Tải bản đầy đủ

những giải pháp dạy học hiệu quả nội dung hệ sinh thái trong chương trình sinh học 9

1. PHẦN MỞ ĐẦU:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Năm học 2015- 2016 là năm học tiếp tục thực hiện chương trình hành
động của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
04/11/2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Triển khai Kế hoạch số 610/KHUBND ngày 09/6/2015 của UBND tỉnh về việc Thực hiện Chương trình hành
động số 27-CTr/TU ngày 29/9/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị
quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế”; Thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi
đua của ngành. Năm học thứ 5 thực hiện chiến lược phát triển giáo dục và đào
tạo 2011- 2020 và nhiều chính sách phát triển giáo dục của Đảng và nhà nước.
Điều đó đặt ra cho mỗi giáo viên phải không ngừng học tập, tìm tòi, nghiên cứu,
đúc rút kinh nghiệm tìm ra những sáng kiến trong quá trình dạy học nhằm đảm
bảo mục tiêu đổi mới giáo dục của Đảng và nhà nước.
Một trong những giải pháp đổi mới hiện nay là đổi mới phương pháp dạy
học theo quan điểm phát triển năng lực học sinh. Đó là phương pháp không chỉ
chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực
giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng
thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc

học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác
có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập
những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các
chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức
hợp.
Với việc giảng dạy bộ môn sinh học, đặc thù là một bộ môn khoa học
thực nghiệm, việc hình thành các kiến thức, kỹ năng sinh học cho học sinh được
1


hình thành chủ yếu theo phương pháp quan sát và thí nghiệm. Đối với nội dung
Sinh thái học trong chương trình sinh học 9, việc giảng dạy của giáo viên hiện
nay còn mang nặng những phương pháp truyền thống, học sinh thụ động trong
học tập và việc áp dụng kiến thức vào thực hành, liên hệ thực tế chưa nhiều.
Điểm mới đề tài: Đã có nhiều đề tài viết về phương pháp giảng dạy môn
Sinh học nói chung và phần kiến thức sinh thái nói riêng. Song chưa có đề tài
nào nghiên cứu sâu về phương pháp dạy và học nội dung về hệ sinh thái trong
chương trình sinh học 9 theo hướng phát triển năng lực người học. Bản thân tôi
là một giáo viên mới vào nghề, với lòng nhiệt huyết với sự nghiệp giáo dục, tôi
luôn trăn trở, đầu tư thời gian tìm hiểu về nội dung, phương pháp dạy học cũng
như chuẩn kiến thức, kỹ năng mà học sinh cần đạt được, đặc biệt đối với nội
dung về hệ sinh thái trong chương trình sinh học 9. Tôi đã phát hiện, tích lũy
nhiều giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học nội dung về Hệ sinh
thái, vì thế tôi chọn nghiên cứu đề tài “những giải pháp dạy học hiệu quả nội
dung hệ sinh thái trong chương trình sinh học 9” Với mong muốn đưa luồng
gió mới được đóng góp một phần kinh nghiệm cùng với đồng nghiệp nhằm nâng
cao chất lượng dạy học bộ môn, đồng thời giúp học sinh rèn luyện, hình thành
những phẩm chất, năng lực, kỹ năng cần thiết cho học sinh.
1.2. Phạm vi áp dụng của sáng kiến:
Đề tài này nghiên cứu những giải pháp tối ưu, góp phần đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng phát huy năng lực người học đối với nội dung kiến
thức Chương 2: Hệ Sinh thái - trong Phần: Sinh vật và môi trường – Sinh học 9.
Đối tượng áp dụng: Giáo viên giảng dạy bộ môn sinh học và học sinh lớp
9.
Đề tài được áp dụng nghiên cứu thực hiện tại lớp 9A, 9B , 9C ở trường
THCS nơi tôi đang giảng dạy.

2



2. NỘI DUNG
2.1. Thực trạng nội dung cần nghiên cứu:
2.1.1 Các văn bản chỉ đạo về đổi mới giáo dục:
Hiện nay, Đảng và nhà nước đang tích cực chỉ đạo về đổi mới giáo dục
nói chung và giáo dục trung học nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản,
đặc biệt trong các văn bản sau đây:
3


- Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 qui định: "Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học
sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học,khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh".
- Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI “Đổi mới chương
trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo
hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục
lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực
sáng tạo, kĩ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã
hội”.
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng
kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều,
ghi nhớ máy móc”; “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra
và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc
thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu
chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận.
Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ,
cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh
giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội”.
- Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo
Quyết định 711/QĐ–TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ:
"Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn
luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng
lực tự học của người học"; “ kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình
giáo dục với kết quả thi".
4


- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo xác định ”Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các
yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm
chất, năng lực của người học”;
2.1.2. Về phía giáo viên
Đối với việc giảng dạy bộ môn Sinh học, hiện nay giáo viên đã được tập
huấn về đổi mới phương pháp dạy học. Đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy
học theo hướng phát huy năng lực người học. Đó là phương pháp ngoài cách
dạy học thuyết trình cung cấp kiến thức thì tổ chức hoạt động dạy học thông qua
trải nghiệm, giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn. Qua các hoạt động học tập,
học sinh sẽ được hình thành và phát triển không phải một loại năng lực mà là
được hình thành đồng thời nhiều năng lực.
Với nội dung về hệ sinh thái, giáo viên có thể lựa chọn nhiều hình thức,
phương pháp dạy học phong phú bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng để hình
thành, phát triển năng lực cho học sinh. Tuy nhiên, qua hai năm trực tiếp giảng
dạy sinh học 9 và sự chia sẻ của các đồng nghiệp, bản thân tôi nhận thấy việc
giảng dạy, học tập nội dung Hệ sinh thái trong chương trình sinh học 9, vẫn gặp
nhiều khó khăn như:
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường còn thiếu không đáp ứng
được yêu cầu thực tế của bộ môn.
Phòng học bố trí theo phương pháp dạy học cũ, nên việc tổ chức các hoạt
động trong một tiết học gặp nhiều khó khăn.
Nhiều giáo viên ngại khó, không mạnh dạn đổi mới phương pháp, không
chú trọng tổ chức các hoạt động học tập tích cực cho học sinh. Trong dạy học
vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức một chiều. Do đó việc hình thành các
năng lực cho học sinh đã yếu lại càng yếu hơn.
Thời lượng phân phối chương trình cho nội dung hệ sinh thái gồm 4 tiết lí
thuyết và 2 tiết thực hành với nội dung kiến thức khá nhiều nên giáo viên khó tổ
5


chức các hoạt động phong phú cho học sinh tham gia. Việc rèn luyện kĩ năng
sống, kĩ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả
năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm. Việc ứng dụng
công nghệ thông tin – truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được
thực hiện rộng rãi và hiệu quả.
Với 2 tiết thực hành, thời lượng 90 phút, việc tổ chức cho các em dã ngoại
học tập, áp dụng những kiến thức của mình vào thực tế còn nhiều khó khăn, đặc
biệt công tác tổ chức đối với những lớp có số lượng học sinh đông.
2.1.3. Về phía học sinh:
Nhiều học sinh vẫn quen với phương pháp học cũ, thầy giảng trò chép,
học vẹt máy móc. Tư tưởng học tập của học sinh vẫn còn chưa tiến bộ, chưa có
ý thức tự giác, tích cực trong các hoạt động học tập, thảo luận nhóm.
Nhiều học sinh học kém, không nắm vững kiến thức nhiều môn nên việc
vận dụng để suy luận, liên hệ hay vận dụng kiến thức liên môn hay vận dụng
liên hệ thực tế gặp nhiều khó khăn.
Nhiều học sinh chưa năng động, tích cực trong các hoạt động giáo viên tổ
chức. Việc nắm bắt kiến thức, hoạt động học tập của các em còn phụ thuộc
nhiều vào sách giáo khoa, chưa khai thác hiệu quả các nguồn tài liệu khác.
Chính vì vậy các năng lực phát triển cho học sinh chưa nhiều, chưa đạt được
hiệu quả mong muốn.
Qua khảo sát về chất lượng và yêu thích học tập môn Sinh học vào đầu
năm kết quả như sau:
a. Học sinh yêu thích môn học:
- Các lớp nghiên cứu:
Yêu thích: 45,9%

Bình thường: 37,8%

Không thích: 16,3 %

Bình thường: 38,7%

Không thích: 16,1 %

- Lớp đối chứng:
Yêu thích: 45,2%

6


b. Kết quả khảo sát chất lượng
Lớp

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

0

9A

4

12.9

8

25.8

13

41.9

6

19,4

0

9B

3

10

7

23,3

14

46.7

6

20

0

7

11.5

15

24.6

27

44.2

12

19,7

0

3

9.6

9

29

14

45.2

6

19.4

0

Tổng
9C (Lớp
đối
chứng)

Như vậy ở cả lớp nghiên cứu và lớp đối chứng tỷ lệ học sinh yêu thích bộ
môn khá ít, nhiều em không quan tâm và chán ghét bộ môn. Tỷ lệ học sinh khá
giỏi thấp, tỷ lệ học sinh yếu cao.
Với thực trạng đó, trong năm học vừa qua bản thân tôi đã tích cực tìm tòi
nghiên cứu để tìm ra những giải pháp tối ưu, hiệu quả nhất trong việc giảng dạy
bộ môn sinh học nói chung và phần nội dung Hệ sinh thái nói riêng.
2.2. Các giải pháp:
2.2.1. Tạo hứng thú học tập cho học sinh
Để giờ dạy đạt được hiệu quả, trước hết người giáo viên phải tạo được
hứng thú học tập cho học sinh, cuốn hút các em vào giờ học, để từ đó các em
yêu thích môn Sinh học hơn. Và theo tôi, khi các em đã yêu thích thì tâm thế
trong tiết học sẽ thoải mái hơn, học sinh sẽ hăng say xây dựng, nghiên cứu bài
học. Từ đó lĩnh hội tri thức một cách nhanh chóng, vận dụng hiệu quả vào thực
tế cuộc sống.
Để làm tốt điều này, qua mỗi bài tôi đã phát huy ưu thế của việc đặt vấn
đề cho bài học, kích thích cho các em sự tò mò, muốn khám phá. Đồng thời đưa
ra những vấn đề thực tế về hệ sinh thái ở địa phương, lồng ghép kể các câu
chuyện. Từ đó giúp các em không bị nhàm chán mà yêu thích bộ môn hơn.
7


Ví dụ: để vào bài hệ sinh thái: Tôi chiếu một đoạn video về 1 hệ sinh thái
đẹp ở địa phương rồi giới thiệu bài học.
2.2.2 Xây dựng bảng mô tả các năng lực cần đạt cho học sinh
Để thuận tiện cho việc dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học
sinh thì việc đầu tiên cần bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng để xác định rõ nội
dung kiến thức cần truyền tải cho học sinh, những kỹ năng, năng lực cần hình
thành phát triển cho học sinh thông qua nội dung kiến thức đó. Để giải quyết
việc này, theo tôi việc xây dựng ma trận kiến thức, kỹ năng, năng lực ở từng
phần nội dung là việc làm hết sức cần thiết. Trong năm học qua, bản thân tôi đã
xây dựng ma trận mô tả kiến thức, các năng lực cần đạt qua nội dung Hệ sinh
thái như sau:
MỨC ĐỘ NHẬN THỨC
Các KN/NL hướng

Nội dung
NHẬN

THÔNG

BIẾT

HIỂU

1. Quần

Nêu được

thể sinh

định nghĩa

vật

quần thể,
một

số

đặc trưng
của quần
thể.

Lấy ví dụ
về quần thể.

tới

VẬN

VẬN

DỤNG

DỤNG

THẤP

CAO

Phân

biệt Ý

quần

thể của

sinh

vật trưng

với

một giới

nghĩa -

Các

năng

lực

đặc chung: giao tiếp, sử
về dụng ngôn ngữ, tự
tính, nghiên cứu, …

nhóm

cá mật độ của - Các năng lực
thể
ngẫu quần
thể riêng: tri thức sinh
nhiên.
đối với sản học, quan sát, so
Phân biệt
xuất.
sánh, vận dụng thực
các dạng
tế…
tháp
thể
hiện nhóm
tuổi

trong

8


quần thể.
Đặc điểm Nguyên
quần

-

thể nhân

người

Các

năng

lực

của

chung: giao tiếp, sử

những điểm

dụng ngôn ngữ, tự

khác

giữa

quần

thể

2. Quần

người



thể người

quần

thể

sinh

vật

Ý
Phân
các

Các

năng

lực

hiện riêng: tri thức sinh

dạng thực

tháp tuổi

nghiên cứu, …

việc -

biệt của

lệnh học, quan sát, so

pháp
dân số.

khác
Hậu quả của
việc

nghĩa

sánh, vận dụng thực
tế…

tăng

dân số.
Nêu được
khái niệm
quần xã

-

Phân biệt

Ý nghĩa

sinh vật.

của cân
bằng sinh
học.

xã sinh

các đặc

vật

trưng của

Mối quan

quần xã

hệ giữa

lực

dụng ngôn ngữ, tự

quần thể

sinh vật và

năng

chung: giao tiếp, sử

quần xã và

3. Quần

Các

nghiên cứu, …
-

Các

năng

lực

riêng: tri thức sinh
học, quan sát, so

quần xã và

sánh, vận dụng thực

ngoại cảnh.

tế…

4. Hệ

Nêu được

Đọc,

sinh thái

khái niệm:

chuỗi lưới biện

pháp chung: giao tiếp, sử

hệ

thức ăn

dụng dụng ngôn ngữ, tự

sinh

lập Liên hệ các tận

Các

năng

thái,

nguồn thức nghiên cứu, …

chuỗi,

ăn

lưới thức
ăn,

lực

trong - Các năng lực
sản xuất
riêng: Quan sát, so
sánh, vận dụng thực
9


tế…
Xác

định Xây dựng Các

được

các các chuỗi, pháp

thành phần lưới
trong
sinh thái

5.
hành

Thực
hệ

sinh thái

biện -

Các

năng

lực

bảo chung: giao tiếp, sử

thức vệ hệ sinh dụng ngôn ngữ, tự

hệ ăn trong hệ thái.

nghiên cứu, …

sinh thái.

-

Xác

năng

lực

riêng:

Quan

sát,

một số đặc

thực

địa,

trưng

của

hợp…

quần



trong

hệ

sinh

thái

qua

số

lượng
loài

định

Các

các
sinh

vật.

2.2.3 Đổi mới phương pháp dạy và học
Việc đầu tiên trong đổi mới phương pháp là tích cực truyền tải tinh thần
học tập theo phương pháp mới cho học sinh. Việc đổi mới phương pháp dạy và
học là một thuật ngữ không còn xa lạ đối với học sinh. Song nền tảng dạy – học
cũ vẫn còn, học sinh trên địa bàn có hoàn cảnh khó khăn, việc tiếp cận phương
pháp học mới vẫn còn nhiều mơ hồ, học sinh vẫn chưa thấy được ý nghĩa thiết
thực của việc đổi mới. Chính vì vậy, bản thân tôi đã tích cực truyền tải tinh thần
chỉ đạo, quan điểm đổi mới của Đảng và nhà nước lồng ghép trong các tiết học.
Khuyến khích, động viên học sinh tích cực chủ động trong học tập, phát huy hết
mọi năng lực vốn có của bản thân đồng thời hình thành những năng lực của con
người mới, đáp ứng nhu cầu của thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc
thay đổi hệ ý thức cho học sinh có ý nghĩa hết sức quan trọng, học sinh từ chỗ
10

tổng


thay đổi ý thức sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn, xa hơn về việc học tập của bản thân.
Từ đó có những chuyển biến trong mọi hoạt động học tập, góp phần hình thành
phát triển các năng lực một cách nhanh chóng, hoàn thiện và hiệu quả. Qua một
thời gian, bản thân tôi nhận thấy học sinh có những chuyển biến rõ rệt, tích cực
tham gia các hoạt động do giáo viên tổ chức, số học sinh yếu kém có ý thức học
tập hơn, thường xuyên phát biểu ý kiến và tham gia trao đổi trong các hoạt động
nhóm.
Khi thực hiện đề tài tôi đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học. Sử
dụng linh hoạt các phương pháp. Trong năm học vừa qua, bản thân tôi đã sử
dụng những phương pháp sau để dạy học nội dung hệ sinh thái.
2.2.3.1. Sử dụng phương pháp cải tiến, kết hợp các phương pháp dạy học
truyền thống
Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu
và nội dung dạy học. Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu,
nhựơc điểm và giới hạn sử dụng riêng. Vì vậy việc phối hợp đa dạng các
phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương
hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học.
Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình
thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những
chức năng riêng. Hạn chế tối đa dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương
pháp thuyết trình.
Với chương Hệ sinh thái, với nhiều nội dung kiến thức mới, trừu tượng,
tôi đã kết hợp một số phương pháp như quan sát, vấn đáp gợi mở, thuyết trình…
trong việc hình thành một số khái niệm cho học sinh.
Ví dụ: Dạy khái niệm quần thể sinh vật
Mục tiêu: HS nắm được khái niệm quần thể sinh vật và các dấu hiệu cơ
bản để nhận biết quần thể.
Chuẩn bị: Giáo viên: Tranh ảnh về một số ví dụ về quần thể sinh vật và 1
11


số ví dụ không phải là quần thể sinh vật ( Đàn cá chép trong chậu bán ở chợ…)
Tiến trình:
+ Giáo viên: Thuyết trình đặt vấn đề về quần thể sinh vật: Ngoài các cấp
độ sinh học: phân tử, tế bào, cơ thể mà các em đã được nghiên cứu, còn có
những cấp độ cao hơn. Một trong các cấp độ đó là quần thể.
Cho học sinh quan sát hình ảnh về 1 đàn trân rừng, 1 đàn kiến, 1 rừng
thông. GV thông báo với HS đó là những ví dụ về quần thể sinh vật.
Yêu cầu HS nghiên cứu thông tin phần I (SGK) và quan sát các quần thể
sinh vật trên tìm ra những dấu hiệu chung giữa các quần thể đó về: số lượng,
thành phần loài, khu vực sống, thời gian sống và quan hệ sinh sản của các cá thể
trong quần thể?
+ HS hoạt động cá nhân tìm các dấu hiệu. Cá nhân trình bày đáp án, các
bạn khác nhận xét bổ sung.
+ GV: Từ những dấu hiệu đó, các em cho biết quần thể sinh vật là gì?
+ HS trả lời, hình thành khái niệm. Lấy các ví dụ khác minh họa.
+ GV mở rộng: một lồng gà, một chậu cá chép bán ở chợ có phải là quần
thể sinh vật không, tại sao?
+ HS vận dụng kiến thức từ các dấu hiệu để trả lời.
2.2.3.2. Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải
quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng
nhận biết và giải quyết vấn đề. Học được đặt trong một tình huống có vấn đề,
đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn
đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức. Dạy học
giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức
của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ
tự lực khác nhau của học sinh.
12


Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn,
cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn. Trong thực tiễn dạy học hiện
nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đề khoa học
chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn. Tuy nhiên nếu
chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn
thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực
tiễn. Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lí luận dạy học còn xây dựng
quan điểm dạy học theo tình huống.
Ví dụ: Để dạy phần kiến thức về kiến thức tăng dân số và phát triển xã
hội. Bản thân tôi đặt tình huống:
Ở những nước có tháp dân số trẻ - dạng tháp phát triển chúng ta có thể
thấy được trong tương lai có nguồn lao động dồi dào, thuận lợi cho việc phát
triển kinh tế xã hội. Vậy khi tỉ lệ sinh cao, tăng trưởng dân số nhanh liệu có
thuận lợi không ?
Đây là tình huống mâu thuẫn, có vấn đề, kích thích học sinh vận dụng
kiến thức, suy nghĩ để trả lời, giải quyết tình huống.
Giáo viên: để giải quyết câu hỏi này, các em làm bài tập SGK trang
145/SH9: Theo em, tăng dân số quá nhanh, có thể dẫn đến những trường hợp
nào trong các trường hợp sau?
a. Thiếu nơi ở

b. Thiếu lương thực

c. Thiếu trường học, bệnh

viện
d. Ô nhiễm môi trường

e. Chặt phá rừng

f. Chậm phát triển kinh tế xã

hội
g. Tắc nghẽn giao thông

h. Năng suất lao động giảm

Học sinh trả lời. Từ đó thấy được: khi phát triển dân số quá nhanh gây ra
nhiều vấn đề xấu đối với sự phát triển.
GV: Để hạn chế ảnh hưởng xấu khi phát triển dân số quá nhanh, mỗi quốc
gia cần làm gì? Liên hệ ở Việt Nam.
13


HS trả lời: phải phát triển dân số hợp lý. Ở Việt Nam thực hiện tốt pháp
lệnh dân số.
2.2.3.3.Vận dụng dạy học theo tình huống
Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nội dung liên quan
đến nhiều môn học hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn. Vận
dụng dạy học theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng để
gắn việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục
tình trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn.
Ở phần Hệ sinh thái bản thân tôi đã xây dựng những chủ đề để các nhóm
học sinh tìm hiểu, nghiên cứu, chuẩn bị trước đó thuyết trình trước lớp, ví dụ
như: Chủ đề hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái VAC, Hệ sinh thái vườn
trường… Ở các chủ đề, có hệ thống các câu hỏi định hướng, giúp các em có thể
áp dụng những kiến thức được học vào thực tế những hệ sinh thái xung quanh
mình. Từ đó có ý thức hơn trong việc bảo vệ các hệ sinh thái xung quanh mình
sinh sống.
2.2.3.4. Xây dựng các tiết học tích hợp, tham quan học tập kết hợp với
hoạt động ngoại khóa cho học sinh.
Đối với nội dung hệ sinh thái, bản thân tôi xác định việc ngoại khóa, cho
các em tham quan trực tiếp các hệ sinh thái ở địa phương có ý nghĩa quan trọng
giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách chắc chắn, đồng thời đó là cơ hội cho
các em rèn luyện các kỹ năng cần thiết của một học sinh như ý thức tổ chức kỷ
luật, ý thức tập thể, khả năng hoạt động nhóm hay cá nhân, kỹ năng vận dụng
kiến thức vào thực tế … Không chỉ thế, qua hoạt động ngoại khóa, học sinh biết
về địa phương, các giá trị lợi ích về hệ sinh thái nhiều hơn từ đó bồi dưỡng cho
các em lòng yêu thiên nhiên và yêu quê hương đất nước nhiều hơn. Trong giảng
dạy tôi đã tiến hành tổ chức cho học sinh tham quan hệ sinh thái rừng phòng hộ
của địa phương trong thời lượng 2 tiết thực hành: tiết 54 và tiết 55.
Để chuẩn bị tốt cho tiết học ngoại khóa, tham quan học tập bản thân tôi đã
xây dựng kế hoạch chi tiết ngay từ đầu năm học, trong đó có liên hệ với chi
14


đoàn nhà trường để hỗ trợ thêm 2 đồng chí tham gia công tác tổ chức, quản lý
học sinh. Bản thân tôi cũng phối hợp với cán bộ phụ trách nông – lâm nghiệp
của địa phương để tham gia, cung cấp thêm thông tin về các hệ sinh thái ở địa
phương cho học sinh rõ. Kế hoạch được thông qua tổ chuyên môn và lãnh đạo
nhà trường.
Sau đó phổ biến kế hoach chính thức cho các học sinh và các thành viên
tham gia, thời gian và địa điểm tập trung, phương tiện đi lại. Phổ biến những nội
dung học sinh cần chuẩn bị và phiếu thu hoạch cho học sinh.
Tiến trình buổi tham quan học tập như sau:
- Bước 1, GV tổ chức tập hợp. Quán triệt tinh thần, mục đích, công tác tổ
chức theo kế hoạch và xuất phát tới địa điểm thực hành. ( 15 phút)
- Bước 2: Học sinh tiến hành tham quan: ( 40 phút)
Những nội dung yêu cầu học sinh tìm hiểu trong quá trình tham quan hệ
sinh thái đó là:
+ Điều tra các thành phần của hệ sinh thái theo các bảng 51.1 – 51.4 SGK
Sinh học 9. Xác định thành phần sinh vật trong khu vực quan sát.
+ Thiết lập các chuỗi thức ăn và xây dưng 1 lưới thức ăn.
+ Cảm tưởng qua buổi thực hành, tham quan.
+ Đề xuất các phương pháp để bảo vệ hệ sinh thái mà em được thực tế.
(Trong quá trình học sinh tham quan, có sự giới thiệu một số vấn đề liên
quan của cán bộ nông – lâm nghiệp xã.)
- Bước 3: Học sinh tiến hành thảo luận, đàm thoại về các nội dung thu
thập được theo nhóm ( Tổ): ( 10 phút)
- Bước 4: Học sinh đại diện các nhóm trình bày kết quả thực hành theo
các nội dung. Lớp thảo luận góp ý: ( 10 phút)
- Bước 5: Giáo viên đánh giá, nhận xét buổi thực hành ngoại kháo, tuyên
dương những học sinh, nhóm tích cực, lưu ý những vấn đề rút kinh nghiệm ( 5
15


phút).
- Bước 6: tổ chức cho học sinh quay trở về nhà trường. ( 10 phút)
2.2.3.5.Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc
tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận
thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp
tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, ….Qua nội dung hệ sinh thái.
Bản thân tôi đã tích cực luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung
và các phương pháp học tập trong bộ môn như thực địa, xử lý mẫu, quan sát…
Đồng thời định hướng cho các em tự học, tìm kiếm thông tin trên mạng. Tôi đã
giới thiệu cho các em các trang thông tin về kiến thức hệ sinh thái như:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hệ_sinh_thái
https://dayhocblog.wordpress.com/2013/03/16/he-sinh-thai/
www.sinhhocvietnam.com/ …. và nhiều trang web khác.
2.2.4 Tăng cường sử dụng bản đồ tư duy để sơ đồ hóa, củng cố kiến
thức cho học sinh.
Việc sử dụng bản đồ tư duy cuối mỗi tiết học giúp học sinh có thể khái
quát lại toàn bộ nội dung bài học, giúp học sinh ghi nhớ tốt hơn, có hệ thống hơn
các kiến thức. Trong việc sử dụng bản đồ tư duy, bản thân tôi luôn tạo điều kiện
cho học sinh tự xây dựng bản đồ tư duy của mình, trên cơ sở ý kiến của các bạn
trong lớp và hướng dẫn của giáo viên.
Một số bản đồ tư duy mà học sinh và bản thân tôi đã sử dụng trong quá
trình giảng dạy nội dung Hệ sinh thái:
+ Khái quát nội dung chương:

16


+ Nội dung bài Quần thể sinh vật:

+ Nội dung bài quần xã sinh vật:

17


+ Nội dung Hệ sinh thái:

2.2.5 Sử dụng hiệu quả các phương tiện thiết bị hiện có:
Ngay từ đầu năm học đã rà soát các phương tiện, thiết bị dạy học hiện có
của nhà trường để khai thác, phát huy tối đa hiệu quả của chúng trong hoạt động

18


dạy học. Đồng thời tăng cường sử dụng phương tiện dạy học hiện đạt và công
nghệ thông tin hợp lí hỗ trợ dạy học.
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương
pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong
dạy học. Việc sử dụng các phương tiện dạy học cần phù hợp với mối quan hệ
giữa phương tiện dạy học và phương pháp dạy học. Hiện nay, việc trang bị các
phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường.
Bản thân tôi đã khai thác tối đa hiệu quả của máy chiếu Projector hay màn hình
ti vi LCD 52 inch của nhà trường trong việc trình chiếu các hình ảnh, vi deo
minh họa.
Ở nội dung hệ sinh thái, bản thân tôi sử dụng nhiều website, công cụ tìm
kiếm để khai thác thông tin, hình ảnh, video, các bài giảng Elearning giới thiệu
về quần thể, quần xã, hệ sinh thái… Điều này rất hữu dụng và có tác dụng lớn
đối với học sinh, giúp học sinh có thể tự học ở nhà. Góp phần tăng lòng yêu
thích bộ môn đồng thời giải quyết được những khó khăn về thiết bị dạy học
trong nhà trường.

2.2.6. Tích cực trong việc tự học, tự nghiên cứu:
Giáo dục hiện nay đòi hỏi mỗi giáo viên không chỉ giỏi về chuyên môn
của mình mà đòi hỏi phải am hiểu nắm bắt các kiến thức mang tính chất thời sự ,
kiến thức các bộ môn khoa học khác, am hiểu pháp luật… để có thể tích hợp,
vận dụng giải quyết các vấn đề. Với nội dung hệ sinh thái, bản thân tôi đã tìm
hiểu nhiều nội dung kiến thức liên quan ở các bộ môn khác để tích hợp liên môn
trong các bài học như:
+ Lịch sử: Kiến thức về sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam qua các
giai đoạn lịch sử. Ảnh hưởng của chiến tranh đối với các hệ sinh thái, môi
trường…

19


+ Địa lý: Dân số và sức ép dân số với tài nguyên môi trường, di dân và sự
bùng nổ dân số ( Trong chương trình địa lý 7), Địa lý dân cư và phát triển tổng
hợp kinh tế và bảo vệ tài nguyên môi trường ( Trong chương trình Địa lý 9)…
+ Vật lý: Tính chất và sự biến đổi của các nhân tố vô sinh của môi trường:
Nước, không khí, độ ẩm, nhiệt độ…
+ Các văn bản luật bảo vệ hệ sinh thái rừng, biển, hệ sinh thái nông
nghiệp…
+ Công nghệ: Quy trình sản xuất và bảo vệ môi trường trong chăn nuôi,
lâm nghiệp, nuôi thủy, hải sản….

Để kiểm nghiệm hiệu quả các giải pháp trên sau khi học phần Hệ sinh
thái, tôi đã tiến hành khảo sát về lòng yêu thích bộ môn và kiểm tra kết quả học
tập của học sinh. Các em làm bài khá tốt, số lượng học sinh khá giỏi tăng. Sau
đây là bảng đối chứng về kết quả học tập của các em:
a. Học sinh yêu thích môn học:
- Lớp áp dụng:
Yêu thích: 61,3%

Bình thường: 32,2%

Không thích: 6,5 %

Bình thường: 35,5%

Không thích: 16,1 %

- Lớp đối chứng:
Yêu thích: 48,4%

b. Kết quả khảo sát chất lượng
Lớp

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

0

9A

6

19.4

12

38.7

10

32.3

3

9.6

0

9B

5

16.7

12

40

11

36.7

2

6.6

0

Tổng

11

18

24

39.3

22

36.1

5

8.2

0

9C (Lớp

3

9.6

10

32.3

12

38.7

6

19.4

0
20


đối
chứng)
So sánh kết quả giữa những lớp áp dụng các biện pháp mới và lớp đối
chứng và so với kết quả đầu năm học tôi thấy tỷ lệ học sinh khá giỏi ở lớp
nghiên cứu tăng lên rõ rệt, tỷ lệ khá giỏi đạt 57.3%, tỷ lệ học sinh trung bình và
yếu giảm. Trong khi lớp đối chứng không chuyển biến nhiều. Bên cạnh các lớp
áp dụng các phương pháp trên, học sinh có thái độ tốt hơn, yêu thích bộ môn
hơn, việc hình thành phát triển các năng lực của học sinh đặc biệt là các năng
lực chung như giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề... cũng nhiều hơn.

3. PHẦN KẾT LUẬN

21


3.1. Ý nghĩa của đề tài
Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về
phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý.
Có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với những cách tiếp
cận khác nhau, trên đây chỉ là một số phương pháp mà tôi đã áp dụng và thấy
có hiệu quả trong giảng dạy nội dung kiến thức hệ sinh thái.
Qua kiểm tra khảo sát trên 2 lớp áp dụng những giải pháp trên và một lớp
đối chứng , tôi nhận thấy học sinh có chuyển biến rõ rệt và đã tạo được hứng thú
học tập cho học sinh đối với bộ môn nói chung và đối với nội dung kiến thức về
hệ sinh thái nói riêng. Trong các giờ học, học sinh luôn tự giác tìm tòi kiến thức
được thể hiện qua các hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Các tiết học
trở nên sôi nổi tránh được sự nhàm chán, học sinh hứng thú tích cực hơn trong
học tập.
Tóm lại, việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện
thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ
chức, quản lý. Có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với
những cách tiếp cận khác nhau, trên đây chỉ là một số phương pháp mà tôi đã
áp dụng và thấy có hiệu quả trong giảng dạy nội dung kiến thức hệ sinh thái.
3.2. Kiến nghị đề xuất
Để dạy học tốt nội dung Hệ sinh thái trong chương trình Sinh học 9, bản
thân tôi có một số kiến nghị sau:
3.2.1. Đối với giáo viên.
- Cần có kế hoạch giảng dạy rõ ràng, xây dựng bảng mô tả kiến thức, kỹ
năng, năng lực cần đạt cho mỗi nỗi dung dạy học.
- Thường xuyên sử dụng, cải tiến đồ dùng, phương tiện, khắc phục mọi
khó khăn. Tích cực khai thác thông tin, hình ảnh, vi deo, phim tư liệu... về hệ
sinh thái để giới thiệu, cung cấp cho học sinh tham khảo.

22


- Thực hiện nghiêm túc đầy đủ những yêu cầu về đổi mới phương pháp
dạy học theo chương trình và SGK mới.
- Sau mỗi bài học phải có nhận xét các ưu điểm, nhược điểm, những bài
học kinh nghiệm để cho các tiết học sau đạt hiệu quả cao hơn.
3.2.2. Đối với học sinh
- Phải có đầy đủ phương tiện học tập, sách giáo khoa, vở bài tập....và các
nội dung liên quan đến bài học.
- Phải chủ động, tích cực, tự giác trong các giờ học. Chuẩn bị đầy đủ mẫu
vật, phương tiện, dụng cụ theo yêu cầu của giáo viên.
- Tích cực phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường để làm
phong phú phú hơn các hoạt động học tập bộ môn.
- Đối với các tiết tham quan dã ngoại học tập, cần khảo sát và xây dựng
kế hoạch chi tiết sớm, trình phê duyệt của nhà trường ngay từ đầu năm học.
3.2.3. Đối với các cơ quan quản lý giáo dục
- Thương xuyên tổ chức các buổi hội thảo đổi mới phương pháp để giáo
viên có dịp trao đổi, cọ xát, học hỏi kinh nghiệm nhiều hơn.
- Tăng cường hỗ trợ các trang thiết bị, đồ dùng dạy học đảm bảo đáp ứng
nhu cầu dạy học.
- Có sự nghiên cứu trong việc thiết kế phòng học, bàn ghế phù hợp hơn
với nhu cầu đổi mới dạy học, đặc biệt phù hợp với nhiều hình thức dạy học : như
học nhóm, hoạt động cá nhân, nghe thuyết trình…
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm mà bản thân tôi tích lũy được trong
những năm học vừa qua, những vấn đề bản thân tôi trình bày trong phạm vi đề
tài này chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế, song nó đã phần nào đem
lại kết quả trong giảng dạy bộ môn. Kính mong hội đồng khoa học nhà trường
và cấp trên, các thầy giáo cô giáo góp ý để sáng kiến được hoàn thiện hơn, góp

23


phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường nói chung và bộ môn
Sinh học nói riêng.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

PHẦN XÁC NHẬN
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
………………
24


……………………………………………………………………………………
………
……………………………………………………………………………………
………
……………………………………………………………………………………
………
……………………………………………………………………………………
………
……………………………………………………………………………………
………
……………………………………………………………………………………
………
……………………………………………………………………………………
………
……………………………………………………………………………………
………
……………………………………………………………………………………
………
……………………………………………………………………………………
………
……………………………………………………………………………………
………
……………………………………………………………………………………
………
……………………………………………………………………………………
………

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×