Tải bản đầy đủ

NEW tác phẩm vợ chồng a phủ LTĐH

KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

VỢ CHỒNG A PHỦ - TÔ HOÀI (TIẾT 1)

Lời mở: Chúng ta từng biết đến người con của dòng sông Tô, phủ Hoài Đức qua những trang văn
nổi tiếng trong Dế mèn phiêu lưu kí hay những bức tranh hiền lành vùng dệt lĩnh ven đô- không gian
nghệ thuật quen thuộc trong sáng tác của nhà văn Tô Hoài. Nếu như trước cách mạng, ông nổi tiếng
với những tác phẩm viết cho thiếu nhi, thì sau Cách mạng tháng Tám, người ta lại biết đến Tô Hoài
nhiều hơn qua những tác phẩm đặc sắc viết về vùng cao trong tập Truyện Tây Bắc mà nổi tiếng nhất
có lẽ phải kể đến tác phẩm: Vợ chồng A Phủ- tác phẩm được giải Nhất về văn xuôi (1954-1955).
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
1.1. Cuộc đời
Nhà văn Tô Hoài (1920 - 2014) tên thật là Nguyễn Sen, sinh tại quê nội Thanh Oai, Q.Hà Đông, Hà
Nội, và lớn lên tại quê ngoại thị trấn Nghĩa Đô, Từ Liêm, Hà Nội.
- Tô Hoài là một trong những nhà văn sáng lập ra Hội Nhà văn Việt Nam, là chủ tịch đầu tiên của
Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội.
- Các giải thưởng tiêu biểu của ông: Giải nhất tiểu thuyết với tác phẩm Truyện Tây Bắc của Hội Văn
nghệ Việt Nam năm 1956, giải A với tiểu thuyết Quê nhà giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội năm
1967, giải thưởng Hoa Sen của Hội Nhà văn Á Phi với tiểu thuyết Miền Tây năm 1970... Ông được
trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật đợt 1 năm 1996.

- Chỉ được học hết bậc Tiểu học, phải làm nhiều nghề để kiếm sống trước khi cầm bút (liên hệ các
tác giả: Macxim Gorki (Nga), Nguyên Hồng, Kim Lân (Việt Nam) để thấy vai trò của “trường đời”
và tự học đối với sự thành công của các nghệ sĩ)
• Gắn bó sâu sắc với lứa tuổi thiếu nhi - cơ sở của những tác phẩm viết cho trẻ em.
• Đi nhiều, vốn sống phong phú, đặc biệt trong lĩnh vực phong tục và sinh hoạt đời thường - có
những trang viết chân xác, đằm thắm về đất và người nhiều vùng đất, nhất là đất và người Tây Bắc.
• Có cái nhìn hồn nhiên, trong trẻo mà sắc sảo, hóm hỉnh, thông minh về các sự vật, hiện tượng, con
người trong cuộc sống.
Ông từ trần trưa 6.7.2014 tại Hà Nội.
1.2. Sự nghiệp
- Tô Hoài là nhà văn có sức sáng tạo dồi dào nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Hơn 60 năm
cầm bút, ông để lại gần hai trăm tác phẩm thuộc đủ các thể loại.
- Thể loại: đa dạng,
- Đề tài: hai đề tài
* Đồng thoại về thế giới loài vật
* Cuộc sống, số phận và vẻ đẹp người lao động nghèo ở miền xuôi và miền ngược.
- Nội dung:
* Cái nhìn trìu mến, bao dung, nhân ái, độ lượng với trẻ thơ.
* Giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo mới mẻ, độc đáo.
• Nghệ thuật:
* Khả năng miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật chân xác, sâu sắc, tinh tế.
* Cách kể chuyện sống động, hóm hỉnh, có duyên.
* Lời văn: giàu tính tạo hình và chất thơ.
- Tác phẩm tiêu biểu: Dế mèn phiêu lưu kí (đồng thoại, 1941), O chuột (tập truyện ngắn về loài vật,
1942), Nhà nghèo (tập truyện ngắn, 1944), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953), Mười năm (tiểu
thuyết, 1967)…
2. Tác phẩm
2.1. Hoàn cảnh ra đời
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
- 1952: Tô Hoài theo đơn vị bộ đội vào giải phóng Tây Bắc, sống gắn bó với đồng bào tám tháng.
“Năm 1952, tôi theo bộ đội chủ lực, tiến quân vào miền Tây, tham dự chiến dịch giải phóng Tây
Bắc… Cái kết quả lớn nhất và trước mắt của chuyến đi tám tháng ấy là đất nước và con người miền
Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, không thể bao giờ quên”
- Chia tay, Tô Hoài viết tập truyện bằng sự am hiểu tường tận cuộc sống, phong tục, nhất là tâm hồn
phóng khoáng, tự do phảng chút hoang dại của đồng bằng miền núi; nỗi ám ảnh về những kỉ niệm

gắn bó và món nợ ân tình với người Tây Bắc.
- “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm xuất sắc được in trong tập “Truyện Tây Bắc” (1953).
2.2. Kết cấu: 2 phần
• Phần 1: Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống của người dân lao động miền núi Tây Bắc trước cách
mạng.
Phần thể hiện bút lực Tô Hoài trong tác phẩm này là những trang viết tài hoa về hương sắc vùng
cao, thể hiện giá trị hiện thực, nhân đạo mới mẻ, cảm động và khả năng miêu tả và phân tích
tâm lí nhân vật sắc sảo (Ba ý lớn)
• Phần 2: Quá trình vận động từ tự phát tới tự giác của người lao động.
2.3. Thành công và hạn chế
2.3.1. Thành công
“Ý bao quát trong khi tôi viết Truyện Tây Bắc là: Nông dân các dân tộc ở Tây Bắc bao năm gian khổ
chống đế quốc và bọn chúa đất. Cuộc đấu tranh giai cấp, riêng ở Tây Bắc, mang một sắc thái đặc
biệt. Nhìn lướt qua, nơi thế lực phong kiến còn đương kéo lùi đất nước lại hàng trăm năm trước,
chúng ta dễ tưởng những cảnh những người ở đấy cứ muôn thuở lặng lẽ. Không, ở nơi rừng núi mơ
màng ấy, các dân tộc đã không lặng lẽ chịu đựng. Họ đã thức tỉnh. Cán bộ của Đảng tới đâu thì các
dân tộc đứng lên tới đấy, trước nhất là những người trẻ tuổi. Họ thật đẹp và yêu đời”
* Đem vào tác phẩm không khí thời đại.
* Thấy được quá trình vận động trong tư tưởng, cuộc sống người lao động: từ cam chịu, khổ nhục
đến chủ động giành lấy tự do, hạnh phúc, từ hành động phản kháng tự phát đến hoạt động cách mạng
tự giác.
* “Một vấn đề khác nữa là chất thơ trong văn xuôi. Ở mỗi nhân vật và trùm lên tất cả miền Tây, tôi
đã đưa vào một không khí vời vợi, làm cho đất nước và con người bay bổng hơn lên”
2.3.2. Hạn chế: Hình tượng nhân vật trung tâm hành động theo sự dàn xếp của tác giả nhằm chứng
minh cho một luận đề: sự giác ngộ đến với cách mạng của quần chúng bị áp bức, đôi chỗ viết dễ dãi.
II. Đọc hiểu văn bản
1. Tóm tắt: Mị, một cô gái xinh đẹp, yêu đời, có khát vọng tự do, hạnh phúc, bị bắt về làm con dâu
gạt nợ cho nhà Thống lí Pá Tra. Lúc đầu Mị phản kháng nhưng dần dần trở nên tê liệt, chỉ "lùi lũi
như con rùa nuôi trong xó cửa". Đêm tình mùa xuân đến, Mị muốn đi chơi nhưng bị A Sử (chồng
Mị) trói đứng vào cột nhà. A Phủ vì bất bình trước A Sử nên đã đánh nhau và bị bắt, bị phạt vạ và trở
thành kẻ ở trừ nợ cho nhà Thống lí. Không may hổ vồ mất một con bò, A Phủ đã bị đánh, bị trói
đứng vào cọc đến gần chết. Mị đã cắt dây trói cho A Phủ, hai người chạy trốn đến Phiềng Sa. Mị và
A Phủ được giác ngộ, trở thành du kích.
2. Chủ đề: Qua việc miêu tả cuộc đời, số phận của Mị và A Phủ, nhà văn đã làm sống lại quãng đời
tăm tối, cơ cực của người dân miền núi dưới ách thống trị dã man của bọn chúa đất phong kiến, đồng
thời khẳng định sức sống tiềm tàng, mãnh liệt không gì hủy diệt được của những kiếp nô lệ, khẳng
định chỉ có sự vùng dậy của chính họ, được ánh sáng cách mạng soi đường sẽ dẫn tới cuộc đời tươi
sáng.
3. Hình tượng nhân vật
3.1. Nhân vật Mị
3.1.1. Sự xuất hiện của Mị
“Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra…” : giọng kể thoảng hương cổ tích ca dao, chuẩn bị
không khí cho mẫu nhân vật cổ tích xuất hiện, tạo tâm thế cho người đọc tiếp nhận một motip quen
thuộc.
• Không gian: “ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa”, xuất hiện cùng thế giới đồ vật
câm lặng.
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
* Vị trí của nhân vật.
* Hình ảnh tảng đá câm nín, u uất, bất động, không sinh khí, không sẻ chia (liên hệ với sự hóa thân
của người em trong Sự tích Trầu cau)
• Tư thế: “cúi mặt, mặt buồn rười rượi” với nhịp điệu mòn mỏi, thường xuyên, lặp lại vô hồn – “lúc
nào cũng vậy” .
• Đối lập: hình ảnh một cô gái lẻ loi, đơn độc, u trầm, buồn khổ – cảnh tấp nập, giàu sang nhà thống
lí.
Nhận xét: tác giả đã phác hoạ hình ảnh người con gái câm lặng như chìm lẫn vào thế giới đồ vật vô
tri, không cảm giác. Từ đó hé lộ cuộc sống tủi cực, cảnh ngộ éo le của nhân vật. Cách dẫn dắt khéo
léo theo điểm nhìn từ xa, bên ngoài tiến gần hơn vào bên trong để thâm nhập nhân vật; tạo ra mâu
thuẫn ở lời kể để vén bức màn bí mật về một phận người (hỏi ra mới rõ,… cô ấy là vợ A Sử, con trai
thống lí Pá Tra).
3.1.2. Vẻ đẹp
Mị vốn là đóa hoa đẹp của núi rừng:
+ Nhan sắc rực rỡ tươi thắm tỏa ra sức cuốn hút: Ngày tết, trai làng đến đứng nhẵn cả chân vách đầu
buồng Mị
+ Tâm hồn phong phú, bay bổng, tài hoa: khẽ uốn chiếc lá trên môi là cả thế giới xa xăm kì diệu sẽ
mở ra, Mị thổi sáo giỏi, bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị.
+ Chăm làm
+ Hiếu thảo
+ Tràn đầy khát vọng tự do
+ Xứng đáng được yêu, và cũng đã từng được yêu, say mê trong những đêm tình hò hẹn, hồi hộp
lặng lẽ đợi chờ…
Thế nhưng, hạnh phúc ngắn ngủi và quá đỗi mong manh, bởi Mị sinh ra đã phải đội trên đầu món nợ
truyền kiếp…
3.1.3. Số phận bất hạnh: Con dâu gạt nợ.
Câu chuyện Mị về làm dâu:
• Lý do: bố lấy mẹ không đủ tiền cưới, phải vay nhà thống lí, tận khi già mà chưa trả hết nợ. Mẹ
chết, thống lí đòi lấy Mị làm con dâu để xoá nợ, mối nợ truyền kiếp, dai dẳng, khó thoát, bóng của
kiếp sống nô lệ, cùng khổ đổ lên người dân nghèo qua thế hệ này đến thế hệ khác. Câu nói từ bên
trong của bố Mị “không thể nào khác được con ơi” giống như một dấu triện đóng lên thân phận nô lệ
của Mị.
• Phản ứng: đề nghị bố lao động trả nợ chứ quyết không muốn bị bán cho nhà giàu: “Con nay đã
biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương trả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”.
Ta chợt đau lòng nhớ đến câu nói của cái Tí ngày nào “con van thầy, con van u, thầy u đừng bán con
tội nghiệp, để con ở nhà chơi với em con” (Tắt đèn- Ngô Tất Tố). Điều đó cho thấy Mị thà sống vất
vả, nghèo khổ mà tự do còn hơn sống trong giàu sang mà chịu đoạ đày nô lệ. Đó cũng là khát vọng
tự do mãnh liệt và niềm tin trong sáng, hồn nhiên của tuổi trẻ.
• Bị nhà thống lí lừa bắt đi, ban đầu “hàng mấy tháng, đêm nào cũng khóc”, nhận thức sâu sắc tình
cảnh quẫn bách của bản thân: sống cũng như chết, Mị đã tìm đến lá ngón để tự tử. Đây là phản ứng
tiêu cực của lòng yêu sống và khát vọng tự do.
• Dần dần, cha chết, Mị không còn nghĩ tới cái chết, Mị đã mất đi khả năng phản ứng với cuộc sống
phi nhân tính, thực chất, cô chỉ còn sống đời sống vật chất, còn tinh thần và tâm hồn đã chết, nhẫn
nhục, cam chịu, vô hồn.
* Cùng với thời gian, “lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau”, khi được chết thì Mị lại không buồn
chết nữa. Cách sử dụng phép đối, cách đếm thời gian chậm rãi, đều đặn cho ta thấy khoảng thời gian
đủ để vô hồn hoá con người, nhấn con người vào câm lặng, “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”.
Mị tưởng: mình cũng là con trâu, con ngựa. Nhưng không chỉ thế, “Con ngựa, con trâu làm còn có
lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả
đêm cả ngày”- bị bóc lột sức lao động tàn nhẫn. Càng ngày, Mị càng lùi lũi như con rùa nuôi trong
xó cửa. Mị đã bị tê liệt khả năng phản ứng với cuộc sống vô nghĩa, phản ứng của con người không
còn cảm thấy ý nghĩa cuộc đời, cam chịu sống mảnh đời khuất lấp, quên lãng, như cái cây, tảng đá,
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
đồ vật trong không gian nhà thống lí. Từ vị trí con dâu (quyền thế, đáng trọng) đến thân thế: con nợ,
người ở (rẻ rúng, coi thường), ta đã đủ thấy cái tàn nhẫn bất công với Mị.
• Căn buồng, không gian sống của Mị là một nơi kín mít, chỉ có một chiếc cửa sổ bé, đúng hơn là chỉ
có một lỗ vuông bằng bàn tay, lúc nào trông ra cũng chỉ thấy mờ mờ trăng trắng, không biết là sương
hay là nắng, Mị đã mất hết ý niệm về thời gian. Đó là một không gian tối tăm, bức bối, lạnh lẽo, đầy
âm khí- biểu tượng ám gợi về địa ngục trần gian, nơi cầm tù tuổi thanh xuân của con người, biến Mị
từ một cô gái trẻ trung phơi phới thành một con người vô cảm, cam chịu.
Tóm lại: Mỵ là hiện thân những đau khổ của người phụ nữ nói riêng, của người dân miền núi trước
Cách mạng nói chung.
- Bị bóc lột sức lao động tàn nhẫn, phải làm quần quật như một thứ lao động khổ sai: Tết đến thì lên
núi hái thuốc phiện, giữa mùa thì giặt đay, se đay, đến mùa thì đi nương, bẻ bắp...bao giờ cũng thế,
suốt năm suốt đời như thế, lời văn của Tô Hoài nặng trĩu những day dứt xót xa...
- Bị chà đạp về thể xác, bị đánh đập dã man, bị bắt trói bất cứ lúc nào. Muốn đi chơi: trói; muốn sưởi
lửa: trói; làm mất một con bò: trói...
- Bị đầy đoạ về tinh thần, Mị trở thành con người vô cảm, bị đè nặng bởi ý nghĩ: ta là thân đàn bà, bị
bắt về trình ma nhà nó rồi, chỉ còn đợi ngày rũ xương ở đây thôi... Cuộc sống của Mỵ ở nhà Thống
Lý Pá Tra như ngục thất (ý nghĩa căn buồng Mỵ ở). Bị bóng ma vô hình cột chặt cuộc đời nô lệ với
nhà Thống lý, nhiều khi trở nên cam chịu, sống mà như chết.
Tiểu kết:
Miêu tả cuộc sống làm dâu, nhà văn khám phá một mảng hiện thực mới: cuộc sống, số phận đau khổ
của người lao động miền núi – những con người bị cường quyền, thần quyền, cái nghèo, những áp
chế về tinh thần đẩy vào tình trạng sống vô nghĩa, vô cảm.
Phải chăng cô Mị trẻ đẹp, tràn đầy xuân sắc xuân tình của ngày xưa đã chết? Không, ngòi bút nhân
đạo của Tô Hoài đã cho ta thấy, dù lay lắt đói khổ, bị đọa đày cùng cực đến đâu, sức sống của người
lao động chỉ tạm thời bị vùi lấp chứ không thể bị triệt tiêu, nó vẫn như đốm than hồng từ lâu âm ỉ
cháy, chỉ đợi ngọn gió lành là sẽ bùng lên. Và ngọn gió ấy đã tới trong đêm tình mùa xuân, để ta thấy
một cô Mị lạc quan, yêu đời đang dần dần hồi sinh trong sự sống.
Đó cũng là nội dung chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp ở tiết học thứ hai.
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

VỢ CHỒNG A PHỦ - TÔ HOÀI (TIẾT 4)

Dạng đề 1: Phân tích một chi tiết, hình ảnh…
Dạng đề 2: Phân tích nhân vật
Dạng đề 3: Phân tích một khía cạnh giá trị tác phẩm (giá trị nhân đạo mới mẻ độc đáo của tác
phẩm, giá trị hiện thực sâu sắc, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật)
Dạng đề 4: Phân tích một trích đoạn (đêm tình mùa xuân, đêm mùa đông cắt dây trói cho A Phủ)
Dạng đề 5: Dạng đề liên kết (So sánh hình tượng người phụ nữ trong hai tác phẩm “Vợ chồng A
Phủ” và “Vợ nhặt”; so sánh hai đoạn trích; so sánh nhân vật Pá tra, Bá Kiến…)
GỢI Ý CÁCH LÀM CÁC DẠNG BÀI
Dạng 1: Cách làm bài: các ý cơ bản cần đảm bảo
Ý 1: tái hiện chi tiết, tình tiết, hình ảnh, vị trí và tình huống mà chi tiết xuất hiện
Ý 2: Phân tích ý nghĩa biểu đạt về nội dung và nghệ thuật của chi tiết, hình ảnh
Ý 3: Đánh giá sự đặc sắc của chi tiết hình ảnh trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm, trong
thành công của nghệ thuật tác phẩm.
Ví dụ: Chi tiết tiếng sáo được nhắc đến nhiều lần
+ Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi
+ Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng
+ Mà tiếng sao gọi bạn yêu vẫn lơ lửng bay ngoài đường
+ Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi,..
- Ý nghĩa
+ Tiếng sáo biểu hiện cho vẻ đẹp của phong tục, nét đẹp văn hóa người dân miền núi. Tiếng sáo là
biểu tượng đẹp đẽ nhất của tình duyên, của tuổi thanh xuân căng đầy sức sống của Mỵ.
+ Là biểu tượng cho tiếng gọi cuộc sống, tình yêu; nó đã lay gọi, khơi gợi lòng yêu đời, yêu cuộc
sống tự do trong Mị. Trong đêm tình xuân, tiếng sáo ấy làm Mỵ “thiết tha, bổi hổi”, là tác nhân quan
trọng làm thức dậy trong Mị khát vọng tình yêu và hạnh phúc - dấu hiệu đầu tiên của sự hồi tỉnh là
Mị sống lại với những kỉ niệm ngày trước. Nếu như trước đây, Mị tồn tại trong trạng thái vô hồn, vô
cảm, với cảm thức phi thời gian, thì bây giờ Mị đã có ý thức về thời gian, trái tim đã đập những nhịp
bồi hồi, xao xuyến, thôi thúc Mỵ bất chấp cảnh ngộ, muốn đi chơi.
+ Có quan hệ mật thiết với quá trình diễn biến tâm lí của Mị, là động lực thúc đẩy Mị đi đến hành
động chuẩn bị đi chơi xuân
+ Thể hiện tư tưởng của tác phẩm: sức sống con người cho dù bị giẫm đạp, trói buộc nhưng vẫn luôn
âm ỉ chờ cơ hội bùng lên  giá trị nhân đạo
2- Chi tiết căn buồng Mị
- Đó là căn buồng “kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng
chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”
- Ý nghĩa tả thực: là nơi Mị sống hằng ngày, chật chội và tù túng.
- Ý nghĩa biểu tượng: Như một nhà tù đã giam hãm cuộc đời và tuổi xuân của Mị, làm tê liệt ý thức
sống, ý thức phản kháng của Mị. Sống ở đó Mị đã mất hết ý thức về thời gian, không còn nghĩ đến
quá khứ hiện tại, tương lai mà xem “mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa”, ngày càng “lùi
lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”  Phản ánh cuộc sống đen tối, mờ mịt của người lao động miền
núi dưới ách thống tị của cường quyền và thần quyền. Giá trị hiện thực, tố cáo.
3- Chi tiết lá ngón
Mị nghĩ đến lá ngón 3 lần:
- Lần 1: “Mị ném nắm lá ngón xuống đất, nắm lá ngón Mị đã tìm hái trong rừng, Mị vẫn giấu
trong áo”- định ăn lá ngón để tự tử -> ý thức về cuộc sống tủi nhục của mình -> không chấp nhận
kiếp sống “người-vật”.
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
- Ý nghĩa:
+ “Lá ngón” xuất hiện lần đầu tiên như một lối thoát. Đây là lối thoát ngắn và hữu hiệu nhất, sự phản
kháng quyết liệt nhưng vô vọng – một hình thức phản kháng bị động.
+ Sự xuất hiện của “lá ngón” lúc này mang tầm ý nghĩa tố cáo xã hội ép buộc con người lương thiện
đi tìm cái chết.
+ Lá ngón cũng là hiện thân cho nỗi thống khổ của nhân dân, cho những tích tụ đắng cay, đầy đau
đớn và uất hận.
+ Tự mình tìm đến lá ngón – độc dược của rừng xanh là sự can đảm của người con gái. Nhưng ném
đi độc dược để tiếp tục sống khổ lại càng can đảm hơn. Đối với Mị, thà chết đi hơn sống nhục, nhưng
rồi lại thà sống nhục còn hơn bất hiếu. Chính chữ hiếu là bản lĩnh cao đẹp nơi người con gái trẻ.
+ “Lá ngón” như vậy, đã mang một tầng ý nghĩa nhân sinh tuy bản thân tượng trưng cho cái chết.
Tìm đến cái chết như một phương tiện giải thoát chính là hành động để khẳng định lòng ham sống,
khát vọng tự do. Điều đó cho thấy, phải tha thiết sống lắm thì khi mất nó người ta mới muốn chết
ngay đi. Còn khi niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc đã băng giá lại thì cũng chẳng còn gì
thúc đẩy người ta nghĩ về cái chết. Đó là lí do cắt nghĩa vì sao khi người cha đã mất rồi mà ý nghĩ về
nắm lá ngón không trở lại với Mị, chừng nào cô còn là một cái bóng vật vờ trôi theo guồng công việc
và không còn nhớ đến cả sự xót thương mình.
- Lần 2 : “Lần lần, mấy năm sau, bố Mị chết. Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn
lá ngón tự tử nữa. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”
Người thân duy nhất qua đời nhưng cái thôi thúc giải thoát trong Mị nay đã tắt. Mị không còn nghĩ
đến đấu tranh bởi lẽ sống hay chết đối với cô lúc này không quan trọng nữa và đương nhiên “lá
ngón” cũng chẳng còn trong tâm trí đã ngủ quên. Đó chính là sự xuất hiện lần thứ hai của “lá ngón”
vì ở lần này, “lá ngón” xuất hiện bằng cách ra đi. Lá ngón phai mờ tượng trưng cho sự ham sống đã
nguội lạnh.
- Lần 3 : Trong đêm tình xuân: “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay,
chứ không buồn nhớ lại nữa”.
+ Tiếng sáo gọi bạn làm Mỵ nhớ lại những tháng ngày tươi đẹp trong quá khứ
+ Mị lấy rượu ra uống “ực từng bát”- Mị đang uống khát khao, mơ ước, căm hận vào lòng, nhưng
càng uống càng tỉnh, nhớ lại mình ngày xưa, so với mình hiện tại, giật mình cho những gì bấy lâu
phải chịu đựng, ý thức cá nhân dâng lên mạnh mẽ, không thể chấp nhận nhục nhã đớn đau trong cái
cảnh “sống không ra người”, không thể tự do thể xác, lá ngón một lần nữa xuất hiện. Khi muốn giải
thoát, Mị tìm tới lá ngón; khi Mị muốn chết, lá ngón lại hiện về “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc
này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa”. Lá ngón lại lần nữa xuất hiện với tầng
ý nghĩa giải thoát, nhưng được lên một nấc của “sự tự ý thức”, đánh dấu sự trở lại của ý thức sống,
đánh dấu sự thức tỉnh của một tâm hồn tưởng chừng như đã “chết đi trong cõi sống”.
+ Lần xuất hiện này của lá ngón là quan trọng nhất, mạnh mẽ nhất. Mị nghĩ đến lá ngón với sự
cương quyết tột cùng, trạng thái phẫn nộ và ý thức rõ nhất vì giờ đây, cô không còn gì để hối tiếc.
Tuổi xuân đầu đời – thời gian đẹp nhất – nay đã hết, cha già – nguồn yêu thương vô tận cũng không
còn. Lòng Mị nay là cõi chết. Lá ngón đối với nàng không là liều thuốc độc, mà trở thành thứ
phương tiện, hình thức, con đường để đi đến một bến bờ khác không còn đớn đau, Mị tìm đến lá
ngón là tìm đến cái chết như một sự tự cứu và phản kháng.
- Khái quát: chấm màu xanh lá ngón vào bức tranh xô bồ của thời cuộc, Tô Hoài đã đưa “lá ngón”
từ chỗ độc dược ngàn đời của núi rừng, là cái chết từ thiên nhiên, nay bỗng nhiên lại là sự giải thoát.
Lá ngón xuất hiện ba lần với ba tầng ý nghĩa ngày càng sâu sắc hơn, dữ dội hơn. Cái độc của lá ngón
còn thua cái độc của xã hội. Lá càng độc là đớn đau đồng bào chịu càng nhiều. Lá ngón trở thành dấu
hiệu báo động cho sự khẩn thiết, cầu cứu của đồng bào miền cao.
Dạng 2
Phân tích nhân vật Mị
+ Tổng quát: Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm. Vị trí, ý nghĩa hình tượng nhân vật Mị trong việc
biểu hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
+ Phân tích: Số phận bất hạnh. Sự hồi sinh khát vọng sống và khát vọng tự do.
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
+ Đánh giá: Vai trò, ý nghĩa hình tượng với giá trị tác phẩm: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mới
mẻ, độc đáo. Đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng. So sánh với hình tượng phụ nữ khác.
Phân tích nhân vật A Phủ
+ Tổng quát: Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm. Vị trí, ý nghĩa hình tượng nhân vật A Phủ trong
việc biểu hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
+ Phân tích: Số phận bất hạnh. Phẩm chất:
+ Đánh giá: Vai trò, ý nghĩa hình tượng với giá trị tác phẩm: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mới
mẻ, độc đáo. Đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng
Dạng 3: Giá trị nhân đạo mới mẻ độc đáo.
+ Phân tích dựa vào ba luận điểm.
- Tố cáo thế lực thống trị, cường quyền, thần quyền đã liên kết để tước đoạt quyền sống của những
con người đáng ra phải được hạnh phúc nhất.
- Đồng cảm sâu sắc với số phận con người nghèo khổ miền núi trước cách mạng.
- Khám phá, phát hiện vẻ đẹp, phẩm chất người lao động, đặc biệt là khát vọng sống tự do.
+ Ở mỗi luận điểm: phân tích ở cả hai nhân vật, có sự đối chiếu, liên hệ khéo léo với các nhân vật
đồng dạng khác trong văn học.
Dạng 4: Phân tích đêm tình mùa xuân
Dựa vào phần kiến thức cơ bản, phân tích diễn biến tâm trạng của Mị, qua đó thấy được:
+ Khát vọng sống và khát vọng tự do mãnh liệt.
+ Nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế.
Dạng 5: So sánh
1. So sánh hình tượng người phụ nữ trong hai tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” và “Vợ nhặt”.
+ So sánh dựa trên các đặc điểm chủ yếu: Số phận và Phẩm chất.
+ Qua so sánh thấy được đặc trưng thi pháp văn học kháng chiến, đồng thời làm rõ nét riêng trong
giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của hai tác phẩm
2. So sánh nhân vật Pá tra và Bá Kiến
Nội dung chính
Phân tích nhân vật Bá Kiến
Lai lịch nhân vật: Nhà Bá Kiến bốn đời làm tổng lí. Con trai hắn làm lí trưởng. Bản thân Bá Kiến
làm lí trưởng rồi làm chánh tổng. Hắn leo lên đỉnh cao của danh vọng “Bá hộ tiên chỉ làng Vũ Đại”
“Chánh hội đồng kì hào, huyện hào, Bắc kì nhân dân đại biểu”. Hắn có phe cánh mạnh luôn đối địch
với bọn cường hào trong làng.
Bản chất Bá Kiến
- Gian hùng, nham hiểm
- Thủ đoạn dùng người
- Ném đá giấu tay.
- Đểu cáng tàn bạo, dâm ô đồi bại:
Nghệ thuật xây dựng nhân vật. Bá Kiến là nhân vật điển hình.
+ Bá Kiến có nét chung của giai cấp thống trị tham lam tàn bạo không từ một thủ đoạn nào để bóc lột
người nghèo (giống Nghị Quế, Nghị Lại…)
+ Bá Kiến có nét riêng của tên ác bá gian hùng, nham hiểm, thủ đoạn (cái cười để thử dây thần kinh
người, lối nói giả dối…)
+ Nghệ thuật độc đáo, sắc sảo của Nam Cao: Các nhà văn hiện thực khác chỉ chú ý miêu tả ngoại
hình giai cấp thống trị, còn Nam Cao ít chú ý ngoại hình khi xây dựng nhân vật Bá Kiến. Ông chủ
yếu khắc họa tâm địa “Cụ cười nhạt nhưng giòn giã lắm”, “Bao giờ cụ cũng quát để thử dây thần
kinh người”, “tiếng cười Tào Tháo”…
Tóm lại: Bá Kiến là nhân vật tiêu biểu cho giai cấp thống trị đương thời. Bá Kiến là sự hội tụ những
nét tàn bạo, xảo quyệt, đểu cáng của bọn người bóc lột.
Nhân vật Pá Tra
Lai lịch nhân vật: Đời bố Pá Tra đã làm thống lý, đến Pá Tra bây giờ cũng làm thống lý – người cai
quản một vùng bản làng miền núi của người Mèo (như chức chánh tổng ở miền xuôi), quyền uy nhất
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
vùng: “Nhà Pá Tra làm thống lý, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có
nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng”
Bản chất của Pá Tra: Tàn ác tham lam đến lạnh lùng vô cảm
+ Mục đích bóc lột khống chế người dân để làm giầu và làm tăng thế lực.
+ Thủ đoạn: Cho vay nặng lãi để bóc lột người dân một cách tàn ác, trói buộc người dân vào thân
phận nô lệ. Cách thu nợ tàn ác. Dùng thế lực cường quyền và bóng ma thần quyền để cai trị người
dân. Đối xử độc ác phi nhân tính với người ở
Nghệ thuật xây dựng nhân vật Pá Tra
Giống nhau: Bản chất tàn ác thâm hiểm của giai cấp bóc lột trong xã hội thực dân nửa phong kiến từ
đó thấy được giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc của tác phẩm. Gợi căm phẫn trong lòng người đọc về xã
hội bất công và mong ước xã hội công bằng. Đây là điểm gặp gỡ của những nhà văn hiện thực và
nhân đạo chủ nghĩa.
Khác nhau
+ Về nội dung : Bá Kiến điển hình cho giai cấp thống trị ở miền xuôi trước cách mạng Tháng Tám
trong không khí xã hội ngột ngạt, mâu thuẫn xung đột dữ dội. Pá Tra tiêu biểu cho giai cấp thống trị
miền núi, dưới chế độ phong kiến thổ ti, lang đạo, u mê.
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nam Cao có nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, tài năng
diễn tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ trần thuật …Tô Hoài có tài năng ở nghệ thuật tả cảnh và phong tục
tộc quán, cảnh xử kiện, cảnh sinh hoạt rất đặc trưng cho miền núi và tính cách nhân vật tiêu biểu cho
giai cấp thống trị lạnh lùng tàn ác phi nhân tính.
Kết thúc vấn đề: Nam Cao xây dựng Bá Kiến thể hiện sức sáng tạo dồi dào của cây bút là bậc thầy
của chủ nghĩa hiện thực. Ông được coi là “Đồng minh không ngờ của cách mạng” góp phần tố cáo
xã hội bất công. Tô Hoài xây dựng thành công nhân vật Pá Tra mở ra cái hiện thực về chế độ phong
kiến bất công ở miền núi xưa như ông quan niệm “Viết văn là một quá trình đấu tranh để nói ra sự
thật”.
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×