Tải bản đầy đủ

Khoa học và công nghệ

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
I.

Mở đầu :
Bước vào thiên niên kỷ mới, khoa học và công nghệ đã trở thành yếu tố
quan trọng của sự phát triển trong sản xuất cũng như đời sống con người. Đối với
mỗi quốc gia, khoa học – công nghệ còn là tiêu chí đáng giá trình độ phát triển của
nước đó. Điều này đã được phản ánh rõ trong việc hoạch định các chính sách và
chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế của nhiều nước trên thế giới.
Tuy nhiên, tùy thuộc và trình độ phát triển của từng nước mà xây dựng chiến lược,
chính sách phát triển khoa học – công nghệ riêng với từng giai đoạn phát triển cụ
thể thích hợp với hoàn cảnh, điều kiện vật chất của mỗi quốc gia kể cả những nước
phát triển và những nước đang phát triển, đó chính là quan điểm : “Sự phát triển
khoa học và công nghệ là một phương hướng quan trọng mới, có tính quyết định
trong việc phát triển kinh tế quốc gia”. Bởi vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm xây
dựng các chính sách và chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của các nước
trên thế giới và khu vực để áp dụng, pháy huy một cách sáng tạo vào hoàn cảnh
đất nước mình và có ý nghĩa to lớn đối với các nước. Đặc biệt, đối với Việt Nam
vốn là một nước nghèo, nông nghiệp lạc hậu. Trong khi đó các nước phát triển đã
có cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trước ta 100 năm và đã thu lại những thành
tựu rực rỡ như Mỹ, Anh, Pháp, Italia, Nhật Bản,... Thì hiện nay, công nghiệp hóa –

hiện đại hóa là một quá trình, một đòi hỏi tất yếu. Trong đó, khoa học công nghệ
đóng vai trò quan trọng đem tới thành công cho công cuộc đổi mới. Không chỉ
nghiên cứu trong nước mà còn phải chuyển giao công nghệ với các nước tiên tiến,
hợp tác với các chuyên gia nước ngoài để đưa khoa học công nghệ lên một bước
phát triển mới phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

II.

Khoa học và công nghệ
1. Khái niệm
a. Khái niệm khoa học:
Từ “Khoa học” bắt nguồn từ tiếng Pháp cổ có nguồn gốc Latin là
“Scientia” có nghĩa là “Sự hiểu biết” hay “kiến thức”, mà trong đó gốc của từ
“Scio” có nghĩa là "Tôi hiểu”. Trong các ngôn ngữ khác như tiếng Pháp, Tây Ban
Nha, Bồ Đào Nha và Ý thì từ tương ứng với từ khoa học cũng mang ý nghĩa này.
Cho đến nay, khoa học thường được hiểu là “Hệ thống tri thức về quy luật của vật
chất; sự vận động của vật chất; những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy” . Hệ
thống tri thức ở đây là hệ thống tri thức khoa học, xem khoa học như một sản
phẩm trí tuệ được tích lũy từ hoạt động tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo (theo Luật
khoa học và công nghệ Việt Nam).


Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về khái niệm khoa học xuất phát từ nhiều
cách tiếp cận khác nhau.
-

-

 Tri thức

Khoa học là sự nỗ lực thực hiện phát minh và tăng lượng tri thức
hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất
xung quanh.
Khoa học là một hệ thống trị thức, nó bao gồm các khác khái niệm,
phạm trù, quy luật, các phương pháp nhận thức.
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội, nó bao gồm cả vật chất lẫn
tinh thần.
Khoa học có thể sẽ là một thiết chế xã hội có ý nghĩa nhất trong xã
hội hiện đại. Thiết chế ấy đang làm biến đổi đời sống xã hội và số
phận con người trên thé giới này hơn bấy lỳ một sự kiện chính rị

hoặc tôn giáo nào đó.
khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy

được.


Phân loại khoa học: là sự phân chia các bộ môn khoa học thành từng
nhóm theo cùng một tiêu thức nào đó. Phân loại khoa học là để nhận
dạng cấu trúc của hệ thống tri thức, đồng thời cũng là cơ sở cho việc
nhận dạng cơ cấu xã hội của khoa học.
Có nhiều các phân loại, mỗi cách phân loại dựa trên một tiêu thức và có
một ý nghĩa ứng dụng nhất định.

Khoa học nhìn từ góc độ khả năng ứng dụng nó được chia làm 2 lĩnh vực :
khoa học thuần túy và khoa học ứng dụng.
-

Khoa học thuần túy là khoa học bao gồm các phương tiện triết lý,
tôn giáo, khoa học cơ bản, tín ngưỡng, xã hội học, nhân chủng học,
chính trị học, luân lý học,.. và nhiều phương diện nữa.

Ví dụ: Bộ đề cơ bản trong “chương trình Langland” của giáo sư Ngô Bảo
Châu.
-

Khoa học ứng dụng là khoa học chính xác sử dụng các kiến thức
thuộc một hay nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
để giải quyết các vấn đề thực tế. Nó liên hệ mật thiết hoặc đồng nhất
với kỹ nghệ.

Ví dụ: - Năm 1802, đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước được chế tạo ra ở
Anh chạy trên đường lát đá.
-

Nghiên cứu và sản xuất thành công vắc-xin phòng bệnh cho trẻ em.

Khoa học nhìn từ góc độ ảnh hưởng chung đối với đời sống con người thì
được chia làm 2 lĩnh vực: khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.


-

Khoa hoc tự nhiên hay còn gọi là tự nhiên học (natural scientia) là
ngành nghiên cứu lý luận về vũ trụ qua các định luật, quy luật về trật
tự thiên nhiên.

Ví dụ: sinh học, toán học, vật lý học, hóa học,..
-

Khoa học xã hội bao gồm các môn khoa học nghiên cứu về các
phương diện con người của thế giới.

Ví dụ: nhân học, tâm lý học, văn học, sử học,..
Khoa học phân loại theo phương pháp hình thành. Cách phân loại này
không quan tâm đến việc khoa học nghiên cứu cái gì, mà chỉ quan âm đến việc
khoa học được hình thành như thế nào. Theo tiêu chí này, khoa học được phân
chia thành :
-

Khoa học tiền nghiệm ( a priori) là những bộ môn khoa học được
hình thành dựa trên những tiên đề

Ví dụ: hình học, lý thuyết tương đối.
-

Khoa học hậu nghiệm ( a posteriori) là những bộ môn khoa học
được hình thành dựa trên quan sát hoặc thực nghiệm.

Ví dụ: xã hội học, vật lý học thực nghiệm.
-

Khoa học phân lập (differentiation) là những bộ môn khoa học được
hình thành dựa trên sự phân chia đối tượng nghiên cứu của một bộ
môn khoa học vốn tồn tại thành những đối tượng nghiên cứu hẹp
hơn.

Ví dụ: khỏa cổ học được phân lập từ sử học, cơ học được phân lập từ
vật lý học,...
-

Khoa học tích hợp (integration) là những bộ môn khoa học được
hình thành dựa tên sự hợp nhất về cơ sở lý thuyết hoặc phương pháp
luận của hai hoặc nhiều bộ môn khoa học khác nhau.

Ví dụ: kinh tế học chính trị được tích hợp từ kinh tế học và chính trị
học, hóa lý được tích hợp từ hóa học và vật lý học,...
b. Khái niệm công nghệ:

Từ “Công nghệ” có nguồn gốc Hy Lạp là "Technologia" - trong đó
"Techne" là "kỹ năng, kỹ thuật" và "logia" có nghĩa là "sự học, sự tìm hiểu, sự
nghiên cứu”. Cũng như khoa học, công nghệ cũng có nhiều định nghĩa khác
nhau.


-

-

Theo từ điển Tiếng Việt: Công nghệ là tổng thể nói chung, các pháp
gia công, chế tạo làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng
nguyên vật liệu hay bán sản phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất
để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh.
Một định nghĩa khác: công nghệ là phát triển và ứng dụng các dụng
cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ và giải quyết các
vấn đề của con người.

Công nghệ thể hiện tri thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực
tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc các quy trình tiêu chuẩn, việc
tiêu chuẩn hóa như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ.
Đi cùng với công nghệ có các khái niệm kỹ thuật. Kỹ thuật được hiểu là
bao gồm toàn bộ những phương tiện lao động và các phương pháp tạo ra cở sở vật
chất.
Các lĩnh vực công nghệ chính:
Khoa học ứng dụng: công nghệ máy tính, điện tử, năng lượng, công
nghệ môi trường, kỹ thuật quang học, công nghệ hạt nhân,....
- Thông tin: công nghệ thông ti, đồ họa, công nghệ truyền thông, công
nghệ nghe nhìn,...
- Công nghiệp: công nghệ công nghiêp, sản xuất, chế tạo máy, khai
khoáng,...
- Quân sự: đạn dược, bom, kỹ thuật quân sự, công nghệ và thiết bị
quân sự ,...
- Dân dụng: công nghệ giáo dục, công nghệ dân dụng, công nghệ thực
phẩm,..
- Kỹ thuật: hàng không, nông nghiệp, xây dựng dân dụng, cơ điện, cơ
khí, môi trường, thực phẩm, khai khoáng, ...
- Y tế an toàn lao động : y sinh học, công nghệ sinh học, y tế cộng
đồng, dinh dưỡng, dược phẩm,...
- Vận tải: kỹ thuật hàng không, kỹ thuật ô tô, kỹ thuật biển, công nghệ
vũ trụ,..
2. Thời gian – không gian hình thành và tồn tại:
a. Khoa học:
- Khoa học hình thành khi con người bắt đầu có chữ viết và tồn tại
vĩnh hằng cùng với thời gian, chỉ có sự phát triển chứ không có sự
mất đi.
- Khoa học hình thành trong nghiên cứu tìm tòi, nghiên cứu thí
nghiệm mà trực tiếp là các nhà khoa học.
- Khoa học tồn tại trong không gian trên toàn thế giới, toàn nhân loại,
không bị giới hạn về không gian.
-


b. Công nghệ:
- Công nghệ tồn tại nhất thời và bị mất dần theo thời gian, theo sự tiến

bộ của khoa học – kỹ thuật.
- Công nghệ bắt nguồn từ thành tựu của khoa học, sử dụng thành tựu
khoa học để sử dụng dây chuyền công nghệ.
- Không gian tồn tại của công nghệ rất hạn hẹp, thường tồn tại ở một
khu vực, một quốc gia nhất định, có khi chỉ tồn tại không không gian
các nhà máy.
3. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ:
Xét về mục tiêu, nghiên cứu khoa học là khám phá ra các tri thức có lợi
riêng của khoa học. Động cơ của các nhà khoa học không bị ảnh hưởng bởi các
yếu tố kinh tế - chính trị - xã hội. Họ làm việc với một sự tự do nhất định trong
hành động. Họ có thể từ bỏ mọt lý thuyết khoa học này khi xuất hiện một triển
vọng khoa học mới tiến bộ hơn, chính xác hơn. Khoa học cần câu trả lời cho câ
hỏi có đúng như vậy hay không và mọi khả năng khía cạnh của vấn đề cần được
cân nhắc rất kỹ lưỡng.
Còn công nghệ là phương tiện để con người thực hiên một việc nào đó. Nhà
công nghệ có động cơ để nghiên cứu và để ứng dụng trong cuộc dông rõ rệt hơn.
Ngoài áp lực về thời gian hoàn thành, yêu cầu về sản phẩm cuối cùng cũng khó
làm cho các nhà nghiên cứu công nghệ khó có thể từ bỏ các ý tưởng về sản phẩm
hay dự án mà mình đang theo đuổi giữa chừng, điều đó có thể xảy ra dễ dàng hơn
đối với nhà nghiên cứu khoa học. Công nghệ cần câu trả lời cho câu hỏi có vận
hành và hoạt động hay không?
Nếu như hoạt động khoa học nhằm tìm ra bản chất, quy luật của sự vật,
hiện tượng, giải thích thế giới làm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người thì
hoạt động công nghệ nhằm biến tri thức khoa học thành các quy trình, giải pháp
kỹ thuật và sản phẩm thông qua các nguồn lực: kỹ thuật (Technoware), thông tin
(Infoware), tổ chức (Orgaware) và con người (Humanware).
Đây là hai hoạt động khác nhau, hiện có một số tác giả đưa ra so sánh phân
biệt giữa khoa học và công nghệ, mặc dù chưa thống nhất về nội dung, số lượng
các tiêu chí nhưng nhìn chung các quan điểm cơ bản là giống nhau.
Vấn đề
Hình thức

Khoa học

Công nghệ

-Tri thức hiểu
-Tri thức làm.
-Mang tính xác suất: có đúng -Tồn tại một dây chuyền công
có sai. Nghiên cứu khoa học là nghệ sản xuất ra các sản phẩm
hệ thống lý thuyết và thực
nghiệm về vấn đề nghiên cứu.


Sản phẩm

Mục đích

Sản phẩm mang tính đặc trưng
thông tin, không được định
hình trước, nó hình thành nhiều
loại hình nghiên cứu khoa học
như khoa học cơ bản, khoa học
ứng dụng, khoa học triển khai.
Tìm tòi, sáng tạo, phát hiện sự
vật, hiện tượng mới, hoàn thiện
và nâng cao nhận thức của con
người.
Cải biến đời sống xã hội, có
thể bảo vệ môi trường

Hình thức lưu Tài liệu, sách vở, máy tính,…
trữ
Nhiệm vụ

Tìm kiếm và lý thuyết hóa các
nguyên nhân. Trả lời cho câu
hỏi là đúng như vậy hay
không?
Phương pháp -Phân tích khái quát và tạo ra
thực hiện
lý thuyết.
-Biết lập hóa và tạo ra các khái
niệm khác nhau
Kết quả

-Phát hiện được kiểm soát
bằng thực nghiệm.
-Có những tuyên bố không chú
trọng đến giá trị.
-Đưa ra kết luận chính xác dựa
trên lý thuyết đúng và số liệu
chính xác.
-Không có giá trị thương mại

Ưu điểm

-Khoa học tìm tòi, sáng tạo,
khám phá cái mới. Thành tựu
góp phần thúc đẩy sản phẩm
phát triển.
Nghiên cứu khoa học có thể bị
thất bại, sai lầm

Hạn chế

Sản phẩm mang tính tin cậy
về số lượng và chất lượng,
được định hình theo thiết kế,
theo đơn đặt hàng cụ thể.
Tạo ra những sản phẩm
nhanh, nhiều, tốt, rẻ, tiện nghi
cho con người, góp phần tăng
năng suất lao động, mang lại
hiệu quả kinh tế cao.
Không mang mục đích bảo vệ
môi trường.
Lưu trữ trên một dây chuyền

Tìm kiếm và lý thuyết hóa các
quá trình mới và trả lời cho
câu hỏi vận hành như thế nào?
-Phân tích và tổng hợp các
thiết kế.
-Thuyết chỉnh lệ thuận kèm
theo việc tích hợp nhiều yêu
cầu, ý tưởng, lý thuyết số liệu
-Sáng chế, thiết kế và sản
xuất.
-Thường hướng về giá trị.
-Đưa ra kết luận đúng vào dữ
liệu không đầy đủ và các mô
hình tương đối.
- Mua bán, trao đổi thông qua
các hợp đồng chuyển giao
công nghệ
-Tạo ra sản phẩm vật chất dồi
dào cho xã hội.
-Là thước do của trình độ văn
minh.
Thay đổi, lỗi thời cùng thời
đại. phá hoại, biển đổi, ảnh
hưởng nặng nề đến môi
trường.


III.

Kết luận:

Con đường đưa đất nước đi lên, phát triển theo chiều hướng công nghiệp hóa –
hiện đại hóa chỉ có thể thành công khi có sự phát triển của khoa học và công nghệ
hiện đại. Đó là công cụ để đánh giá sự phát triển của một quốc gia, là phướng thức để
so sánh quốc gia này với quốc gia khác về việc sáng tạo và ứng dụng khoa học, công
nghệ.
Mặc dù có sự khác nhau về bản chất, nhiệm vụ, hay phương pháp đánh giá
nhưng khoa học và công nghệ đều đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với đời
sống con người. Nhu cầu về cuộc sống ngày càng cao, đòi hỏi sự phát triển của khoa
học công nghệ cũng phải phát triển với một tốc độ tương tự. Bên cạnh đó, con người
cũng học tập trị thức khoa học, kỹ năng áp dụng công nghệ. Vì vậy, càng đòi hỏi sự
phát triển và tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại.
Xác định vai trò khoa học, công nghệ là then chốt đẩy mạnh công nghiệp hóa –
hiện đại hóa. Vậy, con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất quyết định sự thành công của
quá trình đó chính là việc đẩy mạnh các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công
nghiệp hiện đại.


TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Nguyễn Đăng Bình – Nguyễn Đăng Hộ, Phương pháp luận nghiên cứu
2.
3.
4.
5.

khoa học, Nxb Thái Nguyên, 2004
Vũ Cao Đàm, Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Giáo
Dục Việt Nam, 2011.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Khoa_h%E1%BB%8Dc
https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87
http://www.comtek.com.vn/tin-tuc-su-kien/tin-cong-nghe/91-cong-nghe-lagi.html



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×