Tải bản đầy đủ

NEW tác phẩm vợ nhặt LTĐH

KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

VỢ NHẶT - KIM LÂN (TIẾT 1)
I. Tìm hiểu chung
1- Tác giả
- Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cành gia đình khó khăn,
ông chỉ học hết tiểu học rồi vừa làm việc kiếm sống vừa viết văn. Năm 1994, ông tham gia Hội Văn
hóa cứu quốc và hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến, cách mạng. Năm 2001, ông được tặng
Giải thưởng Nhà nước về Văn học và nghệ thuật. Một số tác phẩm tiêu biểu: truyện ngắn “Làng”,
“Vợ nhặt”, tập truyện ngắn “Con chó xấu xí”,..
- Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn với đề tài chính là nông thôn và người nông dân. Ông
viết chân thật, xúc động về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của
họ - những con người gắn bó tha thiết với quê hương và Cách mạng. Trong tác phẩm của Kim Lân ta
thấy thấp thoáng cuộc sống của làng quê Việt Nam nghèo khổ, thiếu thốn mà yêu đời, thật thà, chất
phác,..
2- Tác phẩm
2.1. Hoàn cảnh sáng tác/ Xuất xứ: “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân in trong tập “Con
chó xấu xí” (1962). Tiền thân của truyện là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”- được viết ngay sau CMT8
nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (1954), ông dựa vào một phần cốt truyện
cũ để viết truyện ngắn này.
2.2. Tóm tắt

II. Đọc hiểu văn bản
1. Tình huống truyện và ý nghĩa
1.1 Khái niệm, vai trò của tình huống truyện
- Có thể hiểu theo nghĩa rộng: tình huống truyện chính là bối cảnh, hoàn cảnh (không gian, thời gian,
địa điểm…tạo nên câu chuyện).
- Theo nghĩa chặt chẽ của từ: tình huống là sự kiện đặc biệt của đời sống được tái hiện trong tác
phẩm nhằm thể hiện sâu sắc tư tưởng chủ đề, khắc họa sâu tính cách nhân vật.
- Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn: tình huống hành động; tình huống tâm trạng;
tình huống nhận thức. Nếu tình huống hành động chủ yếu nhằm tới hành động có tính bước ngoặt
của nhân vật; tình huống tâm trạng chủ yếu khám phá diễn biến tình cảm, cảm xúc của nhân vật; thì
tình huống nhận thức chủ yếu cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lý của nhân vật. Tình huống càng
độc đáo, mới lạ, càng giúp cho tác phẩm hấp dẫn, ấn tượng, sâu sắc với người đọc.
1.2. Thâu tóm tình huống: Tràng - một gã trai ngèo khổ, thô kệch lại là dân ngụ cư - lâu nay ế vợ,
bỗng dưng nhặt được vợ mà lại là vợ theo hẳn hoi; Tràng có vợ vào lúc không ai lại đi lấy vợ.
1.3. Diễn biến của tình huống: một chuỗi ngạc nhiên kế tiếp: người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên, bà
cụ Tứ ngạc nhiên và cuối cùng, chính Tràng cũng ngạc nhiên.
1.4. Tính chất và ý nghĩa của tình huống
1.4.1. Chuyện đùa mà không đùa: Hoàn cảnh tàn ác đang đem những chuyện hệ trọng thiêng liêng
vào bậc nhất của con người ra làm trò đùa, con người bị cuốn vào và rồi đã bước ra khỏi trò đùa kia
với tư cách của Con người.
1.4.2. Đám cưới ở giữa đám ma hay là sự sống nảy sinh giữa cái chết. Cuộc tương tranh giữa Sự
sống và Cái Chết. Cuộc tương tranh giữa Bóng Tối và Ánh Sáng.
1.4.3. Tình huống truyện mà Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ lại vừa hợp lí. Qua đó, tác phẩm
thể hiện rõ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật.
1.4.4. Đây là tình huống độc đáo, lạ khi mà anh Tràng thô kệch, nghèo mà lại lấy được vợ một cách
dễ dàng. Và là một tình huống thật bi hài khi anh thanh niên này đi lấy vợ trong nạn đói khủng khiếp,
khi mà cái chết như đang cận kề. Ý nghĩa: Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phong kiến, phát xít đã
đẩy nhân dân vào nạn đói, khiến giá trị con người trở nên thật rẻ rúng. Ca ngợi nhân dân lao động: sự
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
yêu thương, cưu mang, đùm bọc lẫn nhau giúp họ vượt qua tất cả. Dù trong hoàn cảnh khó khăn
nhưng con người vẫn luôn khát khao về hạnh phúc, mái ấm gia đình.
2. Phân tích nhân vật
2.1. Phân tích nhân vật Tràng
CÁCH 1
- Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam trước và sau

Cách mạng tháng Tám. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân được viết ngay sau khi
Cách mạng tháng Tám thành công là truyện ngắn “Vợ nhặt”, được in trong tập truyện “Con chó xấu
xí”. Tác phẩm mà Kim Lân đã tái hiện thành công bức tranh ảm đạm và khủng khiếp về nạn đói Ất
Dậu (1945) của nước ta. Trên cái nền tăm tối và đau thương ấy, nhà văn đã đặt vào đó hình ảnh của
nhân vật Tràng: nghèo đói, bất hạnh nhưng giàu tình người và khát vọng hạnh phúc. Điều đó được
thể hiện qua chính câu chuyện nhặt vợ của anh giữa ngày đói.
2.1.1. Thật vậy, xuất hiện trong tác phẩm, Tràng vốn là một gã trai nghèo, sống ở xóm ngụ cư,
có một mẹ già và làm nghề đẩy xe bò mướn. Đã vậy,Tràng lại có một ngoại hình xấu xí, thô kệch với
“cái đầu trọc nhẵn”; “cái lưng to rộng như lưng gấu”; “hai con mắt gà gà, nhỏ tí” lúc nào cũng
đắm vào bóng chiều. Thêm vào đó, tính tình của Tràng lại có phần “dở hơi”. Có thể nói,Tràng có
một cảnh ngộ thật bất hạnh và tội nghiệp.
2.1.2. Diễn biến tâm lí của nhân vật Tràng. Vậy mà, con người có thân phận thấp hèn ấy bỗng
nhiên lại trở thành một chú rể có thể coi là hạnh phúc: Tràng bỗng dưng có vợ. Tràng có vợ bằng
cách “nhặt” được chỉ qua hai lần gặp gỡ, vài câu nói đùa và bốn bát bánh đúc giữa ngày đói. Qủa
thật, chuyện lấy vợ của Tràng là một lạ mà thú vị - đùa mà thật , thật mà cứ như đùa.
- Lúc đầu, khi người phụ nữ đói nghèo, rách rưới đồng ý theo không Tràng về làm vợ, Tràng không
phải không biết “chợn”: “Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không , lại còn
đèo bòng”. Nhưng rồi anh ta chặc lưỡi “Chậc, kệ!”. Có vẻ như một quyết định không nghiêm túc
như phóng lao phải theo lao vậy.Việc hai người đến với nhau bề ngoài có vẻ ngẫu nhiên nhưng bên
trong lại là tất nhiên: người đàn bà cần Tràng để có một chỗ dựa qua thì đói kém, còn Tràng cũng cần
người phụ nữ nghèo ấy để có vợ và để biết đến hạnh phúc.
- Trên đường đưa vợ về nhà, Tràng thật sự vui và hạnh phúc : “Trong một lúc, Tràng như quên hết
những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả đói khát đang đe doạ…Trong lòng hắn, lúc này
chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên.Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn
ông ấy…”. Có thể nói , trong tác phẩm, có tới hơn hai mươi lần nhà văn nhắc đến niềm vui và nụ
cười thường trực của Tràng khi đã có vợ bằng các từ ngữ rất gợi tả và gợi cảm: mặt phớn phở, mắt
sáng lên lấp lánh, miệng cười tủm tỉm…
- Chỉ sau một đêm “nên vợ nên chồng”. Tràng thấy mình đổi khác “trong người êm ái , lửng lơ như
người từ giấc mơ đi ra.Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ như không phải”. Tràng “bỗng
nhiên thấy thương yêu và gắn bó với căn nhà”; “Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con
đẻ cái ở đấy. Cái nhà như tổ ấm che mưa che nắng…Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, thấy hắn
có bổn phận phải lo cho vợ con sau này…”
Niềm vui của Tràng thật cảm động, lẫn cả hiện thực và ước mơ. “Hắn xăm xăm chạy ra giữa
sân, hắn muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà”. So với cái dáng “ngật ngưỡng” của
Tràng ở đầu tác phẩm, hành động “xăm xăm” này của Tràng là một đột biến quan trọng, một bước
ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ đau khổ sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu
đời, từ ngây dại sang ý thức. Tràng đã thật sự “phục sinh tâm hồn”- đó chính là giá trị lớn lao của
hạnh phúc. Có một hiện thực tuy chưa rõ nét nhưng đã hiện ra ở cuối tác phẩm, trong suy nghĩ của
Tràng “cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng trước có lá cờ đỏ to
lắm”. Đoàn người đi phá kho thóc của Nhật và lá cờ Việt Minh. Đây là hiện thực nhưng cũng là ước
mơ về một tương lai hướng về Đảng về cách mạng của tràng và những người như Tràng.
3. Kết bài: Tóm lại, Kim Lân miêu tả tâm trạng nhân vật Tràng xoay quanh tình huống nhặt vợ hết
sức đặc biệt. Cũng từ đó, hình tượng nhân vật Tràng có vai trò lớn trong việc thể hiện tư tưởng chủ
đề của tác phẩm: Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết mà luôn nghĩ đến sự sống.
Cũng qua Tràng và câu chuyện nhặt vợ của anh, nhà văn giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm
hồn của những người dân lao động nghèo :đó là vẻ đẹp tình người và niềm tin tưởng vào tương lai.
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
CÁCH 2
2.1. Vị trí của nhân vật
Tràng là nhân vật chính trong Vợ nhặt. Câu chuyện ở đây là câu chuyện của chính anh. Phân tích
nhân vật, có nghĩa là phân tích toàn diện một con người trong văn học, từ lai lịch, diện mạo cho đến
ngôn ngữ, hành động, tâm trạng... Tuy nhiện, anh Tràng là một người lao động rất bình thường, tính
cách đơn giản, khác với bà cụ Tứ, anh ít có những suy nghĩ bên trong. Khi phân tích, tập trung vào
mấy điểm:
2.1.1. Lai lịch, ngoại hình
- Tràng là một gã trai nghèo khổ, dân cư ngụ, làm nghề đẩy xe bò thuê, nuôi mẹ già. Dân cư ngụ là
nhưng người vốn từ nơi khác đến. Vì thế, dân cư ngụ không có ruộng đất, những thứ vô cùng quan
trọng đối với người nông dân thời xưa. Đã vậy, họ còn bị phân biệt đối xử, thường phải ở nơi bìa
làng, hoặc ở chỗ hẻo lánh. Nhà cửa của anh ta, cái được gọi là “nhà” thì luôn vắng teo đứng rúm ró
trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại. Hơn nữa, vì là dân ngụ cư, Tràng bị coi khinh,
chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về.
- Tràng có ngoại hình xấu xí, thô kệch. Mỗi buổi chiều về, hắn bước ngật ngưỡng trên con đuờng
khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào bên trong bến. Hắn vừa đi vừa tủm
tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho
cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn... Còn đầu
của Tràng thì cạo trọc nhẵn, cái lưng to rộng như lưng gấu, ngay cả cái cuời cũng lạ, cứ phải ngửa
mặt lên cười hềnh hệnh.
2.1.2. Tính cách
- Tràng là người vô tư, nông cạn.
+ Tràng là người hầu như không biết tính toán, không ý thức hết hoàn cảnh của mình. Anh ta thích
chơi với trẻ con và chẳng khác chúng là mấy. Mỗi lần Tràng đi làm về, trẻ con trong xóm cứ thấy cái
thân hình to lớn, vập vạp của hắn dốc chợ đi xuống là ùa ra vây lấy hắn, reo cười váng lên. Rồi
chúng, đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Khi ấy,
Tràng chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Anh với lũ trẻ con như anh em, bè bạn và cái xóm ngụ cư ấy
mỗi chiều lại xôn xao lên được một chút.
+ Ngay cả chuyện quan trong như lấy vợ, Tràng cũng chỉ quyết định trong chốc lát. Đó là lần gò
lưng kê cái xe thóc vào dốc tỉnh, Tràng hò một câu chơi cho đỡ nhọc. Chủ tâm của anh ta là vui đùa.
Thế rồi, một người đàn bà đang đói bám lấy để được ăn bánh, Tràng cũng vui vẻ chấp nhận. Lần thứ
hai, cô ta tới ăn vạ, Tràng chấp nhận đưa về nhà để thành… vợ chồng! Xưa nay chưa có ai quyết
định việc lấy vợ nhanh chóng như Tràng!
- Tràng là người đàn ông nhân hậu phóng khoáng.
+ Thật ra, ban đầu Tràng không chủ tâm tìm vợ. Thấy người đàn bà đói, anh cho ăn. Khi thấy thị
quyết theo mình thì Tràng vui vẻ chấp nhận. Tràng lấy vợ trước hết vì lòng thương đối với một con
người đói khát hơn mình.
+ Khi người phụ nữ chấp nhận làm vợ, Tràng đã có ý thức chăm sóc: Hôm ấy hắn đưa thị vào chợ
tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê…
Anh còn mua hai hào dầu thắp để vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí.
+ Lấy nhau chẳng phải vì tình, lại “nhặt vợ” một cách dễ dàng, nhưng không vì thế mà Tràng coi
thường người vợ của mình. Anh muốn làm cho người ấy được vui (khoe mua dầu về thắp sáng), có
lúc muốn thân mật nhưng không dám suồng sã. Tràng trân trọng, nâng niu hạnh phúc mà mình có
được: trong chốc lát, Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả đói khát
ghê gớm đang đe doạ, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình
nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông
nghèo khổ ấy, nó ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt ve nhẹ trên sống
lưng.
- Sau khi lấy vợ, Tràng trở thành một người sống có trách nhiệm.
+ Anh ngoan ngoãn với mẹ, tránh gợi niềm tủi hờn ở người khác. Đặc biệt, đối với Tràng, có vợ là
bước sang một quãng đời khác: sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong
người êm ái lửng lơ như người vừa trong mơ đi ra.
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
+ Từ một anh phu xe cục mịch, chỉ biết việc trước mắt, sống vô tư, Tràng đã là người quan tâm đến
những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời. Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên
vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi, đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay. Trong ý
nghĩ của anh lại vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp để cướp kho
thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ to lắm. Tràng nhớ tới cảnh ấy và lòng ân hận, tiếc rẻ và trong
óc vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới... Tràng đã mở đầu cho câu chuyện Vợ nhặt bằng
những bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư
vào buổi chiều chạng vạng mặt người và cũng chính anh đã kết thúc câu chuyện ấy vào buổi sớm
mai với một hình ảnh mới lạ về đoàn người nghèo đói vùng lên dưới bóng lá cờ đỏ bay phấp phới.
2.1.3. Số phận
- Cuộc đời của Tràng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước cách mạng tháng Tám. Khi
chưa có nạn đói thì nghèo đến nỗi không lấy nổi vợ (con trai lão Hạc trong tác phẩm cùng tên Nam
Cao cũng vì nghèo không lấy vợ, phẫn chí mà bỏ đi làm mộ phu), trong nạn đói lại lấy vợ, niềm hạnh
phúc đan xen với bất hạnh.
- Cuộc đời của những người như Tràng nếu không có một sự thay đổi mang tính đột biến của cả xã
hội sẽ sống mãi trong sự tăm tối, đói khát. Ở Tràng, tuy chưa có được sự thay đổi đó, nhưng cuộc
sống đã bắt đầu hé mở cho anh một hướng đi. Đó là con đường đến với cách mạng một cách tự nhiên
và tất yếu mà những người như Tràng sẽ đi và trong thực tế lịch sử, người nông dân Việt Nam đã đi.
2.1.4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn
- Kim Lân đã khắc hoạ nhân vật Tràng với đầy đủ diện mạo, ngôn ngữ, hành động, đặc biệt là diễn
biến tâm trạng của Tràng bằng ngòi bút sắc sảo. Anh chàng phu xe cục mịch nhưng có một đời sống
tâm lý sống động, khi hãnh diện, cái mặt vênh vênh tự đắc với mình bởi vừa mới nhặt được vợ, lúc
lật đật chạy theo người đàn bà, như người xấu hổ chạy trốn, hay lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai
kia, cũng có khi lòng quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, chỉ còn tình nghĩa với
người đàn bà đi bên. Anh thô kệch nhưng không sỗ sàng, trái lại biết ngượng nghịu, biết sợ, nhất là
biết lo nghĩ cho cuộc sống về sau.
- Qua nhận vật Tràng, không những nhà văn phản ánh một mặt trận đen tối trong hiện thực xã hội
trước năm 1945 cùng số phận của người dân nghèo mà còn phát hiện vẻ đẹp tâm hồn của họ. Kim
Lân đã tiếp nối những trang viết giàu chất nhân bản về người lao động bình thường của những nhà
văn trước đó như Ngô Tất Tố, Thạch Lam, Nam Cao...
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

VỢ NHẶT - KIM LÂN (TIẾT 3)
3. Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt ( Kim Lân)
3.1. Giới thiệu vắn tắt về Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt
Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Kim Lân, in trong tập Con chó xấu xí.
Vợ nhặt có tiền thân là truyện Xóm ngụ cư – viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Bản thảo chưa in
thì bị thất lạc, sau này được tác giả viết lại.
3.2. Giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ nhặt
- Bối cảnh của truyện ngắn Vợ nhặt là khung cảnh nông thôn Việt Nam vào một thời kì ngột ngạt và
đen tối nhất- đó là nạn đói năm Ất Dậu 1945. Bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật buộc người nông
dân phải nhổ lúa và hoa màu để trồng đay, phục vụ cho nhu cầu chiến tranh. Người dân các tỉnh ở
đồng bằng Bắc bộ lâm vào nạn đói khủng khiếp, gần hai triệu người chết đói. Hiện thực đau thương
đó đã được phản ánh trong nhiều truyện của Nguyên Hồng, Tô Hoài và thơ của Văn Cao… Nhà văn
Kim Lân cũng góp tiếng nói tố cáo của mình trong tác phẩm Vợ nhặt.
- Đặc sắc nghệ thuật của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm Vợ nhặt là mặc dù không có một dòng nào
tố cáo trực tiếp tội ác của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật, hình ảnh của chúng cũng không một
lần xuất hiện, nhưng tội ác của chúng vẫn hiện lên một cách rõ nét. Khung cảnh làng quê ảm đạm, tối
tăm. Những căn nhà úp súp. Những xác chết nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm
thối của rác rưởi và mùi gây của xác người…
- Cuộc sống của người nông dân bị đẩy đến bước đường cùng. Tính mạng của con người lúc này thật
rẻ rúng, người ta “nhặt” được vợ giống như nhặt cái rơm, cái rác ở bên đường. Thông qua tình huống
truyện lấy vợ của Tràng, Kim Lân không chỉ nói lên được thực trạng đen tối của xã hội Việt Nam
trước Cách mạng, mà còn thể hiện được thân phận đói nghèo, bị rẻ rúng của người nông dân trong
chế độ xã hội cũ (Chú ý phân tích cảnh bữa cơm đón nàng dâu mới ở nhà Tràng vào thời điểm đói
kém: giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo…rồi nồi “ chè
khoán” nấu bằng cám). Ở phần cuối của tác phẩm, những nhân vật nghèo khó này cũng khao khát sự
đổi thay về số phận. Chúng ta cũng thấy thoáng hiện lên niềm dự cảm của tác giả về tương lai, về
cách mạng (qua hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng và những đoàn người đi phá kho thóc của Nhật).
MOON.V N

3.3. Giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt
- Kim Lân đã viết về cuộc sống của người nông dân Việt Nam trước cách mạng với một niềm đồng
cảm, xót xa, day dứt. Nếu không có một tình cảm gắn bó thực sự với người nông dân, không trải qua
những năm tháng đen tối ấy, không dễ gì viết nên được những trang sách xúc động và thấm thía đến
thế.
- Giá trị nhân đạo của tác phẩm còn được thể hiện ở chỗ, nhà văn đã phát hiện và miêu tả những
phẩm chất tốt đẹp của người lao động. Mặc dù bị xô đẩy đến bước đường cùng, mấp mé bên cái chết,
nhưng những người nông dân vẫn cưu mang, giúp đỡ nhau, chia sẻ cho nhau miếng cơm, manh áo.
Hiện thực cuộc sống càng đen tối bao nhiêu (chú ý phân tích cảnh bà cụ Tứ chấp nhận cô con dâu
mới trong lúc gia đình cãng đang rất khó khăn, không biết sống chết lúc nào, để làm nổi rõ tình
người của họ).
- Kim Lân cũng thể hiện một sự trân trọng đối với khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và mái ấm
gia dình của người nông dân.
Trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng bà cụ Tứ và vợ chồng Tràng vẫn luôn hướng tới một cuộc sống
gia đình đầm ấm, hạnh phúc (cần chú ý những chi tiết diễn tả tâm trạng bà cụ Tứ, thái độ của Tràng,
vợ Tràng trong bữa ăn, rồi nhà cửa, sân vườn đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ, gọn ghẽ). Một cái

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
gì mới mẻ, khác lạ đang đến với mỗi thành viên trong gia đình bà cụ Tứ và hé mở trước họ một niềm
tin về tương lai.
3.4. Giá trị nghệ thuật
- Tình huống truyện
- Xây dựng nhân vật: diễn biến tâm lí được miêu tả chân thực, tinh tế;
- Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, phù hợp với tính cách nhân vật, một thứ ngôn ngữ như được bứng lên
từ ruộng đồng còn hăng mùi cỏ rả. Nào là những bước đi ngật ngưỡng, vẻ mặt phớn phở, cử chỉ
ngửa cổ cười hềnh hệch...hình như những cái đó chỉ có ở riêng các nhân vật Kim Lân.
- Nghệ thuật trần thuật hấp dẫn, kịch tính…
III. Kết luận
Vợ nhặt là một tác phẩm thành công của nhà văn Kim Lân. Qua tác phẩm này, chúng ta không chỉ
nhận thấy tài năng của nhà văn, sự hiểu biết sâu sắc, cặn kẽ của ông về cuộc sống của người nông
dân, mà điều quan trọng hơn đó chính là cái tâm, cái tấm lòng gắn bó thiết tha, sâu nặng của Kim
Lân đối với những người lao động nghèo khó trước Cách mạng

MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

VỢ NHẶT - KIM LÂN (TIẾT 4)
Dạng đề 1
1- Ý nghĩa chi tiết bữa ăn ngày đói. Ý nghĩa nồi cháo cám
- Bữa ăn ngày đói thật thảm hại. Trên cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối
ăn với cháo lõng bõng. Bà mẹ Tràng còn chuẩn bị một nồi cháo cám “đắng chát, nghẹn bứ” mà bà
gọi là “chè khoán ngon đáo để”
thực dân, phong kiến
+ Thể hiện tình người cao đẹp: Cưu mang đùm bọc lẫn nhau giúp họ vượt qua được bóng tối đang
trị nhân đạo
+ Khát vọng sống mãnh liệt của con người dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất
+ Khát khao hạnh phúc, mái ấm gia đình.
2- Ý nghĩa chi tiết cuối truyện “Trong ý nghĩ của hắn vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói
ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm”
- Kim Lân đã thể hiện rất hay tình cảm của hàng triệu nông dân Việt Nam hướng về cách mạng. Cứu
đói, cứu khổ, cứu đời và đem đến độc lập, tự do cho dân tộc chính là sự xuất hiện lá cờ đỏ ấy. Đồng
thời cũng thể hiện mối quan hệ giữa cách mạng và quần chúng nhân dân: Quần chúng là sức mạnh
lớn lao, là lực lượng đông đảo để tham gia vào cuộc kháng chiến chống quân xâm lược cứu nước.
Nhưng sức mạnh ấy sẽ không thể phát huy tối đa nếu không có lá cờ đỏ của Cách mạng là ánh sáng
dẫn đường. Chi tiết còn thể hiện niềm tin của nhà văn vào tương lai, một hi vọng sẽ đổi đời.
Dạng đề 2: Hãy phân tích truyện ngắn Vợ nhặt để làm sáng tỏ ý kiến sau:“Dù bị đẩy vào hoàn cảnh
khốn cùng những người dân xóm ngụ cư vẫn yêu thương và khao khát hạnh phúc”.
I. Đặt vấn đề
KL là nhà văn một lòng đi về với “đất”, với “người”, với “thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống
nông thôn. Bằng tình cảm, tâm hồn của một con người vốn là con đẻ của đồng ruộng, sau cách mạng
KL có nhiều truyện ngắn hay viết về mảng đề tài này, tiêu biểu là tác phẩm “Vợ nhặt”.Ở truyện ngắn
này, KL đã có những khám phá mới mẻ về người lao động: dù bị….hp.
II. Giải quyết vấn đề
- Truyện ngắn “Vợ nhặt” được in trong tập “Con chó xấu xí”, xuất bản năm 1962, tiền thân là truyện
“Xóm ngụ cư”. Sau này tác phẩm được KL viết lại và đổi tên.- Toàn bộ câu chuyện xoay quanh tình
huống: anh cu Tràng dân xóm ngụ cư nhặt được vợ trong những ngày tối sầm vì đói khát. " Qua đó
nhà văn muốn thể hiện cái nhìn chân thực về cuộc sống và số phận của người nông dân trong nạn đói
1945 và vẻ đẹp sâu sắc trong tâm hồn họ.
1. Hoàn cảnh khốn cùng
- Bức tranh ngày đói được dựng lên bằng: hình ảnh, âm thanh, mùi vị.· Câu chuyện mở ra trong
không khí thê thảm của người đói. Cái đói đã hiện ra ở những hình ảnh ghê rợn thảm thương: bóng
người xanh xám như bóng ma. Cái đói làm cho con đường về làng trở nên khẳng khiu, lũ trẻ ngồi ủ
rũ dưới những xó tường không buồn nhúc nhích.· Âm thanh của tiếng quạ kêu cứ gào lên từng hồi
thê thiết càng khiến bức tranh ngày đói trở nên ảm đạm.· Bao trùm lên toàn bộ bức tranh ngày đói là
mùi thối của rác rưởi và mùi gây của xác người." Tất cả những âm thanh, hình ảnh, mùi vị đó gợi lên
bầu không khí chết chóc của cõi âm, cõi địa ngục. Qua những trang văn của KL ta như được trải lòng
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
cùng nỗi đau của cả dân tộc.- Không chỉ dừng lại ở bức tranh chung, cái đói thực sự lan đến từng gia
đình, đe dọa từng sinh mạng.· Trong những ngày đói, miếng ăn trở thành vấn đề cấp thiết. Tất cả mọi
người đều lo lắng cho sự tồn tại, giằng co giữa sự sống và cái chết. Ranh giới ấy thật mong manh.
Cái đói đã đẩy người lao động đến bước đường cùng: giá trị con người trở nên rẻ rúng đến thảm hại.
Người ta có thể nhặt được vợ như nhặt bất kì cái rơm cái rác vương trên đường. Tràng chỉ bằng bốn
bát bánh đúc và mấy lời tầm phào, tầm phơ mà lấy được vợ." Cái đói đã đẩy người vợ nhặt đến bước
đường cùng, làm xấu đi cả nhân hình, nhân tính. Vì đói mà thị tả tơi, gầy sọp hẳn đi đến Tràng cũng
không nhận ra. Vì đói mà thị trơ tráo bám lấy Tràng, gạ gẫm miếng ăn dù mới quen biết. Và thị đã
không ngần ngại theo Tràng về nhà khi anh ta nói đùa “có về với tớ thì ra khuôn hàng lên xe cùng
về”. Thân phận con người đã đẩy xuống hạng bèo bọt.· Cái đói còn hiện ra thảm hại trong gia đình
Tràng: đêm tân hôn diễn ra trong tiếng hờ khóc tỉ tê, mùi đốt…Bữa ăn đón dâu mới chỉ có nùm rau
chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo…Mọi người ăn mà không dám nhìn nhau trong khi ngoài
đường tiếng trống thúc thuế vẫn cứ dồn dập. Thật ai oán, xót xa." Qua những trang văn của KL ta
hiểu nỗi khốn cùng của người nông dân trong nạn đói 1945 và càng hiểu hơn tội ác của thực dân P và
phát xít Nhật đã bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay gây lên thảm cảnh đau đớn. Đó cũng là giá trị hiện
thực sâu sắc của tác phẩm này.
2. Nhưng nét đặc sắc của tác phẩm là tác giả đã phát hiện ra vẻ đẹp trong tâm hồn con người
“dù bị…” Điều này thể hiện rõ qua diễn biến tâm lí của từng nhân vật từ sau khi Tràng nhặt được vợ
2.1. Tràng
- Tràng là người nông dân nghèo, là thành phần dân xóm ngụ cư, cái đói và miếng ăn vẫn là sự đe
dọa thường xuyên đối với con người này. Thế mà bỗng dưng giữa ngày đói T lại nhặt được vợ, khiến
anh không khỏi lo lắng. Mới đầu anh cũng chợn nghĩ “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết
có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Nhưng ngay sau đó T lại tặc lưỡi “chặc! kệ”. Nghe có vẻ tầm
phơ, tầm phào nhưng thực là khát vọng hạnh phúc vốn sẵn có trong tâm hồn mà chính T cũng không
ý thức hết. - Sau sự quyết định táo bạo ấy là cách xử sự đầy ân tình của T đối với vợ: đưa vợ vào
hàng cơm chén một bữa no nê, mua cho thị một cái thúng con và sẵn sàng tiêu hoang vì hạnh phúc
của mình: bỏ ra 2 hào mua dầu thắp sáng, không hề có một thái độ khinh thị mà đầy trân trọng. Ở
đây có sự đồng cảm, tương thân, tương ái. Tâm trạng trên đường về nhà:
- Niềm khao khát hạnh phúc đã có sức biến đổi từ một anh cu T thô kệch vụng về, trở thành người
đàn ông thực sự với những cảm xúc và cảm giác tinh tế.
· Niềm vui đã theo bước chân T về xóm ngụ cư. Khác với vẻ mệt mỏi hàng ngày hôm nay trên nét
mặt T có “vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười một mình và hai con mắt sáng lên lấp
lánh”.
· Niềm hạnh phúc mới khiến T trở nên lãng mạn. Giữa không khí vắng vẻ, thoải mái T cũng “định
nói với thị một vài câu rõ tình tứ”. Và trong chốc lát “T hình như quên hết những cảnh sống ê chề,
tăm tối hàng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang đe dọa…chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người
đàn bà đi bên”. Niềm hạnh phúc đã hiện hình ở người đàn ông thô tháp mộc mạc này “một cái gì mới
mẻ, lạ lắm…sống lưng”.- Tâm trạng trong buổi sáng hôm sau:
· Buổi sáng thức dậy, T được sống trong những suy nghĩ, cảm xúc rất mới mẻ. T thấy “trong người
êm ái, lửng lơ như từ giấc mơ đi ra”.
· Những cảnh vật quen thuộc hàng ngày mà hôm nay T thấy thân thiết lạ và trở nên thấm thía cảm
động: bà cụ Tứ thì lúi húi giẫy cỏ, vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt. Âm thanh
của tiếng chổi gieo vào lòng hắn cảm giác bình yên, ấm cúng “bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương,
gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”. Những suy nghĩ đó chứng tỏ T ý thức đầy đủ trách nhiệm chăm
lo cho gia đình.- Hình ảnh Việt MinhTrong bữa cơm ngày đói, giữa những miếng cháo cám “đắng
chát và nghẹn bứ trong cổ họng” T thoáng thấy hiện lên hình ảnh lá cờ trên đê Sộp và đoàn người đi
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
phá kho thóc của Nhật. Hai tiếng Việt Minh vang lên cùng với hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bám riết
tâm trí T, đồng thời là niềm nuối tiếc vấn vơ." Cách kết thúc khẳng định: con người như T dù bị đẩy
đến bước đường cùng vẫn kháo khát hướng tới tương lai, khao khát hạnh phúc. Ý tưởng của nhà văn
thể hiện qua nhân vật thật sâu sắc.
2.2. Bà cụ Tứ
- Thấm thía nỗi trớ trêu của số kiếpBà cụ Tứ đánh giá, nhìn nhận việc T lấy vợ từ góc độ và tâm
trạng khác. Là người đã từng trải, trước lời thông báo của T, bà “cúi đầu nín lặng”. Bà đã cố kìm nén
nỗi lòng mình nhưng “trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt”. Đó là những giọt
nước mắt đầy ai oán xót thương cho số kiếp đứa con cho cảnh gia đình nghèo hèn của mình. Chính vì
vậy, bà không tránh khỏi nỗi âu lo: “biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát
này không?”.
- Cùng với nỗi lo âu là cảm giác thương xót, cảm thông cho người đàn bà mới về làm dâu mình
“người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ người ta mới lấy con mình. Mà con mình mới được có vợ”.
“Mừng lòng” chứ không phải “bằng lòng” bởi dù cảnh gia đình nghèo khổ nhưng mơ ước về sự sum
họp hạnh phúc luôn thường trực trong tâm thức người mẹ nghèo này.Cử chỉ của bà cụ Tứ khiến ta
cảm động về sự cưu mang đùm bọc của người lao động theo đúng tinh thần lá lành đùm lá rách.Cảm động hơn nữa là người mẹ già không nguôi khao khát hạnh phúc. Người mẹ gần đất xa trời này
lại là người chan chứa nhiều nhất những hi vọng, nói nhiều nhất đến tương lai. Trước việc T có vợ
người mẹ nghèo không khỏi xót xa, tủi cực bởi người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà
ăn lên làm nổi…còn con mình thì…Nhưng nỗi xót xa ấy nhanh chóng qua đi để lại trong tâm trí
người mẹ nghèo vẫn là niềm khát khao hạnh phúc, hướng về sự sống, tương lai của con mình. Bà đã
an ủi con mình bằng triết lí, bằng niềm tin của người nghèo: “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Đó là
niềm tin rất đáng trân trọng bởi nó nảy nở trong hoàn cảnh khốn cùng.- Đặc biệt vào buổi sáng hôm
sau người mẹ ấy đã có những thay đổi mới mẻ. Bà dậy sớm cùng con dâu thu dọn, “cái mặt bủng beo
u ám” hàng ngày của bà hôm nay “rực rỡ hẳn lên”.
· Trong bữa cơm ngày đói chỉ có lùm chuối thái rối, ít muối ăn với cháo nhưng bà toàn nói chuyện
vui, toàn chuyện sung sướng sau này. Hình ảnh đàn gà sinh sôi nảy nở cũng là biểu hiện của niềm
tin, khát vọng hạnh phúc trong tâm hồn người mẹ nghèo.· Trong hoàn cảnh khốn cùng vì đói nghèo
người mẹ nghèo không nghĩ tới cái chết mà hướng về sự sống, tương lai.
2.3. Chị vợ nhặt
- Thị chính là nạn nhân của cái đói. Cái đói làm thị xấu đi cả nhân hình, nhân tính. Vì đói mà thị hạ
mình xuống, chấp nhận cái tiếng vợ nhặt, vợ theo. Nhưng ngay trong hành động tưởng liều lĩnh ấy
nghĩ kĩ đó cũng là biểu hiện của niềm khát khao sống, khát khao hạnh phúc. Việc theo T về làm vợ,
vừa để chạy trốn cái đói nhưng đồng thời cũng là hành động đi tìm sự sống, đi tìm hạnh phúc cho
mình.- KL đã rất tinh tế khi điểm vào câu chuyện vài biểu hiện thất vọng về hoàn cảnh của T cũng
chẳng khác gì mình: “thị cố nén một tiếng thở dài”.- Nhưng ở người đàn bà này vẫn thường trực một
niềm khát khao sống, khát khao hạnh phúc nên dễ dàng chấp nhận hoàn cảnh. Thị có sự thay đổi hẳn.
Trên đường về nhà thị đi sau T ba, bốn bước, đầu hơi cúi, nón rách che đi nửa mặt “rón rén, e thẹn”.
Những chi tiết về cử chỉ, ngoại hình cho thấy rõ tâm trạng của một cô dâu mới khi về nhà chồng.·
Không còn đâu người đàn bà chao chát, chỏng lỏn T gặp hôm trước, khi đã là nàng dâu thị trở nên là
người đàn bà hiền hậu, đúng mực, nền nã, ra vào thu vén nhà cửa… Sự thay đổi ấy chính là thái độ
vun đắp cho hạnh phúc gia đình.- Trong bữa cơm “hai con mắt thị tối sầm lại” khi nhìn thấy bát cháo
cám nhưng “thị điềm nhiên và vào miệng”. Câu hỏi về tiếng trống thúc thuế, thái độ ngạc nhiên khi
thấy ở đây vẫn đóng thuế và câu chuyện nửa chừng về những người TN, Bắc Giang cho thấy đã có
một luồng gió thổi vào tâm hồn thị. Cũng như T, thị đang nghĩ về ngày mai tươi sáng.
2.4. Dân xóm ngụ cư
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
- Cùng với gia đình T, dân xóm ngụ cư cũng là hình ảnh bổ sung làm rõ hơn cho chủ đề tác phẩm.
Đang sống âm thầm lặng lẽ trong cái đói, người dân xóm ngụ cư chợt xôn xao bừng sáng hẳn lên
trước việc T đón vợ về. Dường như “có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm
tối ấy của họ”. Luồng gió mát ấy chính là ý thức về sự sống, niềm khao khát hạnh phúc vẫn thường
trực trong tâm hồn người dân xóm ngụ cư." Trong bức tranh bi thảm ngày đói những người dân xóm
ngụ cư không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống. Vẻ đẹp lành mạnh khỏe khoắn ấy trong tâm
hồn người lao động mà KL phát hiện ra hôm nay có gì đó thật gần gũi với tâm hồn người lao động
trong ca dao: Một cái trứng ung…Còn da lông mọc, còn trồi nảy cây”Niềm khao khát sống, niềm tin
vào tương lai đã tạo sức mạnh để người lao động vượt qua thử thách. Phát hiện ra vẻ đẹp này trong
tâm hồn người lao động tác phẩm của KL mang giá trị nhân đạo sâu sắc.
III. Kết thúc vấn đề
Bằng ngòi bút miêu tả tâm lí sắc sảo KL đã tái hiện thành công diễn biến tâm trạng của người dân
xóm ngụ cư quanh việc T nhặt được vợ.Đi sâu vào khám phá diễn biến ấy người đọc hiểu hơn vẻ đẹp
trong tâm hồn người lao động. Dù ở hoàn cảnh khốn cùng họ vấn nghĩ đến sự sống tương lai. Phát
hiện ra vẻ đẹp đó, nhà văn đã tạo nên chiều sâu cho tác phẩm. Qua tác phẩm giúp ta có niềm tin vào
cuộc sống, tương lai.

MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×