Tải bản đầy đủ

CÁC TÁC GIA TRONG ĐỀ THI ĐẠI HỌC

Dương Phú Việt Anh – 12A5 – THPT Liên Hà

NAM CAO (1917 – 1951)
Đề 1: Nêu những nét chính về con người Nam Cao
Đề 2: Nêu quan niệm sáng tác văn học của Nam Cao
Đề 3: Nhưng đề tài chính trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng
Đề 4: Phân tích phong cách nghệ thuật của Nam Cao
Đề 5: Giới thiệu sự nghiệp sáng tác văn học của Nam Cao
I. Cuộc đời và con người của Nam Cao:
1. Cuộc đời:
- Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri (1917-1951), sinh ra ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang,
phủ Lí Nhân_Hà Nam. Bút danh Nam Cao do ghép 2 chữ đầu tên huyện và tổng mà thành.
- Nam Cao sinh ra trong một gia đình trung nông đông con theo đạo Thiên Chúa. Trong số 7 anh em, chỉ có
Nam Cao được ăn học đến nơi đến chốn. Học hết bậc Thành chung, năm 1935, Nam Cao theo cậu vào Sài
Gòn. Sau đó ông bị ốm, phải trở về quê. Nam Cao phải sống vất vưởng, khi làm ông giáo trường tư, khi viết
văn, làm gia sư, lúc phải sống nhờ vợ.
- Tháng 4/1943, Nam Cao tham gia hội văn hóa cứu quốc và từ đó ông đi theo cách mạng.
- Tháng 11/1951, trên đường vào công tác vùng địch hậu, ông đã ngã xuống và hi sinh giữa lúc tài năng đang
nở rộ.
* Năm 1996, Nam Cao được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
2. Con người:

- Nam Cao là một người khiêm nhường, ít nói, bề ngoài lạnh lùng nhưng bên trong lại có đời sống nội tâm
phong phú. Ông luôn nghiêm khắc đấu tranh với bản thân để thoát khỏi lối sống tầm thường nhỏ hẹp, nhằm
vươn tới một cuộc sống cao đẹp, xứng đáng với danh vị con người. Nam Cao thường mặc cảm, day dứt với
những gì ông cảm thấy tầm thường, thấp kém của mình. “Đó là một người tri thức trung thực vô ngần” (Tô
Hoài). Điều đó đã tạo nên một nhân cáh lớn và là tiền đề tạo nên những trang viets có giá trị.
- Nam Cao có tấm lòng đôn hậu và chan chứa tình thương. Ông gắn bó sâu sắc với quê hương và với những
người nông dân nghèo khổ bị áp bức, bị khinh miệt trong xã hội. Theo ông, nếu không có tình thương của
đồng đội thì không thể gọi là người. Không ít tác phẩm của Nam Cao viết về kiếp người lầm than và đó là
những thiên trữ tình đầy cảm thông và xót thương đối với con người. Nam Cao hay suy nghĩ về những vấn
đề trong đời sống để rút ra những nhận xét có tính triết lí sâu sắc và mới mẻ.
- Cuộc đời lao động nghệ thuật vì lí tưởng nhân đạo, lí tưởng cách mạng và sự hy sinh anh dũng của Nam
Cao mãi là tấm gương cao đẹp của một nhà văn, chiến sĩ. Nam Cao xứng đáng là một nhà văn chân chính,
một chiến sĩ_liệt sĩ.
II. Sự nghiệp văn học:
1. Quan điểm sáng tác:
- Nam Cao quan niệm văn chương phải có giá trị hiện thực. Trong truyện ngắn “Giăng sáng” (1932), ông
viết: “Chao ôi! Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ
có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”. Đây là lời phát biểu được coi là Tuyên ngôn
nghệ thuật của Nam Cao. Đây cũng là lời đoạn tuyệt với văn học lãng mạn để Nam Cao về với văn học hiện
thực phê phán. Theo Nam Cao, những người cầm bút không được “trốn tránh sự thật mà hãy sống trong lao
khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời”.
- Nam Cao cho rằng nhà văn phải luôn tìm tòi, sáng tạo trong nghề nghiệp và phải có lương tâm của người
cầm bút: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn
chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo
những gì chưa ai có” (Đời thừa). Sự cẩu thả trong nghề văn được coi là sự “bất lương” và “đê tiện”.
- Nam Cao quan niệm văn chương phải có tinh thần nhân đạo cao cả. Trong truyện ngắn “Đời thừa” (1943),
ông viết: “Một tác phẩm thật sự giá trị phải vươn lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một cái
gì lớn lão, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình,…
Nó làm cho người gần người hơn”.
- Nam Cao luôn tự nhủ: “sống đã rồi hãy viết” và “góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này là để
sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn” (Nhật kí Ở rừng_1948). Nam Cao luôn trăn trở về vấn đề “Đôi
mắt” của người nghệ sĩ. Với ông, “Đôi mắt” chính là vấn đề tình thương và cách nhìn. Người nghệ sĩ có tài
không chưa đủ, mà còn phải có công, có tấm lòng biết đồng cảm, yêu thương đối với con người thì mới sáng
tạo được những tác phẩm có giá trị và tiến bộ.
2. Các đề tài chính:
Các tác gia

1



Dương Phú Việt Anh – 12A5 – THPT Liên Hà
a) Trước cách mạng tháng Tám: Nam Cao sáng tác từ năm 1936. Ông chịu ảnh hưởng nặng nề của văn
học lãng mạn thoát li đương thời. Năm 1941, Nam Cao mới thực sự sáng tác theo khuynh hướng hiện thực
và ông trở thành đại diện xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực phê phán. Trước cách mạng, ông viết về 2
đề tài chính:
- Đề tài về người trí thức tiểu tư sản:
+ “Nam Cao thường lấy mình ra làm cái máy kiểm nghiệm” (Nguyễn Minh Châu). Tức là Nam Cao lấy
bản thân ông và bạn bè gần gũi của ông làm nguyên mẫu để viết lên hàng loạt truyện ngắn, truyện vừa và
tiểu thuyết “Sống mòn”.
+ Sáng tác của Nam Cao phản ánh chân thực tình cảnh nghèo khổ, tủi cực, buồn thảm của người trí thức
tiểu tư sản nghèo (Mua nhà, Những truyện không muốn viết, Sống mòn,…)
+ Nam Cao tập trung đi sâu vào những bi kịch tinh thần của người trí thức. Qua đó kết tội xã hội vô nhân
dạo đã bọp nghẹt sự sống, đẩy con người vào tình trạng chết mòn, tàn phá tâm hồn họ, khiến họ sống trở nên
vô nghĩa, vô ích, trở thành thù địch với con người. (Đời thừa,…)
+ Nam cao đã thể hiện cuộc đấu tranh trung thực của người trí thức trước sự cám dỗ của lối sống ích kỉ,
sự đầu độc của môi trường dung tục và vươn lên giữ vũng lẽ sống, tình thương, hoàn thiện nhân cách của
con người (Đời thừa, Nước mắt, Mua nhà,…)
- Đề tài về người nông dân:
+ Nam Cao được mệnh danh là nhà văn của nông dân. Ông thường lấy nguyên mẫu từ những người quen
biết thân thuộc trong cái làng Đại Hoàng lam lũ của mình để xây dựng lên những: Lão Hạc, Dì Hảo, Lang
Rận, Chí phèo, Một đám cưới, Một bữa no, Trẻ con không được ăn thịt chó,…
+ Nam Cao rất thấu hiểu số phận cực khổ của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến đương
thời. Họ triền miên trong bần cùng tăm tối. Trong xã hội ấy, Nam Cao đặc biệt quan tâm đến 2 loại người:
Những người bị ức hiếp bất công, sộ phận đen đủi, hẩm hiu như Lão Hạc, Dì Hảo, Đĩ Chuột, cái Dần, cái Tí,
… Và nhất là những người vì quá đói nghèo nên bị lăng nhục, xúc phạm một cách tàn nhẫn (Một bữa no,
Lang Rận, Tư cách mõ, Nửa đêm, Chí Phèo,…). Viết về quá trình tha hóa của những con người này, Nam
Cao có phát hiện sâu sắc: xã hội tàn bạo đã hủy diệt cả thế xác lẫn linh hồn của người nông dân lương thiện,
đẩy họ vào cuộc sống tuyệt vọng không lối thoát.
+ Nam Cao còn đi sâu phát hiện những phẩm chất cao đẹp của người nông dân ngay cả khi họ bị cướp
mất linh hồn và tính cách con người (Chí Phèo).
+ Là một cây bút hiện thực nghiêm ngặt, Nam Cao không ngần ngại chỉ ra những thói hư tật xấu của
người nông dân (Đòn chồng, Trẻ con không được ăn thịt chó,…)
b) Sau cách mạng tháng Tam: Nam Cao là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của nền văn học
kháng chiện thời kì đầu. Ông để lại các tác phẩm: Đôi mắt, Chuyện biên giới, nhật kí Ở rừng.
3. Phong cách nghệ thuật:
- Nam Cao là một cây bút hiện thực nghiêm ngặt. Ông có cách viết vừa chân thực, vừa có sức khái quát cao,
mang đậm tính triết lí sâu sắc về cuộc đời và nghệ thuật (Mua nhà, Sao lại thế này, Đón khách,…).
- Nghệ thuật xây dựn gnhaan vật của Nam Cao sống động, chân thực, giàu cá tính. Nhiều nhân vật đạt đến
mức độ điển hình bất hủ (Lão Hạc, Chí Phèo, Bá Kiến,…). Nam Cao có hứng thú và sở trường đặc biệt
trong việc miêu tả nội tâm nhân vật của Nam Cao thường giằng xé, phức tạp, chân thực, sống động. Ví như
nhân vật Thứ, Hộ, Điền, Cao, Chí Phèo, Lão Hạc,… Nam Cao tỏ ra đặc biệt sắc xảo trong việc phân tích và
diễn tả các trạng thái dỏ say dở tỉnh, dỏ khóc, dở cười, mấp mé ranh giới giữa cái thiện và cái ác, giữa hiền
và dữ, giữa con người và con vật. Do am hiểu tâm lí nhân vật nên Nam Cao tạo được những đoạn đối thoại,
độc thoại rất chân thật, sống động (Lang Rận, Chí Phèo)
- Nghệ thuật kể truyện hấp dẫn, cốt truyện gay cấn, kết cấu truyện không theo trật tự thời gian tuyến tính,
quá khứ, hiện tại đan xen mà vẫn chặt chẽ. Nam Cao còn rất thành công ở những truyện không có truyện.
Ông thường miêu tả những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh, đời thường mà vẫn nêu được những vấn đề có sức khái
quát và sâu sắc. (Con mèo, Bài học quét nhà, Trẻ con không được ăn thịt chó)
- Ngôn ngữ của Nam Cao vừa góc cạnh, vừa tinh tế, điêu luyện. Không những rất nghệ thuật mà còn gần gũi
với lời ăn tiếng nói của nông dân lao động. Nam Cao triết lí mà không khô khan. Trái lại, thấm đẫm chất trữ
tình. Ông có giọng văn rất riêng: chua chát, lạnh lùng, khách quan mà trữ tình, cảm thông thắm thiết.
* Kết luận: Nam Cao là nhà văn đã góp phần quan trọng vào việc cách tân nền văn học dân tộc theo
khuynh hường hiện đại hóa. Ông xứng đáng là nhà văn xuất sắc vào loại bậc nhất của nền văn học Việt
Nam.

Các tác gia

2


Dương Phú Việt Anh – 12A5 – THPT Liên Hà

NGUYỄN TUÂN (1910 – 1987)
Đề 1: Nêu vắn tắt những nét chính về con người Nguyễn Tuân.
Đề 2: Giới thiệu những đề tài chính trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám.
Đề 3: Nêu phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân..
Đề 4: Giới thiệu sự nghiệp sáng tác nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
I. Cuộc đời:
1. Tiểu sử:
2. Con người:
- Nguyễn Tuân là một người trí thức giàu lòng yêu nước, có tinh thần dân tộc rất cao. Tinh thần dân tộc được
thể hiện ở tình yêu tiếng mẹ đẻ và lòng yêu mến, tự hào về truyền thống văn hóa của dân tộc, những thú chơi
tao nhã của cha ông như uống trà, chơi hoa, chơi chữ, thả thơ,… những món ăn truyền thống thể hiện khẩu
vị tinh tế của người Việt.
- Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao. Ông viết văn trước hết để khẳng định cá tính độc đáo
của mình. Ông ham du lịch và tự gắn cho mình một chứng bệnh gọi là “chủ nghĩa xê dịch”. Lối sống tự do,
phóng túng khiến Nguyễn Tuân trở thành người có lối sống “ngông”. “Ngông” là thái độ sống bất chấp sự
khen chê của người đời, sống khác người, khác đời, không a dua, không nịnh hót, sống phóng khoáng, tự do.
- Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa, uyên bác, phong cách nghệ sĩ, lối sống phóng khoáng, đài các,
cầu kì, lịch lãm, tinh tế. Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh gọi: “Nguyễn Tuân là một cái định nghĩa về người
nghệ sĩ”. Ông am hiểu nhiều ngành văn hóa, nhiều môn nghệ thuật khác như hội họa, điêu khắc, điện ảnh,
sân khấu,… Ông là diễn viên kịch nói có tài và là một trong những diễn viên điện ảnh đầu tiên ở nước ta.
Ông thường vận dụng con mắt của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan
sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương.
- Nguyễn Tuân là nhà văn quí trọng thực sự nghề nghiệp của mình. Ông xem nghề văn là một nghề cao quí,
khổ hạnh, phải rèn câu, đúc chữ, chau chuốt công phu. Ông là tấm gương lao động nghệ thuật cực kì nghiêm
túc. Điều đó đã giúp Nguyễn Tuân tạo được nhiều tác phẩm xứng đáng là kiệt tác của nền văn học Việt
Nam.
II. Sự nghiệp văn học:
1. Quá trình sáng tác và đề tài chính:
a) Trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân là nhà văn tiêu biểu cho văn học lãng mạn ở giai đoạn cuối:
- Nguyễn Tuân từng làm thơ, viết bút kí, sáng tác truyện ngắn hiện thực. Năm 1938, ông mới nhận ra sở
trường của mình ở thể tùy bút. Và thành công nhất với tác phẩm: Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời
(1939), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941).
- Đề tài chính:
+ Chủ nghĩa xê dịch: Một chuyến đi (1938), Thiếu quê hương (1940)
Ở 2 tác phẩm này, Nguyễn Tuân thể hiện rất rõ triết lí sống của mình: “Đi là để thay đổi thực đơn cho
cảm giác”. Đi là mục đích để thay đổi lẽ sống, đi để thoái khỏi cái tủn mủn trói buộc của hoàn cảnh. Không
cần biết đi đâu, đi để làm gì. Đi để “mãi mãi không phải đứng yên, mãi mãi du lịch trong tưởng tượng bằng
một tấm lòng đau khổ” (Thiếu quê hương). Qua những trang viết này, Nguyễn Tuân bộc lộ một cây bút tài
hoa đã ghi lại được những cảnh sắc thiên nhiên đất nước.
+ Vang bóng một thời: Vang bóng một thời (1939)
Đây là mảng đề tài viết về một thời đã qua, nay chỉ còn vang bóng trong kỉ niệm và nỗi nhớ. Thời ấy,
những ông nghè, ông cử, ông tú có thú tiêu dao hưởng lạc đầy nghệ thuật: uống trà, chơi hoa, chơi chữ, thả
thơ. Khi viết về những thú chơi này, Nguyễn Tuân bộc lộ thái độ trân trọng, tự hào đối với cách sống của
ông cha mình.
+ Đời sống trụy lạc: Chiếc lư đồng mắt cua (1941)
Ở tác phẩm này, Nguyễn Tuân bộc lộ một tư tưởng khủng hoảng, mất hết niềm tin vào cuộc sống, đắm
chìm trong trụy lạc, cô đầu, sàn nhảy, thuốc phiện nhưng vẫn không nguôi khát vọng vươn lên một thế giới
trong trẻo, thanh cao, đẹp đẽ.
b) Sau cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân trở thành nhà văn cách mạng:
- Ông hăng hái đi thực tế sản xuất và chiến đấu để phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của
dân tộc. Đồng thời cổ vũ cho công cuộc xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Thời kì này, ông viết nhiều tác
phẩm như: Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Tùy bút kháng chiến (1955), Sông Đà (1960), Hà Nội
ta đánh Mĩ giỏi (1972),…
- Ngoài ra, Nguyễn Tuân còn viết bài cề cảnh sắc thiên nhiên và hương vị đất nước. Những bài này là những
áng văn độc đáo hiếm có trong nền văn học Việt Nam. Tiêu biểu là Cây Hà Nội, Phở, Cốm, Giò, Tờ hoa,…
Các tác gia

3


Dương Phú Việt Anh – 12A5 – THPT Liên Hà
2. Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân:
a) Chất tài hoa, tài tử:
- Nguyễn Tuân bước vào nghề văn như để chơi ngông với thiên hạ. Và ông đã trau dồi học vấn, tài năng của
mình để có thể đứng từ đỉnh cao của tài nghệ mà trêu ghẹo lại thế gian tầm thường của bọn tư sản, con buôn,
viên chức,… Ngông cho nên cái tôi của nhà văn đối lập với tất cả những gì là xấu xa ở xung quanh. Đó là
cái tôi giàu tự trọng và nhân cách.
- Thế giới nhân vật của Nguyễn Tuân, dù ở trong hoàn cảnh nào cũng là những người nghệ sĩ trong nghề
nghiệp của mình. Những con người này thường vượt lên trên sự giả dối tầm thường để sống một cuộc đời
phóng khoáng, tài hoa. Trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân đi tìm những con người tài hoa trong
“Vang bóng một thời”. Đó là các nhà nho, hay cô đào hát ca nhi. Sau cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân đi
tìm những con người tài hoa trong lao động như ông lái đò, người lái xe, anh bộ đội.
- Miêu tả sự vật, sự việc, hay con người, dù ở góc độ nào, Nguyễn Tuân cũng phát hiện ra cái đẹp trên
phương diện thẩm mĩ văn hóa. Người ta gọi ông là ca sĩ của cái đẹp bởi ông luôn phát hiện ra cái đẹp, trân
trọng và yêu mến cái đẹp trên mọi lĩnh vực và trong cả những sự việc tưởng như tầm thường.
b) Uyên bác ở bề rộng và chiều sâu văn hóa:
- Dù miêu tả hay kể truyện, ngòi bút của Nguyễn Tuân đều có ngọn ngành, tỉ mỉ, thông kim bác cổ. Mỗi
trang viết của Nguyễn Tuân đều mang đến cho người đọc vốn tri thức sâu rộng và những hiểu biết phong
phú. Ví dụ miêu tả cầu Hiền Lương, Nguyễn Tuân đến tận nơi, đến từng mảnh ghép trên những nhịp cầu để
viết được câu văn “Cầu Hiền Lương 178m, được lát bằng 894 mảnh ván. Trong đó, riêng nửa cầu phía Bắc
có 450 mảnh.”
- Nguyễn Tuân còn huy động vốn hiểu biết về hội họa, âm nhạc, điêu khắc, võ thuật, điện ảnh, lịch sử, địa lí
trên những trang viết của mình, tạo nên sự mới lạ và ấn tượng đối với người đọc.
- Nguyễn Tuân theo chủ nghĩa xê dịch, vì thế ông không thích cái gì nhợt nhạt, bằng phẳng, yên ổn. Ông là
nhà văn của những tính cách độc đáo, của những tình cảm mãnh liệt. Đã yêu thì yêu đến đắm say, đã ghét thì
ghét đến căm thù. Nguyễn Tuân thường sử dụng bút pháp tương phản gây ấn tượng đối với người đọc về cái
tuyệt mĩ và cái phi thường. Đẹp nhất là những trang viết về thiên nhiên: Cô Tô, Hà Giang, Cà Mau, Sông
Đà,…
c) Nguyễn Tuân có sở trường ở thể tùy bút:
Phong cách phóng khoáng, tự do và có ý thức sâu sắc và cái tôi cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìm
đến thể tùy bút như một tất yếu. Nguyễn Tuân là một nhà tùy bút chuyên nghiệp đã có công đưa thể loại này
phát triển ở nước ta. Tùy bút của Nguyễn Tuân thường lấy nhân vật tôi làm nhân vật trung tâm. Ông gọi đó
là lối chơi độc tấu trong văn học. Tuy nhiên, lối viết này không bao giờ nhàm chán bởi tùy bút của Nguyễn
Tuân thường có yếu tố truyện. Ông phát huy trí tưởng tượng bay bổng và kết cấu tác phẩm có đầu, có cuối,
tạo nên yếu tố truyện hấp dẫn, lôi cuốn.
d) Nguyễn Tuân có khả năng tổ chức câu văn xuôi giàu giá trị tạo hình, lại có nhạc điệu trầm bổng (biết co
duỗi nhịp nhàng).
Văn của Nguyễn Tuân rất giàu hình ảnh và gợi cảm. Cùng một màu xanh nhưng ông diễn tả bằng nhiều
hình ảnh khác nhau. Ví dụ miêu tả nước biển Cô Tô, Nguyễn Tuân viết: “Xanh như màu áo Kim Trọng
trong tiết thanh minh”, “xanh như một trang sử của loài người lúc con người phải viết vào thanh tre”.
Nguyễn Tuân có một kho từ vựng giàu có. Cùng một sự vật, sự việc, ông thường gọi bằng nhiều từ khác
nhau, không bao giờ lặp lại. Ví dụ trong “Tờ hoa”, ông gọi hạt cát là “cái hạt bụi bặm dưới rốn bể”, “hạt
sâm long”, “hại xót”, “hạt đau”, “khối tình con”, “hạt ngọc ngời sáng”. Mỗi câu, mỗi chữ biến hóa linh hoạt
không bao giờ nhàm chán. Nguyễn Tuân đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển của ngôn ngữ Tiếng Việt.
* Kết luận: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân có cơ sở tích cực từ lòng yêu nước, yêu cái đẹp,
trọng nhân cách, cao thượng và tài năng. Với những gì đã cống hiến cho nền văn học Việt Nam, Nguyễn
Tuân xứng đáng là một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóa lớn mãi mãi nằm trong sự biết ơn và trân trọng với
chúng ta.

Các tác gia

4


Dương Phú Việt Anh – 12A5 – THPT Liên Hà

TỐ HỮU (1920 – 2002)
Đề 1: Giới thiệu nội dung tập thơ: “Từ ấy” và “Việt Bắc”
Đề 2: Nêu sự nghiệp sáng tác thơ Tố Hữu
Đề 3: Nêu phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
I. Cuộc đời:
II. Con đường thơ của Tố Hữu
* Các chặng đương thơ của Tố Hữu găn liên với con đường các mạng của nhà thơ. Mỗi chặng thơ lại
phản ánh các chặng đường lịch sử Việt Nam.
1. Chặng 1: Được đánh dấu bằng tập thơ “Từ ấy” (1937 – 1946), gồm có 3 phần: Máu lửa, Xiềng Xích, Giải
phóng.
a) Nội dung:
- “Máu lửa” là tiếng reo náo nức của tâm hồn trẻ bắt gặp lí tưởng Đảng và nguyện suốt đời đi theo lí tưởng
ấy. Nhà thơ kêu gọi mọi người cùng đấu tranh trong “Máu lửa” chống thực dân Pháp để dành độc lập tự do
cho Tổ quốc (Từ ấy).
- “Xiềng xích” gồm những bài thơ được viết khi Tố Hữu ở trong tù. Những bài thơ này ghi lại cuộc đấu tranh
của người chiến sĩ Cách mạng trong nhà tù thực dân, nêu cao ý nghĩa chiến đấu, khát vọng tự do và niềm tin
vào lí tưởng Cộng sản (Khi con tu hú, Nhớ đồng,…).
- “Giải phóng” gồm những bài thơ sáng tác sau khi Tố Hữu thoát khỏi nhà tù thực dân Pháp, tiếp tục hoạt
động cách mạng. Nhà thơ nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi của cách mạng, khẳng định niềm tin vào chế độ mới
(Vui bất tuyệt,…).
b) Nghệ thuật: “Từ ấy” chịu ảnh hưởng rất nhiều của thơ mới. Nhất là cái tôi trữ tình lãng mạn. Ngôn ngữ và
hình ảnh thơ lãng mạn, bay bổng. Nhiều bài thơ của Tố Hữu thấp thoáng giọng điệu thơ mới. Có thể nói Tố
Hữu đã kế thừa tinh hoa thơ mới và đem đến cho thơ ca những ngọt ngào.
2. Chặng 2: Tập thơ “Việt Bắc” (1947 – 1954) gồm 27 bài thơ
a) Nội dung:
- “Việt Bắc” là bản anh hùng ca của cuộc kháng chiến chống Pháp. Có mặt trong cuộc kháng chiến ấy là hình
ảnh nhân dân anh hùng. Hình tượng trung tâm là anh vệ quuốc quân (Hoan hô chiến sĩ điện biên). Nó còn là
hình ảnh người mẹ kháng chiến như (bà bầm”, “bà bủ”, những người mẹ Việt Bắc đảm đang việc nhà cho
con yên tâm đi đánh giặc: “Bầm ơi!”. Đó còn là chị phụ nữ nông dân theo chồng đi “Phá đường quan” và cả
các em thiếu niên đưa thư liên lạc “Lượm”.
- “Việt Bắc” kết tinh những tình cảm lớn của con người Việt Nam trong kháng chiến. Đó là tình yêu quê
hương đất nước (Việt Bắc), tình quân dân cá nước, tình đồng chí, đồng đội (Cá nước). Đặc biệt là tình yêu
với Đảng và Bác Hồ (Sáng tháng năm)
b) Nghệ thuật: Tập thơ “Việt Bắc” rất giàu tính nhân dân. Các hình tượng trữ tình trong tập thơ là hình ảnh
của quần chúng nhân dân lao động. Tố Hữu viết về họ bằng một giọng thơ chân thành với những hình ảnh
thơ giản dị. So với “Từ ấy”, “Việt Bắc” được viết với ngòi bút hiện thực hơn. Cái “tôi” của tác giả hóa thân
trong hình ảnh của cái “ta” chung của cộng đồng đất nước. Đó là một bước tiến về tư tưởng và nghệ thuật
của thơ Tố Hữu trong chặng đường kháng chiến.
3. Chặng 3: Được đánh dấu bằng tập thơ “Gió lộng” 91955 – 1961) gồm 25 bài thơ:
a) Nội dung:
- Tập thơ “Gió lộng” bộc lộ niềm vui phơi phới lạc quan, yêu đời của con người Việt Nam trong công cuộc
xây dựng cuộc sống mới, miền Bắc đi lên xã hội chủ nghĩa (Bài ca xuân 61)
- “Gió lộng” còn thể hiện nỗi nhớ thương nhân dân miền Nam, lòng căm thù giặc, khẳng định niềm tin vào
chiến thắng của Cách mạng (Ba mươi năm đời ta có Đảng)
b) Nghệ thuật: Tập thơ “Gió lộng” vẫn tiếp tục ca ngợi đất nước, nhân dân với những hình ảnh thơ tươi sáng,
lạc quan. Tuy nhiên, tập thơ còn có cái nhìn giản đơn về hiện thực như phần lớn thơ văn thời ấy. Nhưng
niềm tin ở cách mạng lại có tác dụng động viên kịp thời đối với tình hình cách mạng bấy giờ. “Gió lộng” là
tập thơ mang tính Đảng sâu sắc.
4. Chặng 4: Gồm 2 tập thơ: Tập thơ “Ra trận” (1962 – 1971) gồm 34 bài, tập thơ “Máu và hoa” (1972 –
1977) gồm 13 bài.
a) Nội dung:
- Cả 2 tập thơ đều sáng tác trong hoàn cảnh đất nước đang kháng chiến chống đế quốc Mĩ. “ Ba mươi mốt
triệu nhân dân / Tất cả hành quân / Tất cả thành dũng sĩ”. Cả 2 tập thơ đều phản ánh cuộc chiến đấu anh
Các tác gia

5


Dương Phú Việt Anh – 12A5 – THPT Liên Hà
hùng của dân tộc Việt Nam và khái quát tầm vóc của dân tộc trước thời đại Việt Nam đã trở thành đất anh
hùng của thế kỉ XX. Làm nên dân tộc anh hùng những người con ưu tú như anh giải phóng quân ( Bài ca
xuân 68), là những mẹ anh hùng (Mẹ Suốt), là những cô du kích dũng cảm (Tấm ảnh,…), là những em bé
anh hùng (Việt Nam máu và hoa).
- Thơ Tố Hữu ở chặng này đã phản ánh được chủ nghĩa anh hùng Cách mạng của thời đại, những tình cảm
lớn lao của dân tộc như tình yêu nước, nỗi xót đau vô hạn khi Bác Hồ ra đi. Đặc biệt là niềm kiêu hãnh tự
hào của con người Việt Nam trong giờ phút lịch sử trọng đại_Giải phóng miền Nam (Toàn thắng về ta).
b) Nghệ thuật: Cả 2 tập thơ đều mang âm hưởng anh hùng ca rõ rệt. Ngôn ngữ hình ảnh thơ bay bổng, giọng
điệu trang trọng, hào hùng, tính dân tộc là nét nổi bật ở 2 tập thơ này
5. Chặng 5: Tập thơ: “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999).
Hai tập thơ này sáng tác vào những năm đất nước chuyển sang thời kì đổi mới, có khá nhiều vấn đề khiến
Tố Hữu trăn trở nghĩ suy. Giọng thơ của ông thấm đượm chất suy tư về nhân tình thế thái. Nhưng trước sau
Tố Hữu vẫn tin vào lí tưởng Cộng sản, sức mạnh dân tộc và chữ “nhân” như một đức tin. Tố hữu đã để lại
những vần thơ trăng trối thể hiện lẽ sống cao đẹp:
Xin gửi lại cuộc đời yêu quí nhất
Còn mấy vần thơ một nắm tro
Thơ gửi bạn đời tro bón đất
Sống là cho, chết chũng là cho
III. Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu:
1. Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng Cộng sản: Thơ ông tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình – chính trị.
- Tố Hữu là nhà thơ, đồng thời là nhà cách mạng. Với ông, thơ là một hoạt động phục vụ đắc lực cho cách
mạng, cho những nhiệm vụ chính trị được hình thành trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Đúng như
Xuân Diệu đã nhận xét: “Tố Hữu là nhà thơ cách mạng và là nhà cách mạng làm thơ”. Ngay từ buổi đầu,
thơ Tố Hữu đã gắn bó mật thiết với cách mạng (Từ ấy) và vẫy gọi mọi người cùng nhà thơ đi theo cách
mạng (Như những con tàu). Sau này, trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, cái tôi của nhà thơ vẫn một
lòng một dạ đi theo lí tưởng Cộng sản và thể hiện sức mạnh của lí tưởng ấy trên những phương diện khác
nhau. Với Tố Hữu, “tả tình hay tả cảnh, kể chuyện mình hay kể chuyện người, viết về các vấn đề lớn hay về
một sự việc nhỏ (…) là để nói cho được cái lý tưởng cộng sản ấy thôi” (Chế Lan Viên).
- Điều đáng nói là thơ Tố Hữu phục vụ cách mạng những không phải là minh họa chủ trương, chính sách
một cách khô cứng, khuôn sáo mà ngược lại, Tố Hữu nói về những vấn đề cách mạng bằng một nguồn cảm
xúc trữ tình say mê dào dạt và bằng một thế giới hình tượng nghệ thuật tươi sáng chói lọi, mang ý nghĩa
thẩm mĩ của thời đại. Các vấn đề chính trị mà Tố Hữu hay đề cập đến là: Ca ngợi lí tưởng, ca ngợi người
chiến sĩ, biểu dương những tình cảm cách mạng để cổ vũ chiến đấu,… Những vấn đề ấy được Tố Hữu diễn
tả bằng một giọng điệu say mê tâm tình và bằng ngôn ngữ của tình yêu, tình nhân. Nhận xét về điều này,
Chế Lan Viên Viết: “Thơ thố Hữu không phải là thơ tình yêu mà là thơ cách mạng. Nhưng anh nói các vấn
đề bằng trái tim say đắm của một tình nhân. Sức mạnh thơ Tố Hữu là ở trái tim anh.” Người ta gọi Tố Hữu
là nhà thơ trữ tình – chính trị là vì thế. Có thể nói “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất
đỗi trữ tình” (Xuân Diệu)
- Thơ Tố Hữu thường biểu hiện lẽ sóng lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người và cuộc sống cách
mạng. Đọc thơ Tố Hữu, ta cảm nhận được những tình cảm lớn của thời đại như tình yêu nước, yêu Đảng và
yêu Bác Hồ, tình đồng chí, đồng đội, tình nhân loại (Xuân nhân loại). Vào những giờ phút trọng đại huy
hoàng của lịch sử, hiếm có nhà thơ nào ghi lại được niềm vui của dân tộc tức thời và cảm động như Tố Hữu.
Ông đã để lại những câu thơ tuyệt hay về đất nước mình:
Ngẩng đầu lên: trong sáng tuyệt trần
Tháng Tám - mùa thu xanh thắm
Mây nhởn nhơ bay hôm nay ngày đẹp lắm!
Mây của ta, trời thắm của ta
Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
2. Thơ Tố Hữu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:
- Khuynh hướng sử thi: Thơ Tố Hữu chủ yếu đề cập đến vấn đề có ý nghĩa lịch sử có tính chất toàn dân. Cái
tôi trữ tình của nhà thơ thường nhân danh cách mạng, nhân danh cộng đồng và mang phẩm chất của cả dân
tộc. (Bà má Hậu Giang, Tấm ảnh, Người con gái Việt Nam).
- Cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lãng mạn. Thơ ông thường khơi gợi niềm vui, tiềm tin
tưởng vào con đường cách mạng. Từ buổi đầu xuống đường đấu tranh cùng cả dân tộc, thơ Tố hữu là lời vẫy
Các tác gia

6


Dương Phú Việt Anh – 12A5 – THPT Liên Hà
gọi mọi người hãy tin ở một ngày mai tươi sáng. Với Tố Hữu, ra trận là một ngày hội lớn: “Xẻ dọc Trường
Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Người ta gọi Tố Hữu là nhà thơ của tương lai là vì thế.
3. Tố hữu có giọng thơ rất riêng: giọng tâm tình, ngọt ngào, chia sẻ. Người ta gọi Tố Hữu là: “Nhà thơ
của tình thương mến”:
- Giọng thơ tâm tình của Tố Hữu có liên quan đến xứ Huế mộng và thơ. Gia đình và quê hương đã là chiếc
nôi để nuôi dưỡng hồn thơ của Tố Hữu có cái giọng điệu tâm tình ngọt ngào dễ thương, dễ mến của xứ Huế.
Hơn nữa, đây còn là quan niệm về thơ của Tố Hữu. Ông cho rằng: “Thơ là chuyện đồng điệu”, “Thơ là tiếng
nói đồng tình, đồng ý và đồng chí”. Quan niệm này làm cho Tố Hữu có giọng điệu đồng cảm và chia sẻ đối
với người đọc.
- Tố Hữu thường sử dụng các hô ngữ, thán ngữ, tiếng chào, tiếng gọi để tạo nên giọng điệu gần gũi tâm tình.
Ví dụ như:
Đồng bào ơi! Anh chị em ơi!
Hãy giương súng lên cao chào xuân 68.
Hoặc:
Ôi Việt Nam yêu suốt một đời
Nay mới được ôm người trọn vẹn người ơi
Giọng điệu này làm cho thơ Tố Hữu không thể trộn lẫn với bất cứ ai. Điều đáng quí là ngay cả trong
những bài thơ dịch từ tiếng nước ngoài, Tố Hữu vẫn chuyển được giọng điệu ngọt ngào, dễ thương của mình
vào trong đó (Đợi anh về).
4. Thơ Tố Hữu rất giàu tính dân tộc và đại chúng:
- Về nội dung:
+ Thơ Tố Hữu phản ánh hiện thực đời sống của dân tộc với những gian khổ hy sinh cũng như niềm tin
của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
+ Thơ Tố Hữu thể hiện những tình cảm, đạo lí truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nhất là những tình
cảm ân tình thủy chung.
- Về nghệ thuật:
+ Tố Hữu sáng tác nhiều thể thơ như: Tự do, thơ bốn chữ, thơ năm chứ, thất ngôn, lục bát và ông thành
công nhất ở thể thơ lục bát. Tố Hữu đã làm giàu có thêm cho thể thơ của dân tộc (Việt Bắc).
+ Ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ Tố Hữu mang đậm vẻ đẹp truyền thống. Ông vận dụng rất tài tình các
hình ảnh của ca dao, dân ca để diễn đạt các nội dung cách mạng (Tiếng ru).
+ Tiếng Việt rất giàu nhạc điệu. Tố Hữu đã kế thừa tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc để tại nên những câu
thơ mượt mà, du dương và trầm bổng:
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường Bạch Dương sương trắng nắng tràn
(Em ơi... Ba Lan)
Hay:
Anh dắt em vào cõi Bác xưa
Đường xoài hoa trắng nắng đu đưa.
(Theo chân Bác)
* Kết luận: Tố Hữu là một hồn thơ độc đáo, đệ nhất vô nhị của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Đây là
một thành công hiếm có, đáng ghi nhận của thơ ca dân tộc. Đúng là “phải có năng khiếu đặc biệt về thơ,
luôn luôn được rèn luyện và nâng cao, lại phải đứng vững liên tục ở đầu sóng ngọn gió của cuộc đấu
tranh cách mạng mới có được những bài thơ như thơ Tố Hữu” (Hoài Thanh). Tố Hữu xứng đáng là lá
cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam.

Các tác gia

7


Dương Phú Việt Anh – 12A5 – THPT Liên Hà

XUÂN DIỆU (1916 – 1985)
Đề 1 : Nêu những nét chính về con người Xuân Diệu
Đề 2 : Đặc điểm thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám.
Đề 3 : Nêu nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám.
Đề 4 : Giới thiệu sự nghiệp sáng tác văn học của Xuân Diệu.
I. Tiểu sử và con người:
1. Tiểu sử:
2. Con người:
- Xuân Diệu là con của một ông đồ xứ nghệ nên đã kế thừa được tinh thần kiên nhẫn, khổ luyện thành tài. Ở
Xuân Diệu, học tập rèn luyện, lao động và sáng tạo nghệ thuật vừa là khát khao, vừa là quyết tâm khắc khổ.
- Xuân Diệu là con vợ hai, phải xa mẹ từ nhỏ và thường bị hắt hủi. Cho nên ông luôn khát khao tình thương
và sự cảm thông của người đời. Xuân Diệu là người giàu tình thương và biết hy sinh cho người khác.
- Là một trí thức Tây học nên chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây một cách có hệ thống.
- Tất nhiên ông cũng có ảnh hưởng của nền văn học truyền thống nhưng Tây học vẫn có ảnh hưởng sâu đậm
hơn. Xuân Diệu là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.
II. Sự nghiệp văn học:
Xuân Diệu để lại một sự nghiệp văn học rất đồ sộ, phong phú: Thơ ca, văn xuôi, dịch thuật, phê bình nghiên
cứu văn học. Nhưng ông nổi bật nhất là ở lĩnh vực thơ.
1. Thơ Xuân Diệu:
a) Thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám:
- Trước cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu là nhà thơ lãng mạn và được coi là “Nhà thơ mới nhất trong các
nhà thơ mới” (Hoài Thanh), là “Hoàng tử của thi ca Việt Nam hiện đại” (Đoàn Hương). Trước cách mạng
tháng Tám, Xuân Diệu có 2 tập thơ: “Thơ thơ” (1938) và”Gửi hương cho gió” (1945)
- Nội dung thơ Xuân Diệu trước cách mạng:
+ Tư tưởng chi phối toàn bộ sự nghiệp sáng tác văn học nói chung và thơ Xuân Diệu nói riêng là niềm
khát khao giao cảm với đời, là tình yêu dâng trào mãnh liệt đối với cuộc sống. Đúng như Hoài Thanh nhận
xét: “Thơ Xuân Diệu là một nguồn sống dạt dào chưa từng thấy ở chốn non nước lặng lẽ này. Xuân Diệu
say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của
mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết” (Thi nhân Việt Nam). Xuân Diệu đã đưa ra
một quan niệm sống thật mới mẻ, sống mạnh mẽ, sống hết mình, sống chói lọi, huy hoàng và mỗi cá nhân
phải khẳng định mình:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
+ Nhưng càng tha thiết với cuộc đời bao nhiêu thì Xuân Diệu càng cô đơn trước thời gian vô biên và
không gian vô tận bấy nhiêu. Xuân Diệu buồn chán nản, cô đơn, đau xót bẽ bàng trước cuộc đời phũ phàng
trong xã hội thực dân phong kiến 1930-1945. Ông tự nhận mình là: “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới/
Chẳng biết đi đâu, đứng sầu bóng tối”. Tâm hồn nhà thơ là một chiếc đảo cô đơn: “Chiếc đảo hồn tôi rợn
bốn bề” (Nguyệt cầm)
+ Xuân Diệu được mệnh danh là nhà thơ của tình yêu. Ông là nhà thơ số một viết về tình yêu ở Việt Nam và
là người đầu tiên đem đến cho văn chương Việt Nam một quan niệm mới mẻ về tình yêu. Ông cho rằng tình
yêu là lẽ sống. Nó không thể thiếu trong cuộc đời con người (Bài thơ tuổi nhỏ). Tình yêu trong thơ Xuân
Diệu luôn gắn với khát khao thuyệt đích vô biên, một tình yêu không bao giờ thỏa mãn và phải là sự hòa hợp
của tâm ồn và xác thịt (Xa cách). Tình yêu trong thơ Xuân Diệu thường gắn liền với nỗi đau tan vỡ, nỗi cô
đơn. Xuân Diệu đem đến cho đời một tình yêu nồng nàn cháy bỏng. Nhưng khi vấp phải sự hững hờ của
người đời thì tình yêu ấy trở thành “Nước đổ lá khoai”. Nhà thơ tự nhận mình là kẻ: “Dại khờ”, “Yêu sai
duyên và mến chẳng nhằm người” nên đã “Gửi hương cho gió” phũ phàng. Cho nên với ông: “Yêu là chết ở
trong lòng một ít”. Thơ tình Xuân Diệu là đóng góp lớn nhất của ông đối với thơ ca Việt Nam.
- Nghệ thuật thơ Xuân Diệu:
+ Xuân Diệu được mệnh danh là "Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" còn vì ông đã đem đến
cho thơ ca Việt Nam những cách tân vô cùng mới mẻ và táo bạo. Xuân Diệu đã phá vỡ những "khuôn vàng
thước ngọc" của chủ nghĩa cổ điển và có một cách diễn đạt độc đáo chưa từng có. Từ ngôn ngữ đến giọng
điệu, cảm hứng, thơ Xuân Diệu đều có dáng vẻ rất riêng.
Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá
Hai người nhưng chẳng hết bơ vơ
(Trăng)
Các tác gia

8


Dương Phú Việt Anh – 12A5 – THPT Liên Hà
Hay:
Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy
Lòng anh thôi đã cưới lòng em
(Thơ duyên)
Xuân Diệu được mệnh danh là nhà thơ của cảm xúc, cảm giác, nhà thơ của thời gian. Các nhà thơ mới
cũng diễn đạt bằng cảm xúc, cảm giác. Nhưng ở Xuân Diệu được sử dụng sâu sắc hơn, có tính hệ thống để
trở thành phong cách. Xuân Diệu diễn tả rất tinh tế cõi tâm linh của con người: “Hôm nay trời nhẹ lên cao.
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Xuân Diệu hay dùng những động từ và tính từ rất mạnh để diễn tả cảm
xúc. Cảm xúc được biểu hiện qua nhiều giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác. Nhiều
câu thơ của Xuân Diệu rất mới lạ, ví như:
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn
Hay:
Đàn ghê như nước lạnh trời ơi
(Nguyệt cầm)
Xuân Diệu cảm nhận rất tài tình bước đi của thời gian và diễn tả nó bằng cách diễn đạt mới mẻ: “Xuân
đương tới, nghĩa là xuân đương qua/ Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già”. Xuân Diệu thường cảm nhận
được cái kết cục của mọi sự vật khi thời gian trôi qua. Thời gian sẽ mang tất cả ra đi, sẽ phủ bụi mờ lên tất
cả. Vì vậy ông kêu gọi mọi người hãy sống cao độ từng giây, từng phút với hiện tại để tận hưởng cuộc đời
trần thế. Hãy yêu cái của ngày hôm nay, yêu trăm ngàn lần vẫn là chưa đủ vì thời gian trôi đi không trở lại.
+ Xuân Diệu là một trí thức Tây học. Thơ ông rất Tây và chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ tượng trưng Pháp.
Thơ tượng trưng thường đi sâu diễn tả những cảm giác mơ hồ trong tâm linh con người và đề cao thuyết âm
dương tương hợp như ngày và đêm, anh và em, vui và buồn. Cho nên nhìn cảnh vật bao giờ Xuân Diệu cũng
phát hiện ra sự giao hòa, bù trừ, chung đôi (Vội vàng).
+ Đặc điểm thi pháp: Xuân Diệu sáng tạo ra một thế giới hình ảnh xuân tình và xuân sắc, tràn đầy vẻ đẹp
lãng mạn, trẻ trung. Thơ xưa lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho cái đẹp. Còn Xuân Diệu lại lấy con người
làm chuẩn mực cho cái đẹp của vũ trụ, nhân gian: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, “Lá liễu dài
như một nét mi”. Đây là những cách tân mới mẻ có tính nhân văn sâu sắc trong thơ Xuân Diệu. Thơ Xuân
Diệu cũng có những nét truyền thống. Cảnh vật trong thơ ông mang hương hồn của quê hương xứ sở. Thơ
Xuân Diệu có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.
b) Thơ Xuân Diệu sau cách mạng tháng Tám:
- Sau cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu trở thành nhà thơ cách mạng. Ông sáng tác và say sưa viết về Tổ
quốc, nhân dân, Đảng và Bác Hồ, về cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc.
- Tác phẩm tiêu biểu: Ngọn quốc kì (1945), Hội nghị non sông (1946), Riêng và chung (1960), Mũi Cà MauCầm tay (1962), Hồn tôi đôi cánh (1976).
- Là nhà thơ tình yêu, Xuân Diệu vẫn tiếp tục viết về đề tài này. Có điều tình yêu trong thơ Xuân Diệu sau
cách mạng không buồn đau và cô đơn như trước mà gắn liền với sự sum vầy và niềm tin ở tương lai (Biển,
Giọng nói, Đứa con của tình yêu, Hôn cái nhìn,…).
2. Về văn xuôi:
- Văn xuôi Xuân Diệu viết theo bút pháp lãng mạn, giàu hình ảnh và cảm xúc, thể hiện cái tôi yêu đời, yêu
sống mãnh liệt. Các tp chính: Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945)
- Xuân Diệu cũng có một số tác phẩm văn xuôi viết theo bút pháp hiện thực như “Cái hỏa lò” và “Tỏa nhị
Kiều”
3. Xuân Diệu còn thành công ở dịch thuật, phê bình, nghiên cứu văn học: Tác phẩm tiêu biểu: Kí sự
thăm nước Hung, Công việc làm thơ, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Tiếng thơ, Cây đời mãi xanh tươi.
* Kết luận: Xuân Diệu là một tài năng nhiều mặt. Những gì ông đã cống hiến cho văn học Việt Nam là
không ai sánh được. “Xuân Diệu là người đem nhiều cái mới nhất cho thơ ca hiện đại Việt Nam” (Vũ
Ngọc Phan). Ông xứng đáng là một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn.

Các tác gia

9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×