Tải bản đầy đủ

Giải pháp giúp việt nam vượt qua hàng rào kỹ thuật của mỹ đối với hàng nông sản xuất khẩu

1

LỜI MỞ ĐẦU
Mỹ là một thị trường xuất nhập khẩu khổng lồ, với sức mua lớn, đa dạng về thu
nhập, đa dạng về chủng loại và nhu cầu hàng hóa. Hoạt động thương mại nông sản của
Mỹ chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại nông sản thế giới, do đó Mỹ là một trong
những đối tác quan trọng đồng thời là thị trường mơ ước của các doanh nghiệp xuất
khẩu nông sản , trong đó không loại trừ các doanh nghiệp Việt Nam.
Xuất khẩu nông sản vào thị trường Mỹ là một thế mạnh của Việt Nam trong hơn
chục năm qua nhưng điều đó dường như đã thay đổi khi thị trường nước này ngày càng
có nhiều quy định, đòi hỏi nhà xuất khẩu phải vượt qua, nói nôm na là những rào cản
của thị trường này ngày một tăng.
Một trong những trở ngại khiến xuất khẩu nông sản của Việt Nam khó vào thị
trường Mỹ đó là các rào cản kỹ thuật đối với hàng hóa. Theo đánh giá chung, Mỹ được
cho là quốc gia có hệ thống luật pháp phức tạp và nhiều rào cản kỹ thuật đối với
thương mại.
Trước những thực tế đó, mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu nông sản vào thị trường Mỹ
đòi hỏi phải có sự nhìn nhận toàn diện về những rào cản kỹ thuật tại thị trường này mà
mặt hàng nông sản Việt Nam có thể gặp phải trong quá trình xuất khẩu. Chỉ trên cơ sở
nắm rõ các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật mà thị trường Mỹ đối với hàng nông sản xuất
khẩu của Việt Nam ta mới có cơ sở rõ ràng trong đàm phán, yêu cầu đối tác mở cửa thị

trường, đồng thời xây dựng được hệ thống các giải pháp thích hợp để vượt rào cản,
nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
Tổng hợp những nội dung trên, nhóm chúng tôi quyết định chọn đê tài: “Giải pháp
giúp Việt Nam vượt qua hàng rào kỹ thuật của Mỹ đối với hàng nông sản xuất
khẩu” làm nội dung đề tài nghiên cứu.


2

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG MỸ VÀ QUAN HỆ
THƢƠNG MẠI VIỆT-MỸ
1.1 Tổng quan về thị trƣờng Mỹ:
1.1.1 Khái quát về nền kinh tế Mỹ .
Trước hết, Mỹ là một thị trường xuất nhập khẩu khổng lồ, với sức mua lớn, đa dạng
về thu nhập, đa dạng về chủng loại và nhu cầu hàng hóa. Mặt hàng xuất khẩu chính của
Mỹ chủ yếu là sản phẩm chế tạo như máy móc văn phòng, thiết bị viễn thông, thép và
sản phẩm thép, ô tô và phụ tùng ô tô, hóa chất…; sản phẩm nhập khẩu chính của Mỹ là
thực phẩm, quặng các loại, kim loại màu, nhiên liệu chủ yếu là dầu mỏ, hàng dệt và
may mặc, giày dép. Ngoài ra còn là những sản phẩm chế tạo như thiết bị điện tử, ô tô,
phụ tùng ô tô, thiết bị điện, hóa chất…
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ chiếm 50% GDP thế giới, 1/3 buôn bán quốc
tế. Tỷ trọng của nền kinh tế Mỹ trong nền kinh tế thế giới tuy giảm song hiện nay vẫn
giữ ở mức 22% GDP thế giới (năm 2011 GDP của Mỹ đạt gần 13.860 tỷ USD).
Với diện tích khoảng 9,4 triệu km2 và dân số trên 311,6 triệu người, Mỹ thực sự trở
thành một cường quốc kinh tế với sức mua lớn nhất thế giới. Các “con Rồng” Châu Á
đã phát triển nhanh nhờ vào việc chiếm lĩnh được thị phần khá lớn tại thị trường này.
Điều này có thể khẳng định rằng tất cả các quốc gia trên thế giới đều mong muốn thiết
lập quan hệ thương mại với Mỹ, vì Mỹ là một thị trường có sức mua lớn và một nền
tảng khoa học công nghệ cao.


3

Biểu đồ 1.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ từ 1991 - 2011
Nguồn: CRS with data from U.S. Department of Commerce, Bureau of Economic Analysic
Mỹ là một quốc gia chi phối gần như tuyệt đối hầu hết các tổ chức kinh tế quốc tế
như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ
Quốc tế (IMF)… bởi Mỹ có tiềm lực tài chính đóng góp nhiều và theo đó quyền phủ
quyết áp đảo trong các tổ chức này rất lớn. Bên cạnh đó đồng USD có vai trò thống trị
thế giới. Với 24 nước gắn trực tiếp đồng tiền của họ vào đồng USD, trên 55 nước “neo

giá” vào đồng USD để thị trường tự do ổn định tỷ giá, các nước còn lại ở nhiều mức độ
khác nhau vẫn sử dụng hệ thống dựa vào chỉ tiêu biến động của đồng USD để tính toán
giá trị đồng tiền của mình. Và đặc biệt với một thị trường chứng khoán chi phối hàng
năm khoảng 8000 tỷ USD (trong khi các thị trường chứng khoán Nhật chỉ vào khoảng
3800 tỷ USD, thị trường EU khoảng 4000 tỷ USD), mọi sự biến động của đồng USD
và hệ thống tài chính Mỹ đều có ảnh hưởng đáng kể đến sự biến động của nền tài chính
quốc tế.
Từ một nền kinh tế như vậy, các chiến lược kinh tế thương mại của Mỹ bao giờ
cũng được đặt trong các chương trình điều chỉnh tổng thể nhằm làm thích ứng, thậm


4

chí làm thay đổi các xu thế phát triển của thế giới. Với tiềm năng to lớn và những ưu
thế nêu trên, trong những thập kỷ tới, Mỹ vẫn là cường quốc kinh tế số một của thế
giới, và đặc biệt đóng vai trò chi phối đối với nền kinh tế và thương mại trong khu vực
cũng như trên toàn cầu.
1.1.2 Tiềm năng nhập khẩu của thị trường Hoa Kỳ.
Ngoài dân số đông thứ ba thế giới với thu nhập bình quân đầu người rất cao (năm
2011 khoảng 47084 USD), điều khiến cho Mỹ trở thành thị trường tiêu thụ khổng lồ là
thói quen tiêu xài và nợ của người dân ở nước này. Người Mỹ sẵn sàng mua chịu và trả
nợ dần từ những thứ đắt tiền đến quần áo, giày dép … Mặc dù sau cuộc khủng hoảng
tài chính cuối 2007, người Mỹ đã giảm bớt tiêu xài và tỷ lệ tiết kiệm cá nhân có tăng
lên nhưng mức độ không đáng kể.
Bảng 1.1: Chi tiêu trung bình của người Mỹ 2007 - 2011($)
2007

2008

2009

2010

2011

Nhà cửa

16920

17109

16895

16557

16803

Phương tiện di

8758

8604

7658

7677

8293

Thực phẩm

6133

6433

6372

6129

6458

Bảo hiểm cá nhân

5336

5605

5471

5373

5424

Sức khỏe

2853

2976

3126

3157

3313

Giải trí

2698

2835

2693

2504

2572

Quần áo

1881

1801

1725

1700

1740

Bia và thuốc lá

780

761

815

774

807

Giáo dục

945

1046

1068

1074

1051

Chăm sóc cá nhân

588

616

596

582

634

chuyển

Nguồn: http://money.cnn.com/interactive/news/economy/us-spending/


5

Trong khi đó, cơ cấu nền kinh tế Mỹ đã và đang có những thay đổi sâu sắc theo
hướng công nghiệp, trong nước chủ yếu chỉ sản xuất những sản phẩm công nghệ siêu
cao và tập trung cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm; phần còn lại bỏ hoặc chuyển
cho nước ngoài làm. Thậm chí những sản phẩm được xem là công nghệ cao như máy
tính xách tay hiện nay họ cũng không còn sản xuất nữa.
Với đặc điểm cơ cấu kinh tế nói trên, để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng hàng năm, Mỹ
phải nhập khẩu một lượng hàng hóa cực lớn. Do ảnh hưởng của khủng hoảng, kim
ngạch nhập khẩu sáu tháng đầu 2009 có giảm nhưng nhờ sáu quý tăng trường liên tực
nên nhập khẩu đã tăng trở lại sau đó. Tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ vào năm
2011 đạt 2263 tỉ USD. Trong đó, những mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn là máy
móc thiết bị điện tử: 283,3 tỉ USD ; quần áo: 43.3 tỉ USD; đồ gỗ nội thất: 43 tỉ USD; …

Xăng dầu
Máy móc

21%

Thiết bị điện tử

30%

Thiết bị giao thông
Thiết bị y tế, kỹ thuật
Dược phẩm
13%
3%

Dệt may
Đồ gỗ, nội thất

2%
2%

Hóa chất

13%
4%

3%
3%

9%

Kim loại

Khác

Biểu đồ 1.2: Tỷ trọng các mặt hàng nhập khẩu của Mỹ
Nguồn: www.worldsrichestcountries.com/top_us_imports.html


6

1.2 Quan hệ thƣơng mại Việt – Mỹ.
1.2.1 Quan hệ Việt – Mỹ trước khi Mỹ hủy bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam.
30/4/1975: Mỹ áp dụng lệnh cấm vận thương mại đối với toàn bộ Việt Nam sau khi áp
dụng lệnh này đối với miền Bắc Việt Nam từ năm 1964. Đây là thời kỳ Mỹ đơn
phương áp đặt lệnh cấm vận đối với Việt Nam thông qua con đường gián tiếp, Việt
Nam có thể xuất khẩu sang Mỹ tuy không đáng kể
Thời kỳ 1986 – 1989, Việt Nam gần như không xuất khẩu sang Mỹ
Tuy nhiên đến năm 1990, Việt Nam xuất sang Mỹ một lượng hàng trị giá 5000
USD. Năm 1991 tăng lên 9000 USD, năm 1992 tăng lên 11000 USD và năm 1993 là
58000 USD.
1.2.2 Quan hệ Việt – Mỹ sau khi Mỹ hủy bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam:
Ngày 3/2/1994: Tổng thống Mỹ Bill Clinton thông báo quyết định bãi bỏ lệnh cấm
vận thương mại đối với Việt Nam. Thượng viện Mỹ trước đó 1 tuần đã thông qua quyết
định trên
Ngày 11/7/1995, Mỹ tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao đối với Việt
Nam.
Năm 1995, Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ 200 triệu USD, gấp 4 lần năm 1994, trong
đó hàng nông sản là 152 triệu USD, chiếm hơn 76% giá trị hàng xuất khẩu sang Mỹ.
Năm 1996, hai nước bắt đầu đàm phán hiệp định song phương, xuất khẩu đạt 306
triệu USD.
Năm 1997, Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ 372 triệu USD, hàng nông sản là 146,5
triệu USD, chiêm 46%.
Năm 1998, năm 1999, năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ lần
lượt đạt 519,5 triệu USD; 601,9 triệu USD; 872,4 triệu USD.
Riêng quý I năm 2001, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Mỹ đạt 74,4 triệu
USD (so với cùng kì năm 2000 là 46,4 triệu USD).


7

1.2.3 Quan hệ thương mại Việt - Mỹ theo hiệp định thương mại Việt – Mỹ.
Ngày 8/10/2001, Thượng viện Hoa kỳ thông qua Hiệp định thương mại song
phương Việt Nam - Hoa Kỳ.
Ngày 18/10/2001, Tổng Thống Bush ký nghị quyết thông qua Hiệp định thương
mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ.
Ngày 24/11/2001, Quốc hội Việt Nam thông qua Hiệp định thương mại song
phương Việt Nam - Hoa Kỳ.
Ngày 10/12/2001, Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu
lực sau khi Bộ Trưởng Thương Mại Vũ Khoan và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Zoelik
trao đổi thư chấp thuận. Theo luật của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ không thể trao quy chế Quan
hệ Thương mại bình thường với những nước đang trong thời kỳ chuyển tiếp như Việt
Nam mà không có Hiệp định Thương mại Song phương (gọi tắt là BTA). Mục đích của
Hiệp định này là đảm bảo cho những luật lệ thương mại được rõ ràng, kích thích và
làm gia tăng thương mại, giúp Việt Nam hội nhập kinh tế, kể cả việc gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO). Hiệp định thỏa thuận về những điều khoản thương mại
hàng hóa, quyền sỡ hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ, phát triển quan hệ đầu tư, tạo
thuận lợi cho kinh doanh, các quy định liên quan tới tính minh bạch, công khai và
quyền khiếu kiện, những điều khoản chung.
 Nhận xét:
Năm 2010 là năm ghi dấu 10 năm tăng trưởng liên tục trong hoạt động xuất khẩu
(XK) của Việt Nam vào thị trường Mỹ kể từ sau khi hai nước ký kết Hiệp định Thương
mại tự do (BTA). Thực tế cho thấy, sau BTA, Mỹ trở thành thị trường XK lớn nhất,
tiềm năng nhất và cũng nhiều thách thức nhất cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của
Việt Nam. Năm 2010, tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Mỹ đạt
gần 18,5 tỷ USD, tăng gần 19,5% so với cùng kì năm 2009. Trong đó, XK của Việt
Nam đạt gần 14,8 tỷ USD, tăng 19,5%; nhập khẩu đạt 3,710 tỷ USD, tăng 19,4%.


8

Thặng dư thương mại đạt 11,158 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kì năm ngoài. Năm
2011, Việt Nam là quốc gia đứng vị trí thứ 35 trong số các nước XK vào Mỹ.

Biểu đồ 1.3: Kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Mỹ 1994- 2012 (triệu USD)
Nguồn: Tổng cục thống kê


9

CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA MỸ ĐỐI VỚI
HÀNG NÔNG SẢN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG TỚI XUẤT KHẨU HÀNG
NÔNG SẢN SANG MỸ
Trong giai đoạn hiện nay, khi xu thế tự do hóa thương mại ngày càng phát triển
mạnh mẽ, Mỹ là thị trường nhập khẩu nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam song
dường như Mỹ đã và đang cố tình tìm cách gây khó khăn của Việt Nam. Đặc biệt, từ
cuối năm 2011 trở lại đây, nhóm mặt hàng nông sản khi vào thị trường này gặp ngày
càng nhiều trắc trở, khó khăn.
2.1 Những rào cản kỹ thuật chung đối với mặt hàng nông sản tại thị trƣờng Mỹ.
Mỹ đã sử dụng một loạt các biện pháp có tính chất rào cản thương mại nhằm hạn
chế sản phẩm nông sản từ thị trường nước ta khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Những
rào cản kĩ thuật này chính là quy chế nhập khẩu chung và các biện pháp bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng của Mỹ, mặt khác Mỹ đã và đang cố tình tìm cách gây khó khăn
cho hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam.
2.1.1 Tiêu chuẩn về kỹ thuật, chất lượng:
Các qui định hiện hành về thông tin dinh dưỡng trên nhãn hàng thực phẩm, bao
gồm các mặt hàng nông sản tiêu thụ tại Hoa Kỳ như sau:
(1) Liều lượng dùng và số lần dùng của mỗi hộp;
(2) Tổng lượng calo và lượng calo từ chất béo mỗi lần dùng;
(3) Tổng lượng chất béo và lượng chất béo no (saturated) tính theo gram; tổng
lượng choresrol và sodium (miligram), tổng lượng Carbohydrate, dietary fiber, đường
và protein tính bằng gam mỗi lần dùng;
(4) Phần trăm của tất cả các thành phần liệt kê tính theo tỷ lệ cần cho cơ thể trong
một ngày trên cơ sở lượng calo cần thiết hàng ngày là 2.000 calo;


10

(5) Tỷ lệ % trong mức khuyến cáo tiêu thụ hàng ngày (recommended daily
allowances - RDA) của Hoa Kỳ của một số loại vitamin và chất khoáng của 1 lần dùng.
(6) Ghi các trị giá cần hàng ngày, các trị giá kiến nghị tính bằng gram hoặc
miligram - tuỳ theo từng thành phần - đối với chất béo, chất béo no, cholesterol,
sodium, carbohydrate, dietary fiber, cùng với lượng calo trên gram đối với chất béo,
carbohydrate, và protein.
(7) Các chất dinh dưỡng khác được coi là thành phần cơ bản trong thức ăn của
người có thể được liệt kê nếu những chất này chiếm ít nhất 2% RDA của Hoa Kỳ.
2.1.2 Tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn dịch tễ:
Mỹ đòi hỏi các doanh nghiệp chế biến hàng thực phẩm xuất khẩu sang thị trường
Mỹ phải tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm chặt chẽ theo Luật Hiện đại
hóa An toàn thực phẩm (FSMA) mới được chính phủ nước này ban hành.
Cụ thể, theo đạo luật này, từ năm 2012, Mỹ sẽ thực hiện quy trình kiểm tra hết sức
ngặt nghèo đối với các sản phẩm nông sản. Toàn bộ quy trình kiểm tra này sẽ được
chuyển từ cục Quản lý dược phẩm và thực phẩm (FDA) về Bộ Nông nghiệp Mỹ. Tại
hội thảo, ông David Lennarz – nguyên chuyên gia kĩ thuật của FDA, phó chủ tịch Công
ty Registrar Corp Hoa Kì đã giới thiệu về các quy định của Hoa Kì liên quan đến việc
xuất khẩu nông sản sang thị trường Mỹ, quy định về an toàn thực phẩm bảo vệ người
tiêu dùng của FDA, quy định về hiện đại hóa an toàn thực phẩm của FDA, những thay
đổi chủ yếu so với các quy định trước đây và ảnh hưởng của luật tới các việc sản xuất
xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Các quy định này đề ra các mức độ nhiễm tối đa cho phép của
các thành phẩm trong vật liệu nhựa,chất bảo quản vào thực phẩm nhằm bảo vệ sức
khỏe và an toàn của con người.


11

2.1.3 Quy định về nhãn mác, đóng gói và bao bì :
Tất cả các loại bao gói, nhãn mác, bao bì đều phải được dán nhãn thích hợp, đáp
ứng các yêu cầu của Quy định với hàng nông sản. Tất cả các thông tin trên về nhãn
mác, bao bì hàng nông sản phải chính xác và không sai lệch hoặc dễ gây nhầm lẫn và
không được ghi sai về chất lượng, số lượng, thành phần cấu tạo, bản chất, tính an toàn,
giá trị, xuất xứ hoặc các nội dung khác.
Các thông tin ghi trên bao bì,nhãn mác phải bao gồm : tên thông thường của sản
phẩm, số lượng hàng hóa, nhận dạng nơi kinh doanh chính của người hoặc cho người
sản xuất ra sản phẩm hoặc đóng gói sản phẩm để bán lại, tên nước xuất xứ của sản
phẩm, hoặc từ ngữ khác biểu thị một cách rõ ràng về nước mà ở đó sản phẩm được
gieo trồng ( đối với sản phẩm nhập khẩu,..)
Quy định đối với một số mặt hàng nông sản như thực phẩm, nhiên liệu, nguyên vật
liệu, dược phẩm không được chứa thành phẩm bổ sung.
FDA còn đưa ra yêu cầu phải ghi rõ thành phần, giá trị dinh dưỡng.
Chất liệu bao bì đóng gói giới hạn trong một số chất cho phép, có thể tái sinh và tái
sử dụng. Nếu doanh nghiệp xuất khẩu không đáp ứng được thì doanh nghiệp nhập khẩu
phải đóng gói lại, hao phí đóng gói lại khiến doanh nghiệp nhập khẩu không muốn mua
hàng từ người xuất khẩu cũ nữa.
Bao bì nhựa phải đảm bảo không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, việc tiếp xúc
giữa sản phẩm và chất nhựa của bao bì không gây ra bất cứ phản ứng và nguy hại nào.
Quy định về nhãn xuất xứ:
Theo qui định của Luật an ninh nông nghiệp và phát triển nông thôn (gọi tắt là Luật
nông nghiệp 2002) được Tổng thống George W. Bush ký ban hành ngày 13/5/2002,
một số nông sản: rau quả, thịt (bò, cừu, bê, lợn), và thủy sản bán tại các của hàng bán
lẻ bắt buộc phải có nhãn xuất xứ. Đối với thủy sản, nhãn xuất xứ còn phải ghi rõ sản


12

phẩm được đánh bắt tự nhiên hay nuôi trồng. Cũng theo qui định của luật này, các cơ
sở bán lẻ còn phải lưu giữ hồ sơ xác nhận xuất xứ hàng hóa.
2.1.4 Quy định kĩ thuật về môi trường:
Cấm đưa ra thị trường những sản phẩm nông sản gây ảnh hưởng tới môi trường
nước nhập khẩu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới động, thực vật, tới môi trường sinh
thái tại nước nhập khẩu. Đặc biệt là các sản phẩm đóng gói, bao bì khi phân hủy.
Các sản phẩm nông sản khi xuất khẩu sang thị trưởng Mỹ cần phải tìm hiểu về giấy
chứng nhận toàn cầu về Thực hành nông nghiệp tốt GAP, bởi gần đây, việc cần có giấy
chứng nhần này cho các sản phẩm nông sản, đặc biệt là nông nghiệp đang được áp
dụng rộng rãi, và dần dần được đưa vào phổ biến cho doanh nghiệp xuất khẩu hàng
nông sản.
Quy trình kiểm tra sản phẩm tuân theo hệ thống rào cản kỹ thuật trên là hết sức gắt
gao và đòi hỏi các doanh nghiệp nước ta phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu. Các doanh
nghiệp Việt Nam chủ yếu còn đối mặt với các rào cản liên quan đến toàn bộ quá trình
sản xuất chủ yếu là các tiêu chuẩn về môi trường và trách nhiệm xã hội.
Tuy nhiên, từ năm 2009 trở lại đây, Mỹ đã lợi dụng những đạo luật thương mại để
đưa ra các “chiêu” nhằm tạo lực cản cho các mặt hàng nông sản của nước ta khi xuất
khẩu sang thị trường Mỹ. Vì vậy, trước khi xuất khẩu các sản phẩm, hàng hóa nông sản
sang thị trường Mỹ, các doanh nghiệp nước ta cần tìm hiểu kỹ thị trường mình hướng
đến, tìm hiểu kĩ các rào cản kĩ thuật đối với các mặt hàng nông sản khi xuất khẩu sang
thị trường Mỹ. Và điều quan trọng nữa là các doanh nghiệp cần cải tiến công nghệ,
nâng cao năng lực sản xuất khi sản xuất sản phẩm để có thể tạo ra sản phẩm, hàng hóa
đạt chất lượng cao, tiêu chuẩn tốt.


13

2.2 Tác động của rào cản kỹ thuật tới nƣớc xuất khẩu:
Hàng rào kỹ thuật trong thương mại thực chất là những biện pháp kỹ thuật cần thiết
để bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ người tiêu dùng và là công cụ trực tiếp bảo hộ sản
xuất trong nước. Đây cũng là rào cản hợp lý hạn chế nhập khẩu những hàng hóa không
đạt tiêu chuẩn ảnh hưởng xấu tới môi trường, sức khỏe con người, động thực vật
2.2.1 Tác động tích cực
- Khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa
xuất khẩu trong thương mại quốc tế.
Để thâm nhập vào được một thị trường thì hàng hóa từ bên ngoài phải đáp ứng
được đầy đủ các yêu cầu của thị trường nước nhập khẩu. Mặc dù tuân thủ các yêu cầu
này không phải là bắt buộc nhưng ai không tuân thủ thì thị trường tẩy chay. Nên rào
cản kỹ thuật là động lực giúp các nhà xuất khẩu tìm mọi cách để vượt qua, đáp ứng
những yêu cầu dù khắt khe tới đâu. Do đó, họ phải chủ động cải tiến, trang bị máy móc
thiết bị hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời áp dụng các hệ thống quản
lý chất lượng quốc tế vào sản xuất, quy trình chế biến của doanh nghiệp, bồi dưỡng
năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ. Kết quả là năng lực cạnh tranh của các sản
phẩm, của doanh nghiệp tại nước xuất khẩu ngày càng được nâng cao và khẳng định
trên thị trường thế giới.
- Bảo vệ môi trường sống
Khi đáp ứng các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường của nước nhập khẩu thì hoạt động
sản xuất đó mặc nhiên cũng tuân thủ quy định bảo vệ môi trường. Do đó sẽ hạn chế
tình trạng ô nhiễm môi trường, khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên của nước xuất
khẩu. Có thể nói, rào cản kỹ thuật đã có những đóng góp đáng kể vào công tác bảo vệ
môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái và góp phần phát triển bền vững.
- Các bên đối tác dễ dàng hiểu nhau khi đàm phán về một mặt hàng


14

Nhờ những yêu cầu kỹ thuật đã được công bố rộng rãi bằng văn bản và các phương
tiện thông tin chung nên nhà xuất khẩu dễ dàng tiếp cận và thực thi. Khi có vướng mắc
phát sinh về hàng hóa cả hai bên chỉ cần đối chiếu với các quy định, văn bản có sẵn về
chuẩn hàng hóa. Đàm phán dễ dàng và nhanh chóng hơn.
2.2.2 Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, rào cản kỹ thuật cũng tạo cho nhà xuất
khẩu không ít những khó khăn. Với tư cách là công cụ bảo hộ trực tiếp được thừa nhận,
rào cản kỹ thuật gây sự cản trở hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, quan hệ thương
mại giữa các bên. Để phù hợp với các tiêu chuẩn này vừa khó khăn vừa tốn kém. Ngoài
các tiêu chuẩn quy định do các tổ chức quốc tế đưa ra, các rào cản này còn do các nước
tự đặt. Có khi các tiêu chuẩn này cùng được đặt ra nhưng lại không thống nhất gây sự
không đồng bộ trong các rào cản thậm chí sự không đồng bộ giữa các vùng các miền
trong cùng một quốc gia. Sự phức tạp cản trở thương mại giữa hai bên nếu bên xuất
khẩu không hiểu rõ luật.
Ngoài ra do sự chênh lệch về trình độ giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, các
nước nhập khẩu có nền kinh tế phát triển thường đưa ra các yêu cầu quá cao so với
trình độ đáp ứng của nước xuất khẩu là các nước đang phát triển. Các rào cản này thực
sự đã trở thành những thách thức lớn đối với các nước có trình độ thấp hơn. Sự hạn chế
về năng lực, kinh nghiệm cũng như trình độ khoa học công nghệ… của các nước xuất
khẩu sẽ khiến họ khó có thể vượt qua các rào cản này.
2.3 Ảnh hƣởng của các rào cản kỹ thuật của Mỹ tới nông sản xuất khẩu Việt Nam
hiện nay.
2.3.1 Cơ hội:
Việc đối mặt với những rào cản kỹ thuật tạo cho các doanh nghiệp nông sản xuất
khẩu có động lực phát triển mạnh mẽ với chúng ta. Muốn xuất khẩu được hàng hóa vào


15

thị trường Mỹ hàng hóa phải đạt được nhứng tiêu chuẩn nhất định. Hàng hóa không
đáp ứng được theo những chuẩn mực đó thì sẽ bị tẩy chay không xuất khẩu được vào
Mỹ. Để hàng hóa có thể vào được thị trường Mỹ không còn cách nào khác là đáp ứng
đầy đủ mọi yêu cầu kỹ thuật của họ. Để tồn tại thì các doanh nghiệp phải tự cải tiến
doanh nghiệp mình phù hợp với các tiêu chuẩn Mỹ đặt ra.
Việt Nam là một trong 15 quốc gia xuất khẩu nông sản nhiều nhất vào thị trường
Mỹ. Các nông sản Việt Nam như hạt điều, cà phê, hồ tiêu, cao su, đồ gỗ chế biến và
nhiều mặt hàng trái cây khác được chấp thuận vào thị trường Mỹ sau khi Việt Nam
đảm bảo các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm.
Có thể nói, cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm rau, quả tươi của Việt Nam
sang thị trường Mỹ là rất lớn. Các doanh nghiệp xuất khẩu rau hoa quả Việt Nam đang
có kế hoạch nhanh chóng vượt qua những điều kiện khắt khe về vệ sinh thực phẩm của
thị trường này.
2.3.2 Thách thức
Bên cạnh những tích cực kể trên rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với nông sản xuất
khẩu còn mang lại cho Việt Nam những khó khăn vô cùng to lớn trong lĩnh vực xuất
khẩu nông sản vào thị trường này. Những quy định, những tiêu chuẩn kỹ thuật Mỹ đặt
ra thực chất là những rào cản thương mại mà quốc gia này đặt ra nhằm bảo vệ ngành
nông sản trong nước trước sự xâm lấn của hàng hóa các nước đang phát triển trong đó
có Việt Nam. Những tiêu chuấn đặt càng nhiều, yêu cầu càng khắt khe, hệ thống quản
lý giám sát ngày càng chặt chẽ trong từng khâu.
Đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng là yếu tố quyết định đến sự thành công của nông sản
trong việc thâm nhập vào thị trường các nước phát triển. Đây là vấn đề khó khăn, nan
giải, đầy thử thách và rủi ro cho các nước đang phát triển.


16

Với Việt Nam - nước đi sau Trung Quốc về thâm nhập thị trường nông sản thế giới,
nên việc tổ chức sản xuất, giám sát chất lượng sản phẩm xuất khẩu...v.v. dường như
còn thua kém nước láng giềng này, chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức hơn
để có thể vượt qua những rào cản kỹ thuật, thậm chí cả rào cản xã hội của nước nhập
khẩu.


17

CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA RÀO CẢN KỸ
THUẬT TẠI THỊ TRƢỜNG MỸ TỚI VIỆC XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA
VIỆT NAM
3.1 Tình hình xuất khẩu hàng nông sản sang thị trƣờng Mỹ của các doanh nghiệp
Việt Nam
Kim ngạch xuất khẩu của VN vào Mỹ liên tục tăng nhanh trong những năm qua,
đặc biệt từ sau Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ vào cuối năm 2001. Nếu như trước năm
2001, kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ chưa đến 1 tỷ USD thì đến năm 2011 con số này đã
lên đến 17 tỷ USD. Trong cùng xu thế đó, xuất khẩu nông sản cũng gặp nhiều thuận lợi
và tăng nhanh.
Một số mặt hàng nông sản của Việt Nam như tiêu, cà phê… có nhiều thuận lợi khi
xuất khẩu vào các thị trường như Mỹ. Sở dĩ như vậy vì đây không phải là các mặt hàng
truyền thống của họ, không bị gây khó khăn bởi nhà sản xuất nước sở tại. Về cạnh
tranh, các mặt hàng nông sản của Việt Nam có nhiều lợi thế do giá rẻ hơn so với các
nước xuất khẩu khác cùng đi vào thị trường này. Vì vậy nhiều năm qua Mỹ là một
trong những thị trƣờng XK chủ lực các mặt hàng nông sản của nƣớc ta. Đối với
các mặt hàng nông sản, xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ gần như là luôn luôn
xuất siêu.
Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng xuất khẩu, mặt hàng nông sản Việt Nam cũng phải
đối mặt với nhiều khó khăn từ phía thị trường này đặt ra như các hàng rào phi thuế
quan, đặc biệt là các rào cản kỹ thuật đang ngày một nhiều và phức tạp.
Dưới đây là những thông tin cụ thể về thực trạng tình hình xuất khẩu các mặt hàng
nông sản chính của Việt Nam sang thị trường Mỹ.
3.1.1 Tình hình xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính


18

Việt Nam được đánh giá là một trong số 15 quốc gia xuất khẩu nông sản nhiều nhất
vào thị trường Mỹ. Không ít mặt hàng nông sản Việt Nam như hạt điều, cà phê, hồ
tiêu, cao su,… và nhiều mặt hàng trái cây khác được chấp thuận vào thị trường Hoa Kỳ
sau khi Việt Nam đảm bảo các yêu cầu về mặt an toàn vệ sinh thực phẩm. Bảng sau thể
hiện tình hình xuất khẩu của các mặt hàng đó trong những năm gần đây:
Bảng 3.1: Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng nông sản của Việt Nam sang
thị trường Mỹ giai đoạn 2009-2011
2009

Mặt hàng

2010

2011

Lƣợng

Trị giá

Lƣợng

Trị giá

Lƣợng

Trị giá

(tấn)

(USD)

(tấn)

(USD )

(tấn)

(USD)

Hàng rau
quả

21.677.217

25.842.886

255.224.122 61.771

372.368.401

28.865.842

Hạt điều

53.195

Cà phê

128.050 196.674.152 153.035 250.132.128

138.598 341.092.531

Chè

5.353

5.730.482

4.577

4.916.907

4.506

4.937.160

Hạt tiêu

14.848

43.615.122

16.027

57.626.846

23.066

144.842.506

14.559

8.517.977

17.409

11.331.997

23.470

63.326.266

24.534

89.551.601

Gạo

_

Cao su
Tổng kim

18.742

28.520.644
545.711.257

ngạch XK

Nguồn: Tổng cục Hải quan

782.731.411

47.549

397.659.392

873.438.523


19

180000

TẤN

160000
140000
120000
100000
80000
60000

40000
20000
0

Hạt điều

Cà phê

Chè

Hạt tiêu

2009

53195

128050

5353

14848

2010

61771

153035

4577

16027

14559

23470

2011

47549

138598

4506

23066

17409

24534

Gạo

Cao su
18742

Biểu đồ 3.1: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản của Việt
Nam sang Mỹ giai đoạn 2009-2010

Hàng rau quả:
Tính đến thời điểm này, đã có 36 loại rau của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường
Hoa Kỳ với tổng kim ngạch đạt 2,1 triệu USD năm 2009 và tăng lên 2,8 triệu USD
năm 2011. Trong số 36 loại này, nấm rơm muối, nấm rơm đóng lon đạt kim ngạch cao
nhất.
Đứng thứ hai là mặt hàng ngô non đóng lon, ngô luộc. Ngoài rau, các loại khoai
lang, hành củ, tỏi, gừng, nghệ... cũng được người Mỹ ưa dùng.
Thay đổi rõ nét nhất là Hoa Kỳ đã tăng nhập khẩu cho các sản phẩm rau, quả tươi
và giảm dần các sản phẩm rau, quả đóng hộp.


20

Tuy nhiên, thời gian tới, nông sản Việt Nam cần phải vượt qua rào cản cao hơn khi
Hoa Kỳ thực hiện kiểm tra chất lượng các mặt hàng nông sản nhập khẩu theo quy định
của nước này. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ thực hiện quy trình kiểm tra ngặt nghèo đối với các
sản phẩm hàng hóa của các nước khi xuất khẩu vào thị trường nước này. Bộ Nông
nghiệp Hoa Kỳ có quyền ra lệnh kiểm tra hoặc thu hồi sản phẩm xuất khẩu vào Hoa Kỳ
nếu không đảm bảo chất lượng và tính phí cho chủ hàng xuất khẩu sản phẩm đó.
Cà phê hạt
Thị trường Mỹ vẫn là một trong số những thị trường tiêu thụ cà phê lớn của nước
ta. Trong năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam là 1,2 triệu tấn thì
xuất khẩu sang Mỹ là nhiều nhất chiếm 11,55% ( hơn 138 nghìn tấn).
Việt Nam hiện đứng thứ bảy về giá trị xuất khẩu và thứ năm về số lượng trong số
các nước xuất khẩu cà phê sang Mỹ. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam
sang Mỹ là 341 triệu USD trong năm 2011. Thị trường Mỹ chủ yếu tiêu thụ cà phê
arabica (70%).
Cùng với xu hướng tăng giá chung của các mặt hàng nông sản, mặc dù khối lượng
cà phê xuất khẩu hầu như không tăng nhưng giá trị xuất khẩu vẫn đạt được sự tăng
trưởng kỷ lục. Khối lượng xuất khẩu năm 2011 chỉ đạt 138 nghìn tấn và giá trị là 341
triệu USD, ít hơn về lượng nhưng tăng tới 36,4% về giá trị so với năm ngoái.
Hạt điều
Mỹ vẫn giữ vị trí đầu bảng về tiêu thụ điều của Việt Nam, chiếm gần 1/3 lượng điều
xuất khẩu.
Lượng điều xuất khẩu cả năm 2011 ước đạt 178 ngàn tấn, kim ngạch 1,5 tỷ USD,
trong đó xuất sang Mỹ 47,5 nghìn tấn, đạt giá trị gần 400 triệu USD.
3.1.2 Thực trạng những ảnh hưởng của các rào cản kỹ thuật đến xuất khẩu
nông sản sang Mỹ của các doanh nghiệp Việt Nam


21

Mặc dù Mỹ là một thị trường tiềm năng cho việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản,
nhu cầu tiêu thụ nông sản ở Mỹ rất lớn, trong đó phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Mỹ
phải nhập khẩu 50% các mặt hàng hoa quả tươi, 80% hàng thủy sản. Các mặt hàng trái
cây nhiệt đới như thanh long, bơ, xoài, ổi, chôm chôm… rất được ưa chuộng. Nhưng
có thể thấy hàng nông sản Việt Nam vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn khi tiếp cận thị
trường, chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường. Một số mặt hàng, kim ngạch nhập
khẩu từ Việt Nam vẫn còn chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu của
Mỹ.
Bảng 3.2: Kim ngạch nhập khẩu một số sản phẩm nông sản của Mỹ với các
quốc gia trong 2 năm 2009 và 2010
Đơn vị: triệu USD
Năm
Mặt hàng
Nhập khẩu từ
Việt Nam
Nhập khẩu từ
các nƣớc khác

2009
Hàng Gạo



rau

phê

21,7

_

2406

634,2

196,7

2010
Chè

Hàng

Gạo

rau
5,7

4011,2 457,4

25,8



Chè

phê
8,5

2532,4 620,1

250,1

4,9

4850,2 541,9

Tỷ lệ NK từ
Việt Nam của
Mỹ so với tổng

0,9%

4,7%

1,23% 1%

trị giá NK mặt
hàng này
Nguồn: Dựa trên số liệu thống kê của UN Comtrade

1,35% 4,9%

0,9%


22

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tỷ trọng hàng nhập khẩu từ Việt Nam không lớn
nhưng phần lớn là do các rào cản kỹ thuật tại Mỹ ngày càng khắt khe hơn các quốc gia
khác.Đặc biệt, từ cuối năm 2011 trở lại đây, nhóm mặt hàng nông sản khi vào thị
trƣờng này gặp ngày càng nhiều trắc trở. Theo đánh giá của giới chuyên gia, trong
thời gian tới, hàng hóa nông sản Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ sẽ gặp nhiều khó khăn
hơn khi Mỹ sẽ thực hiện kiểm tra chất lượng các mặt hàng nông sản nhập khẩu vào Mỹ
theo Luật Hiện đại hóa An toàn thực phẩm (FSMA) mới được Chính phủ nước này ban
hành.
“Ngay tháng 11 – 2011 vừa qua, quả thanh long – một mặt hàng nông sản có lượng
xuất khẩu khá lớn của Việt Nam – bỗng dưng bị Mỹ cấm thông quan vì cho là có dư
lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá mức cho phép. Một số doanh nghiệp xuất khẩu
tại Việt Nam gặp phải trường hợp cơ quan nhập khẩu của Mỹ đã nâng tần suất kiểm
tra, lấy mẫu thanh long Việt Nam lên 100%. Do vậy, công ty đã phải tạm dừng xuất
khẩu vì lo lắng cho số phận những lô hàng của mình. Các container hàng thanh long
đều bị cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) giữ lại để kiểm tra dư
lượng thuốc bảo vệ thực vật. Chưa kể đến việc đi kèm với đó là thời gian lô hàng bị giữ
lại ở cửa khẩu để kiểm tra trước khi thông quan, nguy cơ hoa quả sẽ mất đi độ tươi và
dẫn đến hỏng, bởi trái cây sau khi đến Mỹ trong vòng 7 ngày phải bán hết, nếu không
sẽ chỉ còn đường bỏ đi vì không còn đảm bảo chất lượng nữa. Điều đáng nói ở đây
chính là các cơ quan chức năng Mỹ mặc dù đã cấp phép cho thanh long của Việt Nam
vào Mỹ, nhưng đến nay vẫn chưa công bố về chỉ tiêu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
(Maximum Residue Limits - MRL) cho phép.
Một khó khăn khác với mặt hàng quả này để xâm nhập vào thị trường của Mĩ là
quá trình chiếu xạ thanh long. Đã phải mất đến 4 năm để đáp ứng các quy trình sản
xuất, chiếu xạ của phía Mỹ, đến năm 2008 Việt Nam mới xuất được lô hàng thanh long
đầu tiên vào Mỹ.


23

Cũng trong năm 2011 (cụ thể là từ tháng 7 đến tháng 11) khoảng 600 tấn mật ong
của Việt Nam đã bị Cơ quan dược phẩm Mỹ trả lại. Lý do mà nước này đưa ra là bởi,
mật ong của ta nhiễm một loại thuốc trừ nấm có tên là Carbenzamin. Theo đánh giá
của giới chuyên gia, mặc dù dư lượng chất này ở mật ong xuất khẩu của ta thấp hơn rất
nhiều so với quy định của CODEX và Liên minh châu Âu (EU) song Mỹ vẫn cố tình
khiến các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn. Kết cục là, sau sự việc 600 tấn mật
ong của Việt Nam bị Mỹ trả lại, đến nay sản phẩm mật ong hầu như khó có thể xuất
khẩu được. Song, điều quan trọng là, động thái này của Mỹ đã khiến 35.000 người nuôi
ong của Việt Nam rơi vào tình thế “dở khóc dở cười”. Bởi từ khi trở thành mặt hàng
xuất khẩu có thế mạnh, nhiều người dân Việt Nam đã chuyển hẳn sang làm nghề nuôi
ong lấy mật. Do đó, có thể trông thấy ngay sự ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhiều
người nông dân Việt Nam.”
3.2 Các chính sách vƣợt rào kỹ thuật, thúc đẩy xuất khẩu nông sản sang thị
trƣờng Mỹ của Việt Nam hiện nay
Trước những khó khăn phải đối mặt trong việc xuất khẩu nông sản vào thị trường
Mỹ, Chính phủ Việt Nam đã và đang sử dụng những biện pháp nhất định để hỗ trợ các
doanh nghiệp tiến vào thị trường màu mỡ và đầy tiềm năng này.
3.2.1 Các chính sách tài chính- tín dụng hỗ trợ, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
hàng nông sản:
Thực hiện định hướng đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng nông sản vốn
là thế mạnh của chúng ta, theo nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/06/2000 về một
số chủ trương về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, Chính
phủ đã có một số điều chỉnh mà trong đó có miễn thu thuế buôn chuyển về hàng hóa
nông nghiệp, định hướng xem xét miễn giảm thuế khi gặp rủi ro về thị trường và giá
cả, tăng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phát triển nông nghiệp. Bên cạnh đó, Nhà
nước thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại gắn với xuất khẩu nông sản, mở rộng cam


24

kết song phương và đa phương. Sau đó, năm 2001, Nghị quết số 05/2001/NQ-CP ngày
24/05/2001 của Chính phủ và Quyết định số 908/QĐ-TTG ngày 20/07/2001 của Thủ
tướng Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ nông sản và nâng
cao thu nhập cho nông dân mà nổi bật là miễn giảm thuế nông nghiệp, đầu tư cho công
tác giống giãn nợ và khoanh nợ cho các hộ nghèo, thực hiện thưởng theo kim ngạnh
cho một số nông sản xuất khẩu chủ lực. Chính phủ cũng đưa ra các ưu đãi về tín dụng
cho doanh nghiệp xuất khẩu sang Mỹ, thành lập các quỹ bảo hiểm nhằm tránh tác động
tiêu cực khi gặp rủi ro về thị trường và giá cả. Tuy vậy số lượng doanh nghiệp nhận hỗ
trợ tài chính còn rất hạn chế do những điều kiện còn khá ngặt nghèo.
3.2.2 Giải pháp về vấn đề thâm nhập thị trường và công tác tiếp thị quảng bá hình
ảnh:
Một trong những cột mốc quan trọng đánh dấu việc thâm nhập thị trường Mỹ của
Chính phủ Việt Nam là Hiệp định song phương thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có
hiệu lực từ ngày 10/12/2001 với những tính chất chủ yếu dựa trên khuôn khổ
WTO.Hoa Kỳ có nghĩa vụ áp dụng quy chế tối huệ quốc (MFN) đối với Việt Nam, quy
chế về đối xử quốc gia (NT). Kể từ khi hiệp định có hiệu lực, mức thuế áp dụng vào
hàng hóa Việt Nam giảm từ 40% xuống còn 14% với khoảng 250 sản phẩm mà trong
đó chiếm 4/5 là nông sản. Đó chính là cơ hội phát triển có một không hai nhằm thúc
đẩy xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Hơn nữa đây còn là bước đệm quan trọng để Việt
Nam chính thức gia nhập WTO vào năm 2007. Tham gia WTO giúp nước ta có nhiều
lợi ích vượt qua các rào cản kỹ thuật đối với hàng nông sản trên thị trường Mỹ bởi vì:
thứ nhất, cả Việt Nam và Mỹ đều phải thực hiện Hiệp định TBT theo những nguyên
tắc chung của WTO, điều này giúp hạn chế các tiêu chuẩn kỹ thuật vô lý, mang tính
phân biệt đối xử và bảo hộ cao; thứ hai, khi là thành viên của WTO Việt Nam được
hưởng chế độ giải quyết kiện cáo, tranh chấp bình đẳng hơn với Mỹ và các nước thành
viên khác.


25

Bên cạnh đó, việc xây dựng trung tâm xúc tiến thương mại ở Mỹ đã nỗ lực thúc
đẩy thương mại 2 chiều Việt – Mỹ. Trong năm 2011, trung tâm đã phối hợp thực hiện
các hoạt động quảng bá, đẩy mạnh tuyên truyền, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm nông
nghiệp. Nhằm đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại năm 2012, trung tâm xúc
tiến Thương mại Nông nghiệp đã xây dựng kế hoạch tổ chức và tham gia nhiều hội chợ
triển lãm trong và ngoài nước như:
- Hội chợ Nông nghiệp kết hợp Diễn đàn xúc tiến đầu tư nông nghiệp công nghệ cao
khu vực Đồng bằng sông Hồng (tháng 6 ở Hải Dương).
- Hội chợ nông nghiệp Quốc tế khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (tháng 7 ở Cà
Mau)
- Hội chợ Giống, Vật tư Nông nghiệp và Thương mại Khu vực phía Bắc 2012 (tháng
8 ở Bắc Giang)
- Hội chợ hàng Nông sản và thủ công mỹ nghệ khu vực phía Bắc 2012 (tháng 9 ở Hà
Nội
- Hội chợ Thực phẩm và đồ uống Foodex Japan (tháng 3 ở Tokyo, Nhật Bản).
- Hội chợ Nông nghiệp Quốc tế lần thứ 9 tại Liêu Ninh, Trung Quốc (tháng 9 ở Liêu
Ninh, Trung Quốc).
- Hội chợ Thực phẩm và Đồ uống SIAL Paris 2012 (tháng 10 ở Paris, Pháp)
- Chương trình Quảng bá Nông lâm thủy sản Việt Nam tại thị trường Campuchia
(tháng 12 tại Phnom Penh, Campuchia).
Chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp khi tham gia các chương trình:
- Đối với chương trình Hội chợ Triển lãm được tổ chức trong nước các doanh nghiệp
tham gia sẽ được hỗ trợ 50% chi phí thuê gian hàng.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×