Tải bản đầy đủ

Chính sách thúc đẩy xuất khẩu của trung quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
-------  -------

BỔ SUNG ĐỀ TÀI
« Chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc
và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
***

Thực hiện

: Nhóm 2 (Nhóm trưởng: Nguyễn Phương Ngân)

Lớp

: Chính sách 8

Hà Nội, 12/2012


MỤC LỤC
Trang



LỜI NÓI ĐẦU
Đề tài “ Chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam” đã được tìm hiểu, nghiên cứu bởi nhóm số 2. Trong quá trình
thực hiện và trình bày, cũng như nhờ sự đóng góp ý kiến của cô giáo bộ môn Chính
sách thương mại quốc tế cùng các thành viên trong lớp, nhóm đã nhìn nhận được một
số thiếu sót và nhiều điểm chưa rõ ràng.
Qua tổ chức xem xét, tìm hiểu nhóm xin mạnh dạn tiếp tục bổ sung để hoàn
thiện hơn bài nghiên cứu của mình. Để có cái nhìn thiết thực nhóm đã tìm hiểu về thực
trạng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay, những chính sách thúc đẩy xuất khẩu mà Việt
Nam đã áp dụng, từ đó có những so sánh, rút kinh nghiệm từ bài học của đất nước
Trung Quốc.
Phần bổ sung nội dung của nhóm gồm có 3 nội dung chính như sau :
Chương 1 : Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay
Chương 2 : Các chính sách thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam đã áp dụng
Chương 3 : Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc
Do giới hạn về nguồn lực cũng như sự hiểu biết về kiến thức, nhóm 2 vẫn luôn
hy vọng nhận được những ý kiến đóng góp nhiều hơn nữa từ phía cô giáo và các bạn
để bài nghiên cứu trở nên hoàn thiện hơn.
Nhóm xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo và các bạn đã dành sự quan tâm
theo dõi cho đề tài mà nhóm đã thực hiện.


CHƯƠNG 1 : THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
HIỆN NAY
1.Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy tổng kim ngạch xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 9 năm 2012 (từ 16/9 đến
30/9) đạt 9,62 tỷ USD, tăng 6,5% so với kết quả thực hiện trong nửa đầu tháng 9/2012.
Như vậy, tính đến hết tháng 9/2012, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đạt
166,96 tỷ USD, tăng 12% so với kết quả thực hiện của cùng kỳ năm 2011, trong đó:
xuất khẩu đạt gần 83,55 tỷ USD, tăng 18,6% và nhập khẩu đạt 83,41 tỷ USD, tăng
6,1%.
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại theo kỳ từ kỳ 1 tháng 1/2012
đến kỳ 2 tháng 9/2012

(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)

Cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 9 thặng dư 276

triệu USD. Như vậy, tính chung trong 9 tháng qua cả nước xuất siêu 143 triệu USD.


Về xuất khẩu:
Tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 9/2012
đạt gần 4,95 tỷ USD, tăng 10,7% (tương đương tăng 479 triệu USD về số tuyệt đối)
so với kỳ 1 tháng 9/2012.
Một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng cao trong kỳ như: điện thoại các
loại & linh kiện tăng 83,6 triệu USD; đá quý, kim loại quý & sản phẩm tăng 58,6 triệu
USD; hàng thủy sản tăng 56,4 triệu USD; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng tăng
56 triệu USD; sắt thép & sản phẩm tăng 49,8 triệu USD; máy vi tính sản phẩm điện tử
& linh kiện tăng 42,2 triệu USD; giày dép tăng 39 triệu USD;hàng dệt may tăng 20,2
triệu USD. Tuy nhiên dầu thô và tàu thuyền các loại lại có mức kim ngạch giảm mạnh,
lần lượt giảm 135 triệu USD và 30,3 triệu USD.
Như vậy, tính đến hết kỳ 2 tháng 9/2012, tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước đạt gần 83,55 tỷ USD, tăng 18,6% (tương đương tăng 13,08 tỷ USD) so với
cùng kỳ năm 2011.
Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất 9 tháng/2011 và 9 tháng/2012


Số liệu thống kê hải quan cho thấy trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong kỳ này đạt 2,82 tỷ USD , tăng
13,9% so với kỳ 1 tháng 9/2012, qua đó nâng tổng kim ngạch xuấtkhẩu trong 9
tháng/2012 của khối doanh nghiệp này lên 45,95 tỷ USD, tăng 37,3% so với cùng kỳ
năm trước và chiếm 55% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.
2. Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam:
Hiện nay, có thể nói rằng: Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Trung Đông, EU và khu vực
ASEAN vẫn là những thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Với mỗi thị trường
là một thế mạnh hàng hóa riêng.
2.1 Thị trường Mỹ
Kể từ khi ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ
(BTA), có hiệu lực từ ngày 10/12/2001, buôn bán giữa 2 nước đã gia tăng đột biến,
nhất là xuất khẩu từ Việt Nam. Trong 9 tháng đầu năm 2012 vừa qua, kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ đạt 5,6 tỷ USD, tăng 8% (tương ứng tăng


417 triệu USD). Hàng da giày đạt 1,65 tỷ USD, tăng 19,2 %; hàng máy vi tính, sản
phẩm điện tử & linh kiện Hoa Kỳ: 631 triệu USD, tăng 66,9% … so với cùng kỳ năm
2011.
2.2 Thị trường Nhật Bản
Hiện nay, Nhật Bản là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt
Nam ở nhiều ngành hàng khác nhau. Trong lĩnh vực máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ
tùng, Việt Nam đã xuất khẩu sang Nhật Bản: 911 triệu USD, tăng 31,1% so với cùng
kỳ năm trước. Và Nhật Bản cũng là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong
lĩnh vực phương tiện vận tải & phụ tùng trong 9 tháng qua với 1,25 tỷ USD, tiếp theo
là Hàn Quốc: 478 triệu USD và Hoa Kỳ: 475 triệu USD.
2.3 Thị trường Trung Quốc
Trung Quốc là thị trường lớn với kim ngạch xuất khẩu cao nhất thế giới. Trung
Quốc và Việt Nam có nhiều nét tương đồng về thể chế và trình độ phát triển, là bạn
hàng tiềm năng, nhưng cũng là đối thủ cạnh tranh đặc biệt sau khi gia nhập WTO.
Trong 3 quý qua, Trung Quốc là đối tác lớn nhất nhập khẩu gạo của Việt Nam với 1,71
triệu tấn, tăng gấp 5 lần so với cùng kỳ năm 2011. Và cũng đã nhập khẩu 1,28 tỷ USD,
tăng gấp hai lần so với cùng kỳ năm ngoái trong lĩnh vực máy vi tính, sản phẩm điện tử
và linh kiện. Trung Quốc vẫn là đối tác chính nhập khẩu cao su của Việt Nam trong 8
tháng qua với 350 nghìn tấn, tăng 8,5% và chiếm tới 49% lượng cao su xuất khẩu của
cả nước.
2.4 Thị trường Trung Đông
Khu vực Trung Đông nằm giữa 3 Châu: Châu Á, Châu Âu, Châu Phi. Trong cơ
cấu kinh tế, các nước Trung Đông bị phụ thuộc rất nhiều vào dầu mỏ, trong khi các
ngành công nghiệp chế tạo và sản xuất nông nghiệp chưa phát triển. Vì vậy, các nước
trong khu vực này có nhu cầu rất lớn và đa dạng về các loại hàng hóa phục vụ sản xuất
và tiêu dùng nội địa. Các mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu đạt kim ngạch lớn sang thị
trường này đều là những mặt hàng mà Trung Đông đang có nhu cầu cao như hải sản,


gạo, vải sợi các loại, máy vi tính, máy móc thiết bị phụ tùng, dệt may, sữa và sản phẩm
sữa...
2.5 Thị trường EU
EU gồm 15 quốc gia, mỗi thị trường lại có một đặc điểm tiêu dùng riêng, như
vậy, có thể thấy rằng thị trường EU có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hóa.
Giầy dép, dệt may, hải sản, hàng công nghiệp nhẹ, túi xách...là các mặt hàng xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam sang EU. Việt Nam đã xuất khẩu trong 9 tháng năm 2012 sang
thị trường EU là 1,87 tỷ USD, tăng 2,1% và chiếm 35,7% kim ngạch xuất khẩu nhóm
hàng này của cả nước. Trong nhóm ngành máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng, Việt
Nam đã xuất khẩu sang EU: 508 triệu USD, tăng 64,6%,…
2.6 Thị trường ASEAN
ASEAN là một thị trường quan trọng của xuất khẩu. Hiện nay, đây là thị trường
xuất khẩu lớn thứ 3 của chúng ta, sau Mỹ và Liên minh Châu Âu EU. Kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam sang ASEAN kể từ khi ta tham gia thực hiện AFTA (năm 1996) có
xu hướng tăng liên tục (riêng năm 2001 và 2002 giảm nhẹ). Nhóm ngành máy vi tính,
sản phẩm điện tử & linh kiện: Trị giá xuất khẩu trong tháng 9/2012 của Việt Nam sang
Malaixia là 596 triệu USD, tăng gấp hơn 10 lần so với cùng kỳ năm trước. Còn đối với
gạo là mặt hàng chủ lực của Việt Nam sang Philippin: 1,04 triệu tấn, tăng 13,1%;
Malaixia: 542 nghìn tấn, tInđônêxia: 325 nghìn tấn, …..


CHƯƠNG 2 : CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CỦA
VIỆT NAM
1 . Chính sách khuyến khích đầu tư
Nhằm mục đích khuyến khích đầu tư trong nước vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất
khẩu, Chính phủ đã quy định nhiều ưu đãi dành cho đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu.
Theo Luật đầu tư 2005, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật khuyến khích đầu
tư trong nước, đầu tư vào sản xuất hàng xuất khẩu thuộc danh mục các dự án khuyến
khích đầu tư được hưởng một số ưu đãi:
- Ưu đãi về miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, các dự án cần đặc
biệt khuyến khích đầu tư được miễn thuế nhập khẩu đối với các thiết bị, máy móc mà
chủ đầu tư trực tiếp hoặc ủy thác nhập khẩu để xây dựng cơ sở sản xuất.
-

Về tín dụng: được bảo lãnh tín dụng, cấp tín dụng xuất khẩu…

-

Về tiền thuê đất: địa bàn ưu đãi đầu tư được miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất,
thuế sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về thuế, nếu có dự
án đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu nếu được giao đất thì không phải trả
tiền thuê đất, nếu thuê đất thì được miễn thuế đất trong 5 năm đầu, giảm 50% trong 5
năm tiếp theo…

-

Đối với các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, Chính
phủ cũng có nhiều ưu đãi như: miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo điều kiện
mua nguyên vật liệu từ thị trường nội địa, cung cấp cơ sở hạ tầng thuận lợi
2. Chính sách tài chính tín dụng
2.1 Miễn giảm thuế
Ở Việt Nam thuế xuất khẩu áp dụng đối với số ít mặt hàng. Mục tiêu là nâng cao
mức độ chế biến nguyên liệu thô, chứ không phải nhằm mục tiêu là ngân sách.


Giảm thuế đối với một số mặt hàng:
- Hàng xuất khẩu để trả nợ nước ngoài
- Hàng được xét miễn giảm thuế để khuyến khích xuất khẩu
- Hàng là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để gia công cho nước ngoài và xuất khẩu để
thực hiện hợp đồng gia công cho nước ngoài .
- Hàng xuất khẩu của các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài.
Chính phủ thực hiện chính sách hoàn thuế đối với một số mặt hàng :
- Hàng đã kê khai và nộp thuế xuất khẩu nhưng không xuất khẩu hoặc xuất khẩu rất ít.
- Hàng vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu hoàn thuế tương
ứng tỷ lệ xuất khẩu thành phẩm.
- Hàng nhập để tạm xuất - tái xuất - tái nhập để đem đi dự hội chợ triển lãm.
2.2 Nhà nước bảo lãnh tín dụng xuất khẩu:
Trong trường hợp doanh nghiệp bán hàng theo phương thức bán chịu, trả chậm
cho khách hàng nước ngoài. Để giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp, Nhà nước đứng ra
bảo lãnh đền bù khi bị mất vốn. Tỷ lệ đền bù có thể lên đến 100% vốn bị mất, nhưng
thường là khoảng 60-70% của khoản tín dụng đó. Trước năm 2008, ở Việt Nam, đã
thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu nhằm mục đích thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh tín dụng
xuất khẩu cho các doanh nghiệp trong nước. Giúp giá bán hàng của nhà xuất khẩu nâng
lên vì khi bán người ta sẽ bán với giá bán cộng thêm lãi suất, giúp gia tăng kim ngạch
xuất khẩu. Đến tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định bãi bỏ Quỹ
hỗ trợ xuất khẩu. Việc bãi bỏ Quỹ này là nhằm đảm bảo nguyên tắc đối xử bình đẳng
theo cam kết trong WTO. Theo đó, Nhà nước chỉ có thể hỗ trợ gián tiếp cho các doanh
nghiệp thông qua các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia.
2.3 Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu:


Hiện nay, Việt Nam đang thí điểm áp dụng hình thức Bảo hiểm tín dụng xuất
khẩu (BHTDXK). BHTDXK là hình thức bảo đảm tài chính cho nhà xuất khẩu trong
các hợp đồng xuất nhập khẩu có điều kiện thanh toán theo hình thức tín dụng mở trước
rủi ro nợ xấu, mất khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu do mất khả năng thanh toán,
phá sản hoặc vì bất ổn chính trị tại quốc gia nhập khẩu.
Tổ chức BHTDXK là nguồn cung cấp thông tin thị trường, năng lực và tình trạng
tài chính của người mua, giúp nhà xuất khẩu thực hiện các giao dịch kinh doanh an
toàn và hiệu quả. Ban đầu, các tổ chức BHTDXK đều do Nhà nước thành lập và hỗ trợ.
Tuy nhiên, trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, mô hình hoạt động
của tổ chức BHTDXK từng bước có sự tham gia của khu vực tư nhân và vận hành theo
cơ chế thị trường
2.4 Nhà nước cung cấp tín dụng xuất khẩu:
Nhà nước cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu trong nước, nhất là các
chương trình cấp tín dụng ưu đãi cho thuế xuất khẩu. Trong đó xác định đối tượng cho
vay là: Những doanh nghiệp Việt Nam có dự án sản xuất, chế biến, gia công hàng xuất
khẩu mà phương án tiêu thụ sản phẩm của dự án đạt kim ngạch xuất khẩu ít nhất bằng
30% doanh thu hàng năm; những đơn vị có nhu cầu vay vốn đầu tư vào các dự án liên
doanh sản xuất, chế biến, gia công hàng xuất khẩu mà phương án tiêu thụ sản phẩm
của dự án liên doanh đạt kim ngạch xuất khẩu ít nhất bằng 80% doanh thu hàng năm.
Các hình thức tín dụng hỗ trợ xuất khẩu gồm: tín dụng hỗ trợ xuất khẩu trung và dài
hạn; tín dụng hỗ trợ xuất khẩu ngắn hạn và xử lý rủi ro.
3. Chính sách về thể chế - tổ chức
Trong thời gian qua, nước ta đã tiến hành rất nhiều biện pháp liên quan đến thể
chế - tổ chức để xúc tiến xuất khẩu, như:
-

Thể chế hoá các chính sách và biện pháp khuyến khích xuất khẩu

-

Tích cực đàm phán, ký kết hợp đồng thương mại song phương-đa phương ...tạo điều
kiện thuận lợi cho các hoạt động xuất khẩu.

-

Gia nhập ký kết các hiệp ước quốc tế để tạo điều kiện thúc đẩy tự do buôn bán.


-

Cải cách thủ tục kinh doanh xuất nhập khẩu

-

Cử phái đoàn thương mại ra nước ngoài tìm kiếm thị trường, tiến hành PR, tham dự hội
chợ triển lãm.

-

Ban hành biện pháp, chính sách hỗ trợ xuất khẩu.

-

Xây dựng chiến lược, định hướng cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, thị trường xuất khẩu.

-

Thành lập trung tâm cung cấp thông tin cho nhà xuất khẩu.

-

Đào tạo cán bộ, chuyên gia giúp đỡ cho nhà xuất khẩu.

-

Tiến hành PR ở nước ngoài.

-

Tham gia hội chợ triển lãm ở nước ngoài.

-

Cử phái đoàn ra nước ngoài nghiên cứu thị trường.

-

Lập văn phòng đại diện ở nước ngoài.
4. Chính sách liên quan đến tạo nguồn hàng và cải biến cơ cấu xuất khẩu
Chính sách này được thể hiện ở 3 mặt sau:
Một là, chuyển hoàn toàn, chuyển nhanh, chuyển mạnh sang sản xuất và xuất
khẩu hàng chế biến sâu, giảm tới mức tối đa xuất khẩu hàng nguyên liệu và giảm tới
mức thấp các mặt hàng sơ chế.
Hai là, phải mở ra các mặt hàng hoàn toàn mới. Chuyển từ xuất khẩu thô sang chế
biến đối với các sản phẩm đã có như chuyển từ dầu thô và khí sang xăng, phân bón;
chuyển từ nông sản thô sang nông sản chế biến; chuyển từ lắp ráp điện tử sang chế tạo
và sản xuất linh kiện…Bên cạnh đó, mở ra các mặt hàng hiện nay chưa có nhưng tiềm
năng và triển vọng phù hợp xu hướng tiêu dùng quốc tế, đó là các sản phẩm kỹ thuật
điện tử, máy công nghiệp, dịch vụ…và các sản phẩm trí tuệ như tạo phần mềm máy
tính. Cần chú trọng tới các sản phẩm mà khi sản xuất có thể khai thác được các nguồn
lực dồi dào sẵn có ở Việt Nam.
Ba là, chuyển sang chế biến và mở ra các mặt hàng mới dạng chế biến sâu nhưng
không thể thực hiện bằng “tự lực cánh sinh” do điều kiện kỹ thuật lạc hậu, thị trường
tiêu thụ không lớn. Điều này có thể thực hiện được thông qua các biện pháp cơ bản là
hợp tác, liên doanh…với nước ngoài.



CHƯƠNG 3 : BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ TRUNG QUỐC
1. Cách nắm bắt các cơ hội từ những biến động thị trường quốc tế mang lại

Trung Quốc là một ví dụ điển hình về sự nhạy bén trong việc nắm bắt và khai
thác những cơ hội lớn do biến động trong nền kinh tế thế giới mang lại từ đó có những
đối sách thích hợp để đạt tới mục tiêu mở rộng xuất khẩu. Từ đầu những năm 1980,
Hong Kong và Đài Loan bắt đầu mất đi lợi thế cạnh tranh trong sản xuất những mặt
hàng xuất khẩu sử dụng nhiều lao động do chi phí lao động và đất đai tăng cao. Việc tái
cơ cấu trở nên hết sức cần thiết: hoặc phải tìm được nguồn lao động và đất đai mới với
chi phí thấp hơn để mở rộng sản xuất, hoặc phải chấp nhận sự phá sản của nhiều công
ty và nhiều ngành sản xuất trong nước. Ngoài ra các nền kinh tế này còn có nhu cầu
dịch chuyển lên phía trên bậc thang công nghệ để tiếp cận với những sản phẩm hoặc
dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn. Tiếp đến là những biện pháp cải cách có tính chất
đột phá trong việc cải thiện môi trường đầu tư và hình thành một cách cơ bản khuôn
khổ pháp lý điều tiết các loại hình FDI chủ yếu ở Trung Quốc. Những biện pháp cải
cách đã tạo nên lực hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư từ Hong Kong và Đài Loan,
khởi đầu cho sự bùng nổ của dòng vốn đầu tư định hướng xuất khẩu từ các nền kinh tế
này vào Trung Quốc .
Trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa diễn ra sôi động, các công ty đa quốc gia
có xu hướng phân tán các hoạt động tạo giá trị tới những địa điểm khác nhau trên thế
giới để khai thác các yếu tố đấu vào tối ưu nhất Trung Quốc đã nắm bắt cơ hội này để
xác lập cho mình vị trí vững chắc trong mạng lưới sản xuất toàn cầu của các công ty đa
quốc gia. Với những lợi thế của mình, Trung Quốc đã trở thành địa điểm lý tưởng để
nhiều công ty nước ngoài thiết lập các cơ sở sản xuất hàng chế biến phục vụ thị trường
thế giới. Việc áp dụng và khuyến khích hình thức gia công xuất khẩu là một trong
những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự tích tụ nhanh chóng hoạt động sản xuất chế biến
ở Trung Quốc từ thập kỷ 90 trở đi. Đối với các công ty nước ngoài đặc biệt là công ty


đa quốc gia, gia công xuất khẩu được coi là phương thức có hiệu quả, ít rủi ro, và rất
thích hợp cho việc tổ chức hoạt động sản xuất chế biến ở Trung Quốc. Đổi lại, hình
thức gia công xuất khẩu giúp Trung Quốc thu hút được vốn đầu tư, tiếp cận được công
nghệ và trình độ quản lý tiên tiến của nước ngoài, đồng thời khai thác được những lợi
thế đặc biệt về vị trí địa lý và nguồn lao động rẻ ở các khu vực duyên hải đông nam đất
nước. Kết quả là gia công xuất khấu đã trở thành hình thức thương mại chủ lực của
Trung Quốc: kể từ năm 1996 cho đến nay, gia công xuất khẩu thường chiếm tới hơn
một nửa xuất khẩu của Trung Quốc, và các doanh nghiệp có vốn nước ngoài chiếm
khoảng 3/4 tổng giá trị gia công xuất khẩu của cả nước.
Về phía Việt Nam: Thực sự, nắm bắt cơ hội hết sức quan trọng và góp phần to
lớn vào những thành công trong công cuộc phát triển đất nước. Trung Quốc thành công
trên thị trường quốc tế như bây giờ cũng là nhờ biết tận dụng, nắm bắt cơ hội, tìm ra
các thời điểm thích hợp, nhạy cảm để có những chính sách phù hợp. Việt Nam muốn đi
lên cũng phải như vậy. Điều này đòi hỏi cần phải có những nhà hoạch định chính sách
có kiến thức, rất am hiểu thị trường quốc tế và đặc điểm trong nước để phân tích và
chớp lấy thời cơ. Một điều quan trọng là công tác đào tạo kiến thức và kĩ năng cũng
như lòng yêu nước cho những nhà chính sách và kinh tế tương lai
2. Trung Quốc không chỉ tập trung khai thác lợi thế so sánh của mình ( lao

động nhiều, giá rẻ, địa thế,…) mà giờ đây còn đang chú trọng vào các mặt
hàng có lợi thế cạnh tranh (linh kiện điện tử, máy móc,…)
Thay vì chú trọng các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày dép, và
các ngành công nghiệp nhẹ khác như trước kia, Trung Quốc hiện nay đang tăng cường
xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao hơn và có sức cạnh tranh trên thị
trường quốc tế, đặc biệt là xuất khẩu các sản phẩm máy móc và linh kiện có hàm lượng
kỹ thuật cao do chính nước mình sản xuất, để có thể tạo ra được hiệu quả tối ưu của
hoạt động mậu dịch đối ngoại, thúc đẩy kinh doanh tăng trưởng với tốc độ cao và
nhanh chóng hơn.


Về vấn đề sản xuất hàng hóa xuất khẩu, Trung Quốc chủ trương khuyến khích
các địa phương trong nước bám sát tình hình sản xuất của đơn vị mình thực hiện sản
xuất kinh doanh xuất khẩu với nhiều hình thức phù hợp với trong nước và quốc tế
nhằm tránh tình trạng xây dựng xí nghiệp trùng lặp, gây lãng phí cho nguồn vốn của
Nhà nước. Mặt khác việc nhập khẩu công nghệ nước ngoài của Trung Quốc không chỉ
dừng lại ở hình thức nhập khẩu máy móc thiết bị mà có sự chuyển hướng sang hình
thức chuyển giao li-xăng, tư vấn kỹ thuật, thiết kế hoặc tổ chức sản xuất phối. Đây vừa
là giải pháp thích hợp nhất để khắc phục tình trạng năng lực sản xuất yếu kém hiện
thời, vừa là biện pháp hiệu quả trong dài hạn để hình thành và phát triển năng lực công
nghệ quốc gia. Thêm vào đó, Nhà nước cũng có chủ trương khuyến khích các xí
nghiệp công nghiệp kỹ thuật tiên tiến và công nghệ cao ở các địa phương tham gia liên
kết với các xí nghiệp sản xuất kém hơn, thậm chí cho phép các xí nghiệp này hợp tác
liên doanh với các Công ty xuyên quốc gia để trờ thành một bộ phận sản xuất, tiêu thụ
thống nhất trong cả nước và trên toàn cầu, tiến tới từng bước hòa nhập với tiến trình
liên kết sản xuất và tiêu thụ trên thế giới.
Về phía Việt Nam: Đây là điểm rất đáng để học tập khi Trung Quốc dịch
chuyển dần cơ cấu các hàng nông sản, công nghiệp nhẹ, sang những hàng lợi thế so
sánh (như giày da, may mặc,…) khi mở cửa hội nhập và một khi đã có vốn tăng thêm,
kinh tế tăng trưởng tốt hơn thì tiếp tục sang những hàng có lợi thế cạnh tranh (máy
móc, linh kiện,…). Đây không chỉ là yếu tố góp phần vào thành công của riêng Trung
Quốc mà còn là kinh nghiệm của Nhật và các nước phát triển khác. Việt Nam muốn
thành công cũng cần phải đạt đến xuất khẩu những mặt hàng như vậy. Tuy nhiên, hiện
nay Việt Nam chưa đủ vốn và trình độ kĩ thuật để đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng
đó. Chúng ta có thể đặt nó làm mục tiêu và học tập cách Trung Quốc dịch chuyển từ từ,
tiến dần từng bậc thang một, làm tốt cái trước sẽ tạo đà(vốn, trình độ,…) cho cái sau.
Hơn nữa, chúng ta hoàn toàn có thể học cách Trung Quốc chuyển giao xi-lăng, tư vấn
kĩ thuật,…
3. Chính sách thể chế tự do hợp lý giúp khai thác tối đa lợi ích của đặc khu

kinh tế


Hệ thống đặc khu kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng trong chính
sách thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc cũng như trong sự tăng trưởng ấn tượng của
đất nước này nhiều năm qua. Chủ trương trao quyền tự chủ cho địa phương được xem
như biện pháp mấu chốt tạo nên thành công của mô hình này. Nhiều chuyên gia cho
rằng mô hình SEZ ở Trung Quốc thành công nhờ sự nhất quán trong các chính sách
của chính phủ và sự linh hoạt của các địa phương trong việc áp dụng chủ trương
chung. Thế nhưng, đó chỉ là bề nổi. Những yếu tố nằm bên trong các SEZ mới đáng để
nói.
Trung Quốc có chủ trương trao toàn quyền tự chủ cho SEZ, cho phép các SEZ
hoàn toàn độc lập về tài chính với trung ương và có quyền đề ra những ưu đãi riêng đối
với các nhà đầu tư, miễn là những ưu đãi đó nằm trong khuôn khổ pháp lý của nhà
nước. Sau đó, chính phủ tạo ra một môi trường mà nhờ đó, các SEZ phải cạnh tranh
với nhau trong việc thu hút các nhà đầu tư. Cạnh tranh là cơ sở cho sự tồn tại của các
SEZ.
SEZ được coi như trung gian giữa chính quyền trung ương và các nhà đầu tư.
Sự ra đời và tồn tại của SEZ đã tạo ra một môi trường thống nhất hơn trong việc thu
hút đầu tư nước ngoài. Ngay từ khi ra đời, Trung Quốc đã từng bước thiết lập một hệ
thống pháp lý tương đối toàn diện trong lĩnh vực đầu tư. Hệ thống này bao gồm các
chính sách đối với công nghiệp, tài chính và cả chính sách áp dụng cho từng khu vực.
Ở cấp độ khu vực, chính SEZ là thực thể kinh tế sở hữu những cơ chế thu hút và duy
trì đầu tư nước ngoài thành công nhất.
Hệ thống quản lý hành chính trong các SEZ ở Trung Quốc được đánh giá là hiệu
quả, chuyện nghiệp và, quan trọng hơn cả, có quyền tự đưa ra những thay đổi. SEZ
không được chính phủ cấp ngân sách nên buộc phải thu hút càng nhiều vốn đầu tư càng
tốt. Trên thực tế, các SEZ đã áp dụng rất nhiều biện pháp để mời gọi đầu tư, từ việc
cung cấp các dịch vụ giải đáp về thủ tục, chính sách tới việc công bố rộng rãi các ưu
đãi tới các nhà đầu tư
Về phía Việt Nam : Hiện nay, Việt Nam có khoảng 15 khu kinh tế mở (hay còn
gọi là đặc khu kinh tế, khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do...) nhưng đến giờ này


các khu kinh tế này thực chất hoạt động chỉ như các khu công nghiệp mà thôi, chưa có
tính chất là đặc khu kinh tế giống như các đặc khu kinh tế của Trung Quốc. Lý do vì
sao lại vậy, rất nhiều nguyên nhân khiến Việt Nam chưa thể có đặc khu kinh tế nhưng
bất cập lớn nhất đáng nói là do thể chế .
Hơn nữa, chính phủ Trung Quốc đặc biệt cho phép các đặc khu kinh tế có thể
chế ưu tiên khác với thể chế trong nước, theo mô hình hướng ngoại, tới mức “một quốc
gia trong một quốc gia”, để có thể thu hút được vốn, kỹ thuật, phương pháp quản lý
của nước ngoài. Đây chính là điểm khác biệt nhất so với Việt Nam. Ở VN chỉ có một
vài ưu đãi dành cho khu kinh tế mở. Trong khi đó, đặc khu kinh tế ở Trung Quốc đi
theo mô hình của Hồng Kông. Tức là thể chế có tính vượt trội rất rõ rệt so với thể chế
nội địa. Ngoài những ưu đãi, còn có các thể chế như: thể chế hành chính, thể chế kinh
tế... rất hiện đại không kém gì Hồng Kông.
Trong khi đó ở Việt Nam, không thấy rõ điều này. Các khu kinh tế chỉ có Ban
quản lý khu kinh tế chứ không có hẳn một cấp chính quyền quản lý khu đó. Một vấn đề
nữa là, tính thực quản của khu kinh tế rất thấp và nó được quản lý bởi UBND tỉnh chứ
không có một cấp hành chính độc lập. Đó là chưa nói đến không có các nhà đầu tư có
tính chiến lược trong các khu công nghiệp phần lớn chỉ là doanh nghiệp nội địa.
Như vậy, vấn đề chính mà VN chưa trở thành một đặc khu kinh tế như Trung Quốc
là vì chưa có thể chế cụ thể (mà cơ bản chỉ có ưu đãi) và chưa có nhà đầu tư chiến lược
lâu dài.

4.

Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu (BHTDXK)
"Bảo hiểm quốc gia về tín dụng xuất khẩu" là dịch vụ chủ yếu được cung cấp

bởi tổ chức tín dụng xuất khẩu (ECA). Nó đề cập đến việc bảo vệ và bồi thường cho
người xuất khẩu khi họ cấp tín dụng thương mại hoặc bảo vệ và bồi thường cho các
ngân hàng khi ngân hàng cho vay trung - dài hạn. Phạm vi bảo hiểm của Bảo hiểm tín
dụng xuất khẩu bao gồm các khiếu nại tổn thất do không thanh toán những khoản phải
thu, phát sinh từ hoạt động buôn bán hoặc những khoản cho vay và tái phần lớn dịch


vụ nhận được cho nhà tái bảo hiểm nước ngoài.trung - dài hạn vì lý do chính trị,
thương mại. Từ năm 2002 đến 2010, Bảo hiểm tín dụng Trung quốc đã hỗ trợ cho xuất
khẩu và đầu tư tổng giá trị là hơn 170 tỷ USD, cung cấp nghiệp vụ tín dụng xuất khẩu
cho vài nghìn doanh nghiệp, vài trăm hạng mục trung và dài hạn, như xuất khẩu các
sản phẩm cơ điện cỡ lớn, thiết bị kỹ thuật cao, thiết bị đồng bộ cỡ lớn, các dự án đấu
thầu nước ngoài.”
Về phía Việt Nam: Ở nước ta thì BHTDXK mới chỉ được triển khai thí điểm
vào tháng 10/2010 và theo đề án triển khai thí điểm từ năm 2011 đến cuối năm 2013.
Chúng ta sẽ nâng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu được BHTDXK là 3%. Hiện tại có 7
doanh nghiệp bảo hiểm được Bộ Tài chính “chọn mặt gửi vàng” triển khai thí điểm
BHTDXK, gồm: Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt, Tổng công ty cổ phần Bảo Minh,
Tổng công ty Bảo hiểm PVI, Công ty liên doanh Bảo hiểm Bảo Việt Tokio Marine,
Công ty bảo hiểm QBE Việt Nam, Công ty TNHH bảo hiểm Chartis Việt Nam, Công ty
bảo hiểm Liên hiệp. Bộ Tài chính đang nghiên cứu để không chỉ giới hạn trong 7
doanh nghiệp bảo hiểm nòng cốt này mà mở rộng ra 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ khác nhằm tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu thỏa mãn điều kiện,
không phân biệt thương nhân nước ngoài hay trong nước, miễn là có xuất khẩu 23 mặt
hàng quy định trong Thông tư 2011 của Thủ tướng Chính phủ tham gia BHTDXK
được hỗ trợ 20% phí bảo hiểm.. Mặc dù vậy các doanh nghiệp trên hầu như vẫn chưa
có đội ngũ chuyên gia về BHTDXK, do vậy họ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nhà
tái bảo hiểm nước ngoài từ khâu khai thác, đánh giá rủi ro, thẩm định bảo hiểm,..
Các mô hình tổ chức và lịch sử phát triển của các tổ chức BHTDXK ở Trung Quốc
cũng cho thấy sự bảo trợ của nhà nước trong việc thành lập là yếu tố quyết định. Ban
đầu, tổ chức BHTDXK cần được nhà nước đầu tư về công nghệ thông tin, nguồn nhân
lực và khả năng tài chính. Tuy nhiên, để bảo đảm hoạt động BHTDXK phù hợp với
nguyên tắc WTO (không được coi là trợ cấp xuất khẩu), tổ chức BHTDXK cho dù
thuộc sở hữu nhà nước (phục vụ mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu) thì cũng phải thực hiện
kinh doanh theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh và chịu sự
điều chỉnh của luật pháp về bảo hiểm và thương mại.


Việt Nam cũng cần tính toán lợi ích kinh tế khả thi , phân tích hiệu quả đẩy
mạnh xuất khẩu với chi phí đầu tư và vận hành tổ chức khi thành lập tổ chức
BHTDXK
Bên cạnh đó, trong điều kiện thiếu nguồn vốn và nhân sự, tính chất mặt hàng
xuất khẩu đa số là hàng hóa thông dụng, nhiều chuyên gia quốc tế cho rằng, trước mắt,
Việt Nam nên lựa chọn phát triển BHTDXK ngắn hạn. Điều này được dựa trên năng
lực tổ chức quản lý điều hành và chuyên môn, quan hệ quốc tế của hệ thống DN bảo
hiểm trong nước, đồng thời hợp tác với các tổ chức BHTDXK quốc tế để từ đó thiết
lập cơ cấu chấp nhận và chuyển giao rủi ro bảo hiểm, tái bảo hiểm tín dụng phù hợp.
Nhìn từ góc độ doanh nghiệp BHTDXK, chi phí đầu tư ban đầu và vận hành
nghiệp vụ rất lớn, cùng với lo lắng về tiềm năng thị trường, mức độ rủi ro, hiệu quả
kinh doanh là những rào cản đáng kể. Do đó, Nhà nước cần hỗ trợ, tạo cơ sở vốn đầu
tư ban đầu cho trang bị công nghệ và tuyển dụng nguồn nhân lực, ưu đãi về thuế và có
chính sách bù đắp chi phí hoạt động trong 2 - 3 năm đầu tiên.
Đối với các nhà xuất khẩu, để đẩy mạnh việc tham gia BHTDXK, bên cạnh ban
hành các chính sách tuyên truyền, khuyến khích doanh nghiệp mua bảo hiểm, Nhà
nước có thể xem xét cho phép ngân hàng hỗ trợ lãi suất nhằm giảm chi phí cho doanh
nghiệp.
5. Sự phối hợp đồng bộ các chính sách dưới một khung pháp lý chặt chẽ ,

thống nhất và đồng bộ
Bài học từ câu chuyện thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc lớn nhất mà Việt
Nam học được đó chính là việc sự phối hợp đồng bộ các chính sách vì một mục tiêu
chung. Một sự dễ hiểu và logic với việc đẩy mạnh hợp tác khu vực và quốc tế, kết hợp
với sự hỗ trợ đồng bộ của các chính sách tài chính, tỷ giá và tín dụng làm việc khuyến
khích và thu hút đầu tư tăng nhanh. Đồng thời, chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu,
không ngừng tìm kiếm các thị trường mới trên cơ sở duy trì tốt mối quan hệ trên các
thị trường cũ.


Thể chế , thủ tục chính sách tại Trung Quốc thông thoáng , tự do nhưng đảm bảo
sự chặt chẽ tạo điều kiện dễ dàng cho không chỉ các doanh nghiệp trong và cả ngoài
nước vẫn đang là bài toán Việt Nam đang cố gắng giải quyết


KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu có thể thấy được những điểm mạnh cũng như điểm yếu riêng
của từng quốc gia: Việt Nam và Trung Quốc. Do vậy mà Việt Nam cần học tập, áp
dụng một cách hợp lý các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu rất thành công của Trung Quốc
theo thực tế phát triển, đặc điểm kinh tế-xã hội của đất nước mình.
Do giới hạn về nguồn lực cũng như sự hiểu biết về kiến thức, nhóm 2 vẫn luôn
hy vọng nhận được những ý kiến đóng góp nhiều hơn nữa từ phía cô giáo và các bạn
để bài nghiên cứu trở nên hoàn thiện hơn.
Nhóm xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo và các bạn đã dành sự quan tâm
theo dõi cho đề tài mà nhóm đã thực hiện.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×