...Nhưng khuynh hướng chung của nền kinh tế là vận động tiến lên, tức là phát
triển. Vì thế, chúng ta phải tin tưởng rằng nền kinh tế của chúng ta sẽ vượt qua những
khó khăn, thử thách và tiến lên. Điều quan trong là trong hoạt động thực tiễn, chúng ta
phải tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế như khai thác và phát
huy tối đa nội lực, tranh thủ mọi nguồn lực từ bên ngoài,...
Quan điểm phát triển gắn liền với quan điểm lịch sử - cụ thể bởi vì: sự phát triển
của các sự vật hiện tượng trong thế giới rất đa dạng, phong phú. Trong những điều
kiện lịch sử khác nhau, môi trường khác nhau, sự phát triển của sự vật diễn ra khác
nhau. Vì vậy khi xem xét sự vật cũng như khi tác động vào sự vật, phải chú ý đến hoàn
cảnh lịch sử cụ thể của nó. Có như vậy, chúng ta mới hiểu đúng sự vật và tác động vào
sự vật một cách có hiệu quả.
Phần thứ hai
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY
CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Trong môn học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, phép biện
chứng duy vật gồm những nội dung cơ bản sau đây:
- Hai nguyên lý cơ bản : Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự
phát triển.

7


- Sáu cặp phạm trù cơ bản: Cái riêng và cái chung; bản chất và hiện tượng; tất
nhiên và ngẫu nhiên; nguyên nhân và kết quả; nội dung và hình thức; khả năng và hiện
thực.
- Ba quy luật cơ bản: Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược lại; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt
đối lập; quy luật phủ định của phủ định.
- Lý luận nhận thức duy vật biện chứng.
Việc giảng dạy mỗi nội dung của phép biện chứng duy vật có những đặc điểm
riêng. Trong bài viết này, tôi xin trình bày một số kinh nghiệm của bản thân trong việc
giảng dạy các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.
1. Phân biệt quy luật của phép biện chứng duy vật, quy luật triết học và
quy luật của các khoa học khác.
Quy luật của triết học cũng như quy luật của các khoa học khác đều được kết
cấu, xây dựng từ những khái niệm nhất định. Song, quy luật của triết học và quy luật
của các khoa học cụ thể có sự khác nhau:
- Quy luật của mỗi khoa học cụ thể phản ánh sự vận động và phát triển của một
lĩnh vực cụ thể của thế giới hiện thực.
Ví dụ: Các khoa học tự nhiên có các quy luật riêng của nó như các định lý toán
học, vật lý học, hóa học,...
Các học thuyết về tế bào, tiến hóa của giới sinh vật, các định luật bảo toàn và
chuyển hóa năng lượng, định luật vạn vật hấp dẫn; các quy tắc biến đổi của số học,
hình học,...chúng đều phản ánh quy luật của tự nhiên và chỉ khái quát một lĩnh vực vật
chất nhất định.
- Các quy luật triết học mang tính phổ biến, phản ánh toàn bộ thế giới vật chất
(tự nhiên, xã hội và tư duy).
- Trong các quy luật triết học, các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
là các quy luật có tính phổ biến nhất. Mọi sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất đều
vận động và phát triển theo các quy luật này.
Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật là cơ sở của các quy luật
khác. Vì vậy, Việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy các quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nếu không hiểu đúng các quy luật này
thì không thể hiểu được các quy luật khác.
2. Một số yêu cầu về phương pháp giảng dạy các quy luật cơ bản của phép
biện chứng duy vật
a) Trước hết phải giảng khái niệm trong quy luật
Vì mỗi quy luật đều chứa đựng khái niệm. Hiểu đúng khái niệm là tiền đề để
hiểu đúng quy luật.

8


- Đối với quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự
thay đổi về chất và ngược lại, cần phải giảng các khái niệm sau: "lượng", "chất", "độ",
"điểm nút"; "bước nhảy", "tiến hóa", "cách mạng",...
- Đối với quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, cần phải giảng
các khái niệm sau: "Mặt đối lập", "mâu thuẫn biện chứng", " sự thống nhất", "sự đấu
tranh", "sự chuyển hóa",...
- Đối với quy luật phủ định của phủ định, phải giảng các khái niệm "phủ định
biện chứng", "phủ định siêu hình", "phủ định của phủ định",...
b) Phân tích nội dung của quy luật
Lê nin cho rằng: Khái niệm chưa phải là cao nhất mà tư tưởng phù hợp với tồn
tại mới là cao nhất.
Bản thân khái niệm chưa phải là vương quốc riêng của hiện thực, mà khái niệm
chỉ là những bậc thang của quá trình nhận thức khoa học. Cho nên, không thể dừng lại
ở khái niệm, mà phải tiếp tục khai thác nội dung của quy luật, vì quy luật mới phản
ánh được bản chất của hiện thực. Nó là chân lý, là những lý luận đã được đúc kết từ
hiện thực.
Nội dung quy luật phụ thuộc vào quan điểm duy vật biện chứng trong việc
phân tích khái niệm và kết cấu của các khái niệm trong quy luật.
Ví dụ: Đối với "quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược lại", theo quan điểm duy vật biện chứng thì:
+ Chất và lượng là hai mặt không tách rời nhau trong mỗi sự vật, hiện tượng (sự
thống nhất giữa chất và lượng). Trong đó, lượng là mặt thường xuyên biến đổi, chất là
mặt tương đối ổn định (ít biến đổi). Những đặc điểm và tính chất đó của chất và lượng
mang tính khách quan chứ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Như
vậy, phân tích nội dung quy luật phải dựa vào quan điểm duy vật.
+ Nhưng hai mặt chất và lượng không tồn tại biệt lập với nhau mà có sự tác
động qua lại với nhau: Sự biến đổi của lượng trong những điều kiện nhất định sẽ dẫn
đến sự biến đổi của chất và ngược lại, sự biến đổi của chất tất yếu dẫn đến sự biến đổi
của lượng (quan điểm biện chứng).
Cho nên, phân tích nội dung quy luật phải đứng trên lập trường duy vật, đồng
thời phải dựa vào quan điểm biện chứng để làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa các
khái niệm. Chống tư tưởng cứng nhắc, một chiều, phiến diện.
Khi phân tích nội dung của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập, người giảng viên phải dựa vào quan điểm duy vật biện chứng để làm rõ mối quan
hệ biện chứng giữa sự thống nhất và sự đấu tranh của các mặt đối lập trong mâu thuẫn
(các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau; sự chuyển hóa giữa chúng)
và vai trò của nó đối với sự vận động và phát triển của sự vật.

9


Khi phân tích nội dung của quy luật phủ định của phủ định cũng vậy, phải dựa
vào quan điểm duy vật biện chứng để làm rõ mối quan hệ giữa cái phủ định với cái
phủ định của phủ định (cái khẳng định) và vai trò của nó đối với sự vận động và phát
triển của sự vật.
Sự kết cấu của các khái niệm trong quy luật có thể đi theo hướng tác động cùng
chiều hoặc tác động ngược chiều của các khái niệm. Những mối liên hệ này có tính lặp
lại ở mọi sự vật, hiện tượng, trong mọi lĩnh vực của thế giới.
c) Đưa ra các cứ liệu để minh họa, chứng minh cho lý luận
Các cứ liệu để minh họa, chứng minh cho lý luận có thể lấy từ các nguồn sau
đây:
+ Các tài liệu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn.
+ Các sự kiện thực tiễn
+ Các tư liệu trong cuộc sống
+ Các số liệu, thống kê, bảng biểu.
Ví dụ 1:
Để chứng minh cho những sự thay đổi về lượng chuyển hóa thành những sự
thay đổi về chất, có thể dùng cứ liệu là các tư liệu của khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội - nhân văn để chứng minh:
+ Trong toán học: Có một hình chữ nhật, người ta có thể tăng và giảm chiều
rộng (sự biến đổi của lượng). Nhưng sự tăng, giảm đó phải trong một giới hạn nhất
định thì nó vẫn còn là hình chữ nhật. Nếu tăng chiều rộng bằng chiều dài thì sẽ biến
thành hình vuông, hoặc giảm chiều rộng bằng không thì hình chữ nhật trở thành đường
thẳng (sự biến đổi của chất).
+ Trong hóa học:
Hai nguyên tử ôxi kết hợp với nhau tạo thành một phân tử ôxi.
O + O = O2
Ba nguyên tử ôxi kết hợp với nhau tạo thành một phân tử ôzôn.
O + O + O = O3.
Tùy theo sự biến đổi về lượng (số lượng các nguyên tử ôxi) mà tạo thành các
chất (sự biến đổi chất) khác nhau (ô xi ; ôzôn).
+ Trong vật lý học:
Khi nhiệt độ của nước tăng lên trên 1000C (sự thay đổi về lượng ) thì nước từ
thể lỏng chuyển hóa thành thể hơi (sự thay đổi về chất).
+ Trong khoa học lịch sử:
Sự phát triển của phong trào cách mạng nước ta (sự thay đổi về lượng) từ khi
Đảng ta ra đời và lãnh đạo đã dẫn đến cao trào cách mạng 1930 - 1931 và Xôviết Nghệ
Tĩnh (sự thay đổi về chất).

10


Tương tự như vậy, các cao trào cách mạng 1936 - 1939; cao trào cách mạng
1939 - 1945,... là những sự chuyển biến về chất của phong trào cách mạng Việt Nam
do sự biến đổi về lượng gây nên.
+ Từ thực tiễn cuộc sống (học tập, lao động, công tác xã hội):
Mỗi người sinh viên phải trải qua một quá trình học tập, rèn luyện nhất định (sự
thay đổi về lượng) mới có được kết quả học tập tốt (sự thay đổi về chất).
Hoặc cây trồng phải sau một thời gian sinh trưởng, phát triển (sự thay đổi về
lượng) mới ra hoa, kết trái (sự thay đổi về chất).
Ví dụ 2:
Khi dạy quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, để chứng minh
cho sự thống nhất và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, có thể dùng những cứ liệu sau
đây:
+ Trong vật lý học: Sức hút và sức đẩy, điện tích âm và điện tích dương,...
+ Trong hóa học: giữa hóa hợp và phân giải các chất.
+ Trong sinh học: Giữa đồng hóa và dị hoá; biến dị và di truyền,...
+ Trong lịch sử xã hội: giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột trong các chế
độ xã hội có đối kháng giai cấp.
+ Trong Triết học: Giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm; giữa khả tri
luận và bất khả tri luận, giữa biện chứng và siêu hình,..
+ Trong cuộc sống: Giữa người tốt và người xấu, giữa thiện và ác, giữa năng
động và thụ động, giữa công bằng và bất công,....
Ví dụ 3: Khi dạy quy luật phủ định của phủ định, để chứng minh rằng quá trình
phủ định biện chứng tạo nên khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, theo
đường xoáy ốc, có thể dùng những cứ liệu sau đây:
- Trong khoa học tự nhiên:
+ Bảng hệ thống tuần hoàn của các nguyên tố hóa học.
+ Quá trình phát triển của các loài thực vật và động vật tuân theo chu kỳ nhất
định (cây - hoa - quả - cây... hoặc : trứng tằm - tằm con - kén - nhộng - bướm - trứng
tằm...)
+ Trong khoa học xã hội: Quá trình phát triển của xã hội loài người, từ xã hội
không có giai cấp (xã hội cộng sản nguyên thủy) đến xã hội có giai cấp (xã hội chiếm
hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản), rồi lại đến xã hội không giai cấp (xã hội
cộng sản chủ nghĩa).
+ Trong triết học: Sự phủ định lẫn nhau giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
duy tâm trong lịch sử triết học.
+ Trong cuộc sống hàng ngày: Sự lặp lại của các hoạt động ăn uống, nghỉ ngơi,
học tập, lao động hay công tác,...từ ngày này qua ngày khác.

11


Như vậy, có rất nhiều nguồn cứ liệu có thể lấy để minh họa hay chứng minh cho
lý luận đã nêu. Tuy nhiên, không cần thiết phải đưa ra thật nhiều cứ liệu. Điều quan
trọng là phải chọn lựa những cứ liệu nào điển hình nhất minh họa cho nội dung quy
luật để người học thấy được đó là quy luật cơ bản nhất. Mọi sự vật và hiện tượng trong
thế giới đều vận động và phát triển theo quy luật này.
Theo kinh nghiệm của bản thân khi giảng dạy mỗi quy luật cơ bản của phép
biện chứng duy vật, những cứ liệu đưa ra để phân tích, chứng minh cho nội dung quy
luật phải là những cứ liệu điển hình thuộc ba lĩnh vực là tự nhiên, xã hội và tư duy.
Khi phân tích, chứng minh nội dung quy luật, phải làm rõ mối quan hệ biện
chứng giữa các khái niệm cơ bản trong quy luật.
Chẳng hạn, đối với quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược lại, cần làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa chất
và lượng. Các khái niệm "Độ"; "Điểm nút"; "Bước nhảy" là sự thể hiện mối quan hệ
đó. Đối với quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, phải làm rõ mối
quan hệ biện chứng giữa các mặt đối lập. "Sự thống nhất, sự đấu tranh và sự chuyển
hóa giữa các mặt đối lập" là biểu hiện của mối quan hệ đó. Đối với quy luật phủ định
của phủ định, cần phải làm rõ mối quan hệ giữa cái phủ định với cái phủ định của phủ
định (cái khẳng định).
Một điều cần lưu ý nữa là, sau khi đã phân tích làm rõ những mối quan hệ biện
chứng giữa các khái niệm cơ bản của quy luật, cần nhấn mạnh những mối quan hệ đó
được lặp đi lặp lại ở mọi sự vật hiện tượng hoặc giữa các mặt trong mỗi sự vật, hiện
tượng, trong mọi lĩnh vực của thế giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy). Sự lặp lại của
những mối quan hệ đó tạo thành quy luật vận động của sự vật, hiện tượng. Và kết luận,
đó là một trong những quy luật cơ bản của sự vận động và phát triển của mọi sự vật,
hiện tượng.
Chẳng hạn, đối với quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược lại, sau khi đã phân tích, chứng minh rõ quá trình
chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất, làm cho
chất cũ mất đi, chất mới ra đời; sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời, cần nhấn mạnh
rằng ở sự vật mới lại tiếp tục diễn ra (sự lặp lại) quá trình chuyển hóa giữa sự thay đổi
về lượng và sự thay đổi về chất...
Tương tự như vậy, khi giảng dạy quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt
đối lập hay quy luật phủ định của phủ định, việc nhấn mạnh sự lặp lại của các mối
quan hệ giữa các khái niệm cơ bản trong quy luật là hết sức cần thiết, vì nếu không có
sự lặp lại của các mối quan hệ đó thì không phải là quy luật.
d) Rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu quy luật (ý nghĩa phương pháp luận)
Mỗi quy luật triết học đều có một giá trị về mặt khoa học và thực tiễn của nó.

12


- Giá trị khoa học của quy luật là ở tính khách quan, tính phản ánh đúng đắn
hiện thực khách quan của nó. Quy luật được khái quát từ thực tiễn trở thành lý luận,
trở thành chân lý. Nó phản ánh bản chất của sự vật. Vì vậy, lý luận đó có giá trị to lớn
khi vận dụng vào thực tiễn.
- Ý nghĩa đối với thực tiễn:
Mỗi quy luật triết học đều được ứng dụng vào thực tiễn để giải thích thế giới và
tiến tới cải tạo thế giới. Nó chỉ ra về mặt phương pháp luận, hoạt động của con người
phải làm như thế nào thì sẽ có hiệu quả.
Ví dụ: Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi
về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại.
Vì lượng biến đổi dần dần, phải đạt tới một mức độ nhất định (điểm nút) thì
chất mới biến đổi, sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ. Điều đó nói lên cách thức phát
triển của sự vật.
Chính vì vậy, trong thực tiễn, muốn cho sự vật phát triển phải có một quá trình
tích lũy về lượng. Phải tạo điều kiện cho lượng phát triển. Chống tư tưởng nôn nóng,
muốn có sự thay đổi nhanh chóng về chất.
Quy luật đó được vận dụng vào trong thực tiễn rất sinh động:
- Trong cách mạng chống thực dân, đế quốc, Đảng ta đã nắm được quy luật trên
và vận dụng vào trong thực tiễn cách mạng, đó là: Đề ra và thực hiện chủ trương xây
dựng lực lượng cách mạng dần dần, từ nhỏ đến lớn, từ những trận đánh nhỏ đến những
trận đánh lớn, từ đánh du kích đến đánh chính quy. Quá trình phát triển của phong trào
cách mạng biến đổi dần dần. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954,
chúng ta đã lớn mạnh dần về các mặt quân sự, chính trị và ngoại giao, nhờ đó giành
được những chiến thắng to lớn. Từ chiến thắng Việt Bắc thu - đông (1947), chiến
thắng biên giới (1950), chiến thắng Hòa Bình,Tây Bắc (1952 - 1953) cho đến chiến
thắng Điện Biên Phủ (1954) làm chấn động địa cầu. Thực dân Pháp phải đầu hàng, hòa
bình lập lại ở Đông Dương, Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đất nước bước sang giai
đoạn mới thay đổi hẳn về chất.
Cũng lý giải như vậy, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân
dân ta đã kết thúc thắng lợi hoàn toàn với cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân
năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh (ngày 30 - 4 -1975), giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là sự thay
đổi về chất của xã hội Việt Nam. Có được sự thay đổi về chất nói trên là kết quả của
quá trình tích lũy lâu dài về lượng trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại
giao trong suốt hơn hai mươi năm kiên trì, bền bỉ đấu tranh (1954 - 1975) của Đảng và
nhân dân ta.

13


Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, chúng ta không thể nóng vội, phải
từng bước cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản
chủ nghĩa. Đó là quá trình tích lũy lâu dài những biến đổi dần dần về lượng trong trong
từng lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi
về chất có ý nghĩa đối với mỗi người chúng ta:
Trong lĩnh vực học tập, nghiên cứu, quá trình phát triển tri thức của mỗi người
là quá trình tích lũy kiến thức. Sự cần cù trong học tập giúp cho lượng kiến thức được
tích lũy ngày càng nhiều, làm cho trình độ tri thức ngày càng nâng cao.
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về
chất được vận dụng rộng rãi trong đời sống thực tiễn của con người và được đúc kết
thành những câu tục ngữ:
Có công mài sắt, có ngày nên kim;
Chín quá hóa nẫu;
Góp gió thành bão;
Tích tiểu thành đại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lê nin dùng cho sinh viên đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội 2009.
2. V.I. Lê-nin, Bút ký triết học. NXB Sự thật Hà Nội, 1983,tr.147.

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×