Tải bản đầy đủ

Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại tại trại trần thị mai xóm soi vàng xã tân cương thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

TRẦN THỊ TRÂM

Tên đề tài :
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI
TẠI TRẠI TRẦN THỊ MAI - XÓM SOI VÀNG - XÃ TÂN CƢƠNG
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ.”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành: Thú Y
Khoa:

Chăn nuôi Thú y


Khóa học:

2011-2016

Thái Nguyên- năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

TRẦN THỊ TRÂM

Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI
TẠI TRẠI TRẦN THỊ MAI - XÓM SOI VÀNG -XÃ TÂN CƢƠNG
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ.”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2011- 2016
Giảng viên hƣớng dẫn: TS. Hồ Thị Bích Ngọc

Thái Nguyên- năm 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tại trường, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận
tình của các thầy cô trong trường, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Chăn
nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Đến nay tôi đã hoàn

thành chương trình học tập và thực tập tốt nghiệp.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lời cảm ơn sâu
sắc tới Nhà trường, các thầy cô giáo, bạn bè trong khoa Chăn nuôi Thú y. Đặc
biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo TS. Hồ Thị Bích Ngọc, giảng viên
Khoa Chăn nuôi Thú Y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình
hướng dẫn tôi trong thời gian thực tập để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ công nhân viên trại lợn của cô Trần
Thị Mai xóm Soi Vàng- Xã Tân Cương- Thành phố Thái Nguyên đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài trong quá trình thực tập tại cơ sở.
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè và người thân đã tạo điều kiện
giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập, thực tập để hoàn thành
đề tài này.
Trong suốt quá trình thực tập, bản thân tôi không tránh khỏi những
thiếu sót. Kính mong được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô để tôi được
trưởng thành hơn trong cuộc sống sau này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2015.
Sinh viên

Trần Thị Trâm


ii

LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành một kỹ sư hoặc bác sỹ trong tương lai ngoài việc phải trang
bị cho mình một lượng kiến thức về lý thuyết, mỗi sinh viên cần phải trải qua
giai đoạn thực tập thử thách về thực tế. Chính vì vậy thực tập tốt nghiệp là
một trải nghiệm thực tế và đây cũng là một khâu quan trọng đối với các
trường đại học nói chung và trường đại học nông lâm nói riêng. Đây là thời
gian cần thiết để mỗi sinh viên củng cố kiến thức đã học trong nhà trường, áp
dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn để học hỏi thêm nhiều kinh
nghiệm, tiếp cận với các phương pháp nghiên cứu khoa học, kỹ thuật mới, áp
dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn, sản xuất, góp phần vào sự
phát triển của ngành chăn nuôi của nước nhà.
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường và ban chủ nhiệm khoa
Chăn nuôi Thú Y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự giúp đỡ nhiệt
tình của giáo viên hướng dẫn và các anh kỹ sư trại lợn nái ngoại của cô Mai,
tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn
lợn nái ngoại tại trại Trần Thị Mai - xóm Soi Vàng- xã Tân Cƣơngthành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”.
Sau thời gian thực tập, được sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo, cùng
sự giúp đỡ tận tình của các anh kỹ sư trong trại và sự nỗ lực của bản thân em đã
hoàn thành được khóa luận. Do thời gian có hạn và mới làm quen với công tác
nghiên cứu khoa học nên luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót. Kính
mong được sự giúp đỡ, góp ý chỉ bảo của thầy cô giáo, bạn bè để khóa luận của em
được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Các chỉ tiêu chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung ................. 12
Bảng 3.1.Sơ đồ bố trí thí nghiệm .................................................................... 23
Bảng 4.1. Lịch phòng bệnh của trại lợn nái .................................................... 28
Bảng 4.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 33
Bảng 4.3. Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại Trần Thị Mai ................... 34
Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo lứa đẻ ............. 35
Bảng 4.5. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo tháng .............. 36
Bảng 4.6. Tỷ lệ mắcbệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái theo điều kiện đẻ........ 37
Bảng 4.7.Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung bằng các pháp đồ điều
trị sử dụng trong đề tài..................................................................... 38
Bảng 4.8: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái
sau khi khỏi bệnh ............................................................................. 39


iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

cs

: Cộng sự

Nxb

: Nhà xuất bản

STT

: Số thứ tự

TT

: thể trọng

Kg

: Kilogam


v

MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1.Cơ sở khoa học ............................................................................................ 3
2.1.1. Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục lợn cái ............................ 3
2.1.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái ................................................... 5
2.1.3. Sơ lược về Bệnh viêm tử cung (Metritis) ............................................... 7
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ..................................... 14
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 15
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 16
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
......................................................................................................................... 19
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 19
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 19
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 19
3.3.1. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 19
3.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi.............................................................................. 19
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 20
3.4.1.Phương pháp theo dõi ............................................................................ 20
3.4.2. Phương pháp xác định phác đồ điều trị hữu hiệu ................................. 21
3.4.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm.............................................................. 22


vi

3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu.................................................................... 23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 24
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 24
4.1.1. Công tác chăm sóc nuôi dưỡng ............................................................. 24
4.1.2. Công tác thú y ....................................................................................... 26
4.1.2. Công tác khác ........................................................................................ 32
4.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận .............................................................. 34
4.2.1. Điều tra cơ cấu đàn lợn nái của trại ...................................................... 34
4.2.2. Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại
tại trại Trần Thị Mai ........................................................................................ 35
4.2.3. Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung bằng các pháp đồ điều trị
sử dụng trong đề tài. ........................................................................................ 38
4.2.4. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau
khi khỏi bệnh ................................................................................................... 39
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 43
5.1. Kết luận .................................................................................................... 43
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 45


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn có vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi nước ta. Theo
USDA, năm 2015 nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của Việt Nam vào khoảng 2,245
triệu tấn, tăng 1,8% so với năm 2014. Vì vậy, chăn nuôi lợn cần được ưu tiên
phát triển hơn nữa. Chăn nuôi lợn không những cung cấp thịt trong nước mà
còn dùng để xuất khẩu. Ngoài ra, nó còn là cơ hội cải thiện sinh kế cho những
người có thu nhập thấp thông qua chăn nuôi, chế biến, thương mại các sản
phẩm từ chăn nuôi.
Để hướng tới phát triển chăn nuôi hàng hóa bền vững, người chăn nuôi
cần phải cải tạo đàn lợn giống để có chất lượng con giống tốt và mang lại giá
trị kinh tế cao. Tại các trại chăn nuôi cũng như chăn nuôi hộ gia đình đang
được đẩy mạnh chăn nuôi lợn ngoại. Bởi vì, chăn nuôi lợn ngoại không những
cho năng suất cao, tăng khối lượng nhanh mà còn đáp ứng được tốt nhất nhu
cầu của người tiêu dùng.
Nắm được yếu tố đó, tại trại lợn của bà Trần Thị Mai ở xóm Soi Vàng xã Tân Cương - thành phố Thái Nguyên đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất có
1.200 con nái. Tuy nhiên, trong quá trình chăn nuôi luôn gặp phải những khó
khăn ngoài các nguyên nhân như các chính sách, chi phí đầu vào... còn phải
đối mặt với dịch bệnh, đặc biệt là bệnh sản khoa. Một trong những bệnh sản
khoa thường gặp là bệnh viêm tử cung ở lợn nái. Bệnh này tuy không xảy ra ồ
ạt như bệnh truyền nhiễm nhưng gây chết thai, lưu thai, sẩy thai, nghiêm
trọng hơn là bệnh làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa
tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và sự phát triển của ngành
chăn nuôi lợn. Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại


2

tại trại Trần Thị Mai - xóm Soi Vàng - xã Tân Cương - thành phố Thái
Nguyên và biện pháp phòng trị”
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái ngoại nuôi tại
trại và đưa ra được phác đồ điều trị có hiệu quả cao.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm
những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn, là cơ sở khoa học cho những
biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ xác định được tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn
nái, từ đó đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả.
Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài giúp cho người chăn nuôi hạn chế
được những thiệt hại do bệnh gây ra.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục lợn cái
Cấu tạo cơ quan sinh dục lợn cái gồm bộ phận sinh dục bên ngoài (âm
môn, âm vật, tiền đình) và bộ phận sinh dục bên trong (âm đạo, tử cung, ống
dẫn trứng, buồng trứng). Mỗi bộ phận này đều đảm nhiệm một chức năng
khác nhau và giữ một vai trò quan trọng khác nhau.
2.1.1.1. Bộ phận sinh dục bên ngoài
 Âm môn (Vulva)
Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn. Bên ngoài có hai
môi dính với nhau ở mép trên và mép dưới. Bờ trên của hai môi có sắc tố màu
đen và nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng, hơi dính và tuyến tiết mồ hôi.
 Âm vật (Clitoris)
Âm vật của con cái được cấu tạo giống như dương vật của con đực thu
nhỏ lại. Trên âm vật có nếp da tạo thành mũ âm vật, ở giữa âm vật gấp xuống
dưới là chỗ tập trung các đầu mút các dây thần kinh.
 Tiền đình (Vetstibulum vaginae simusinogenitalism)
Là giới hạn giữa âm môn và âm đạo. Trong tiền đình có màng trinh.
Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật.
2.1.1.2. Bộ phận sinh dục bên trong
 Âm đạo
Cấu tạo như một ống cơ có thành dày, trước là cổ tử cung, phía sau là
tiền đình có màng trinh.
Âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp: lớp liên kết bên ngoài, lớp cơ trơn,
lớp niêm mạc.


4

Các loại gia súc khác nhau có chiều dài âm đạo cũng khác nhau. Theo
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2], âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm.
Âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là ống
thải của các chất dịch từ trong tử cung.
 Tử cung
Tử cung gồm hai sừng tử cung, một thân và một sừng tử cung.
Tỷ lệ tương đối của mỗi một bộ phận cũng như hình dáng và sự sắp xếp
của các sừng biến động theo loài.
Theo Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương (2002) [8] thì cổ tử
cung của lợn dài và tròn, không gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt dài xen
kẽ cài răng lược với nhau do đó dễ dàng cho việc thụ tinh nhân tạo đồng thời
cũng dễ gây sảy thai.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2] thì cổ tử cung lợn dài 10 - 18
cm.
Thân tử cung dài 3 - 5cm nối giữa sừng tử cung và cổ tử cung.
Sừng tử cung hình ruột non, thông với ống dẫn trứng.
 Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng (vòi Fallop) nằm ở màng treo buồng trứng. Chức năng
của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong
ống dẫn trứng, tiết các chất để nuôi dưỡng trứng, duy trì sự sống và tăng khả
năng sống của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước
khi phôi vào tử cung. Cấu tạo của ống dẫn trứng cũng phù hợp với chức năng
này, một đầu ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có loa
kèn là một màng mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều ôm lấy
trứng. Trứng được vận chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi
xảy ra quá trình thụ tinh và phân chia phôi. Thời gian tế bào trứng di chuyển


5

trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày. Trên đường di hành, tế bào trứng có thể ở
lại các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng.
Có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn chức năng: đoạn tua điểm,
đoạn phễu, phồng của ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng.
 Buồng trứng
Hình dạng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu
dục hoặc ovan dẹt, không có lõm rụng trứng. Buồng trứng có hai chức năng
cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hoocmon: Estrogen, Progesteron và
Inhibin. Các hoocmon này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của
lợn cái.
Theo Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương (2002) [8] thì buồng
trứng của lợn dài 1,5 - 2,5 cm, khối lượng khoảng 3 - 5g.
Cấu tạo: phía ngoài được bao bọc bởi một lớp màng bằng tổ chức liên
kết sợi, bên trong chia làm hai miền: miền vỏ và miền tủy, hai miền đó được
cấu tạo bằng lớp mô liên kết sợi xốp tạo ra cho buồng trứng một chất đệm. Ở
miền tủy có nhiều mạch máu và tổ chức xốp cũng dày hơn. Miền vỏ có tác
dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng.
2.1.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.1.2.1. Sự thành thục về tính
Thành thục về tính là tuổi con vật có phản xạ sinh dục và có khả năng
sinh sản. So với thành thục thể vóc, sự hình thành về tính ở gia súc nói chung
và lợn nói riêng thường sớm hơn, nên người ta thường bỏ qua chu kỳ động
dục đầu tiên, mà phối cho lợn ở chu kỳ sau, khi đó lợn đã phát triển toàn diện
về thể vóc, bộ phận sinh dục và có thể bước vào hoạt động sinh sản.
Sự thành thục về tính được nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận ngoài
của cơ quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh. Đầu tiên hai mép âm môn
sưng đỏ và có dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ thẫm và keo dính. Thần kinh


6

có sự biến đổi từ hưng phấn chuyển sang giai đoạn mê ì. Cùng với sự biểu
hiện sinh dục bên ngoài, ở bên trong buồng trứng cũng có sự biến đổi, các
noãn bào nổi lên trên bề mặt trứng và chín, niêm mạc tử cung tăng sinh, cổ tử
cung mở dần kèm theo tiết dịch.
Ở lợn tuổi thành thục về tính là 6 - 8 tháng (Trần Tiến Dũng và cs 2002
[2]).
2.1.2.2. Chu kỳ tính
Theo Nguyễn Thị Thúy Mỵ và Trần Thanh Vân (2014) [7] cho biết: lợn
cái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu có biểu hiện động dục, lần thứ nhất
thường biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15 - 16 ngày lại động dục, lần
này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ.
Đây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn
toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì
bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, chín và nổi cộm lên bề mặt
buồng trứng. Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng
trứng con vật có biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục.
Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải
trứng sau. Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác
nhau. Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động
trong phạm vi từ 18 - 25 ngày. Khi tiến hành phối giống lợn có chửa thì lợn
không động dục lại. Thời gian có chửa của lợn là 114 ngày, thời gian động
dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày.
2.1.2.3. Sinh lý đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2] thì gia súc cái mang thai trong
một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ
dưới tác động của hệ thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn


7

đẻ để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình
này gọi là quá trình sinh đẻ.
Quá trình sinh đẻ của gia súc cái do co bóp của tử cung, cơ thành bụng,
sức rặn toàn thân đẩy thai, màng nhau thai cùng với nước thai ra ngoài. Quá
trình sinh đẻ được chia làm 3 thời kỳ: thời kỳ mở cổ tử cung, thời kỳ đẻ, thời
kỳ sổ nhau.
Sau khi đẻ một thời gian niêm mạc tử cung có hiện tượng tái sinh.
Trong quá trình tái sinh đó núm nhau mẹ biến đổi và tróc ra. Những mạch
máu của núm nhau mẹ bị vỡ, cùng với bạch cầu và một lượng lớn nước của
thai còn đọng lại trong tử cung. Tất cả các thứ đó được tống ra ngoài và được
gọi là sản dịch.
Sau khi đẻ thể tích tử cung nhỏ lại, thành tử cung dày lên, sự biến đổi
này là do các sợi cơ co lại, các tổ chức liên kết biến đổi.
Hai sừng tử cung buông thõng vào xoang bụng, độ cong của tử cung
cũng không rõ như gia súc đẻ ít lần hoặc chưa đẻ lần nào. Do đó những gia
súc già yếu hoặc đẻ nhiều lần thì tử cung co lại rất yếu.
2.1.3. Sơ lược về Bệnh viêm tử cung (Metritis)
2.1.3.1. Khái niệm về bệnh
Đây là quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản nói chung
và lợn nái sinh sản nói riêng, bệnh thường xảy ra ở gia súc cái sau đẻ. Đặc
điểm của bệnh là quá trình viêm làm phá hủy tế bào tổ chức ở các lớp của tử
cung, gây hiện tượng rối loạn sinh sản, làm ảnh hưởng lớn (thậm chí làm mất)
khả năng sinh sản của gia súc cái.


8

2.1.3.2. Nguyên nhân
Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung:
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [5] cho biết: bệnh viêm tử cung do
dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sát và tạo ra các viêm nhiễm trong tử
cung, do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa
các vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục lợn cái, chuồng trại và
môi trường sống của lợn cái bị ô nhiễm.
Còn theo Trương Lăng và Xuân Giao (2001) [4] thì cho rằng: nguyên
nhân do vi trùng Streptoccocus và Colibacillus nhiễm qua cuống rốn, qua đẻ
khó, sẩy thai, sót nhau hay qua phối giống không đảm bảo vệ sinh.
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [15] thì bệnh viêm tử cung ở lợn
nái thường do các nguyên nhân sau:
Do trong quá trình sinh đẻ, đặc biệt các trường hợp đẻ khó, phải can
thiệp bằng tay hay dụng cụ, làm xây xát niêm mạc đường sinh dục cái.
Do kế phát từ một số bệnh, như sát nhau không can thiệp kịp thời làm
cho nhau thai bị phân hủy thối rữa trong tử cung, gây hiện tượng nhiễm trùng
tử cung.
Do công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ không đảm bảo như nơi
sinh, nền chuồng, dụng cụ đỡ đẻ không vô trùng.
Tất cả các nguyên nhân trên tạo điều kiện cho các tập đoàn vi khuẩn
xâm nhập từ bên ngoài vào tử cung, vào những vết trầy xước của niêm mạc tử
cung. Chúng sinh sôi nảy nở tăng cường về số lượng và độc lực gây viêm.
Các vi khuẩn thường gặp trong bệnh viêm tử cung là Streptococcus,
Staphylococcus, E.coli, v.v…
2.1.3.3. Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và
được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển. Mọi quá trình bệnh lý ở tử
cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản. Hậu quả của viêm tử


9

cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra
được. Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ
dẫn đến một số hậu quả sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai. Lớp cơ trơn ở thành tử
cung có đặc tính co thắt. Khi mang thai sự co thắt của cơ tử cung dưới tác
dụng của Progesteron, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung. Khi bị viêm
tử cung cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều
Prostaglandin (PGF2α), PGF2α gây phá hủy thể vàng ở buồng trứng bằng
cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc
thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng.
Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesteron nữa, do đó hàm lượng
Progesteron trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực cơ của tử cung tăng
gây nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai.
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết
lưu. Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để
giúp phôi thai phát triển. Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesteron
giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó
bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát
triển kém hoặc thai chết lưu.
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong
giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy. Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung,
trong đường sinh dục thường có mặt của vi khuẩn e.coli. Vi khuẩn này tiết ra
nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa giảm, thành phần sữa
cũng bị thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc. Lợn nái bị viêm tử
cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại. Nếu tử cung bị viêm
mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục
tiết Progesteron. Progesteron ức chế thùy trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức


10

chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động
dục trở lại được và không thải trứng được.
2.1.3.4. Phân loại các thể viêm tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [15] cho biết: tùy vào vị trí tác
động của quá trình viêm đối với tử cung, người ta chia ra 3 thể viêm khác
nhau:
 Viêm nội mạc tử cung
Đó là quá trình viêm xảy ra ở trong lớp niêm mạc của tử cung. Đây là
thể viêm nhẹ nhất trong các thể viêm tử cung.
Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là
trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp, làm niêm mạc tử cung bị tổn thương,
tiếp đó là các vi khuẩn xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc và gây viêm
(Setter Green I., 1986 [20]).
Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000) [10] bệnh viêm nội
mạc tử cung có thể chia làm 2 loại: viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có
mủ và viêm nội mạc tử cung màng giả.
- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ (Endomestritis
puerperalis Catarhalis purulenta acuta): chỉ gây tổn thương ở niêm mạc tử cung.
Khi bị bệnh, gia súc có một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt hơi cao,
ăn uống giảm, lượng sữa giảm. Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, tỏ vẻ
không yên tĩnh. Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với
dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết…
Nếu điều trị kịp thời và tích cực, sau hai tuần bệnh có thể khỏi hẳn.
- Viêm nội mạc tử cung màng giả: tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử,
tổn thương lan sâu xuống phần dưới cơ của tử cung và chuyển thành viêm
hoại tử.


11

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2] ở thể viêm này, niêm mạc tử
cung thường bị hoại tử. Lợn nái mắc bệnh này thường xuất hiện triệu chứng
toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, ăn uống giảm, kế phát viêm vú, con vật đau
đớn. Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ.
lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch,…
 Viêm cơ tử cung
Đó là quá trình viêm xảy ra ở lớp cơ tử cung, có nghĩa là quá trình viêm
đã xuyên qua lớp niêm mạc của tử cung đi vào phá hủy tầng giữa (lớp cơ
vòng và cơ dọc của tử cung). Đây là thể viêm tương đối nặng trong các thể
viêm tử cung.
Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân
nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn.
Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng, màu đỏ thẫm. Gia súc
biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục. Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra
ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên
có mùi tanh thối. Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc.
 Viêm tương mạc tử cung
Đó là quá trình viêm xảy ra ở lớp ngoài cùng. Đây là thể viêm nặng
nhất và khó điều trị nhất trong các thể viêm tử cung.
Theo Đặng Đình Tín (1986) [16] viêm tương mạc tử cung thường kế
phát từ viêm cơ tử cung. Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất
hiện những triệu chứng điển hình và nặng. Nếu bị viêm nặng nhất là viêm có
mủ, lớp tương mạc có thể dính với các tổ chức xung quanh gây nên tình trạng
viêm mô tử cung, thành tử cung dày lên có thể kế phát viêm phúc mạc. Lợn
nái biểu hiện triệu chứng toàn thân: nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ
rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn. Lượng
sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú. Con vật luôn biểu hiện đau
đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong rặn liên tục. Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều
hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm. Khi kích


12

thích vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ rệt, từ âm hộ chảy ra
nhiều dịch hơn. Nếu điều trị không kịp thời bệnh thường trở thành thể mãn
tính, thành ngoài tử cung thường dính với các tổ chức xung quanh, vị trí các
bộ phận của cơ quan sinh dục thường bị thay đổi, quá trình thụ tinh và sinh đẻ
lần sau gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn đến tình trạng vô sinh.
2.1.3.5. Chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [15] thì để chẩn đoán phân biệt
các thể viêm tử cung, người ta dựa vào các triệu chứng điển hình ở cục bộ và
toàn thân. Việc chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung có ý nghĩa quan
trọng trong việc áp dụng những phác đồ điều trị thích hợp với từng thể viêm,
nhằm đạt kết quả điều trị cao: thời gian điều trị ngắn, chi phí cho điều trị thấp;
đặc biệt là đảm bảo khả năng sinh sản cho gia súc cái nói chung và lợn nái
sinh sản nói riêng sau khi khỏi bệnh. Có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng sau:
Bảng 2.1. Các chỉ tiêu chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung
Các triệu

Viêm nội mạc

Viêm cơ

Viêm tƣơng mạc

chứng

(thể nhẹ +)

(thể vừa ++)

(thể nặng+++)

Sốt (°C)

Sốt nhẹ 38,539,5

Sốt cao 39,5- 40,5

Sốt rất cao 40,541,5

Dịch viêm
- Máu

Trắng ,xám

Hồng, nâu đỏ

Nâu rỉ sắt

- Mùi

Tanh

Tanh thối

Thối khắm
Rất đau kèm theo

Phản ứng đau

Đau nhẹ

Đau rõ

triệu chứng viêm
phúc mạc


13

2.1.3.6. Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung
 Phòng ngừa bệnh viêm tử cung
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [5], để phòng bệnh viêm tử cung ta
cần: kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ thụ tinh, phải đúng quy cách và vô trùng
cẩn thận; tay người thụ tinh viên phải rửa sạch, sát trùng trước khi làm công
tác thụ tinh nhân tạo; không sử dụng lợn đực bị bệnh đường sinh dục để lấy
tinh cũng như cho nhảy trực tiếp; thực hiện vệ sinh chuồng trại và bãi chăn
thả của lợn cái.
Theo Trương Lăng và Xuân Giao (2001) [4] thì tắm rửa lợn sạch sẽ, tẩy
uế chuồng trước khi cho lợn vào đẻ. Lót ổ rơm sạch hàng ngày. Nếu lợn trước
khi đẻ béo quá thì cho ăn rau, quả, trước đẻ 5 - 7 ngày giảm thức ăn tinh để
lợn đẻ dễ, không sót nhau.
Trong khuôn khổ của đề tài, tôi tiến hành thử nghiệm phòng bệnh Viêm
tử cung cho lợn nái theo các bước sau:
- Vệ sinh chuồng nái đẻ, đặc biệt là bộ phận sinh dục trước và sau đẻ
sạch sẽ, phun sát trùng bằng dung dịch aldekol.
- Đảm bảo vệ sinh nguồn nước, giảm khẩu phần ăn cho nái trước khi sinh.
- Thực hiện khâu đỡ đẻ đúng kỹ thuật. Tay người đỡ đẻ phải được sát
trùng kỹ trước khi thao tác.
- Khi phối giống cho lợn bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo cần phải
đảm bảo vệ sinh sạch sẽ trước khi phối, sát trùng dụng cụ dẫn tinh, khi dẫn
tinh phải nhẹ nhàng, đảm bảo đúng kỹ thuật.
- Sau khi lợn đẻ xong tiêm ngay 1 liều kháng sinh vetrimoxin LA hoặc
amoxinject LA, liều 1ml/10kg TT và tiêm 1 mũi oxytocin 2ml/ con.
 Biện pháp điều trị
Để điều trị bệnh viêm tử cung có hiệu quả cần phải theo dõi sát đàn lợn
để phát hiện, chẩn đoán và đưa ra biện pháp điều trị sớm có hiệu quả cao.


14

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [6] cho biết: dùng
oxytocin với liều 20- 40 UI/con/ngày, để làm dạ con co bóp tống chất ứ bẩn,
dịch viêm ra ngoài. Sau đó thụt rửa tử cung bằng han – iotdine 5%, tiêm
kháng sinh: gentamicin 4% 1ml/6Kg TT hoặc lincomycin 10% 1ml/10Kg TT
liên tục 3- 5 ngày.
Còn theo Trương Lăng và Xuân Giao (2001) [4] thì: Bơm thụt rửa tử
cung sau khi đẻ xong bằng thuốc tím 1%, hay rivanol 1%, hoặc bơm vào tử
cung furazolidon hay đặt vào 4 viên cloranol/ ngày khi có sốt cao. Tiêm
streptomycin hoặc penicillin 1 - 2 vạn đơn vị/ Kg TT.
 Phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn của Trần Thị Mai
Điều trị bằng thuốc
Phác đồ I:
Vetrimoxin L.A. tiêm bắp 1ml/10kg TT/ ngày, tiêm 3 - 5 mũi/nái, cách
1 ngày tiêm 1 mũi.
Oxytocin tiêm bắp 2ml/con/ ngày.
Kết hợp với chăm sóc, hộ lý và vệ sinh chuồng trại tốt.
Phác đồ II:
Pendistrep L.A: 1ml/20kg TT/ngày, tiêm 3 - 5 mũi/nái, cách 1 ngày
tiêm 1 mũi.
Oxytocin tiêm bắp 2ml/con/ngày.
Thuốc trợ sức
Vitamin C tiêm bắp 5ml/con/ngày.
Vitamin B1 tiêm bắp 5ml/con/ngày.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc
Hiện nay vấn đề bệnh sinh sản đã và đang được nghiên cứu một cách
toàn diện. Tuy nhiên cho đến nay những tư liệu về bệnh sản khoa ở lợn còn


15

rất ít. Và trong những tư liệu về nghiên cứu đó, cũng chỉ tập trung vào nghiên
cứu bệnh Viêm tử cung ở lợn.
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới, ngành chăn nuôi đang rất phát triển, đặc biệt là
chăn nuôi lợn, các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống vật
áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất
chăn nuôi. Để cải tạo chất lượng đàn giống thì vấn đề hạn chế bệnh sinh sản
là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết, đặc biệt là bệnh viêm tử cung. Do
đó, đó có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh viêm tử cung và đã đưa
ra các kết luận giúp cho người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh
này. Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất
cao.
Theo Sobko A.I và GaDenKo N.I (1987) [12], nguyên nhân của bệnh
viêm tử cung là do tử cung bị tổn thương, do hiện tượng sát nhau. Bệnh
phát triển là do nuôi dưỡng không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục
những chất kích thích đẻ, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhày ở bộ
máy sinh dục.
Theo Madec.F và Neva.C (1995) [19], hiện viêm tử cung âm ỉ kéo dài
từ lứa đẻ trước đến lần động dục tiếp theo có thể giải thích nguyên nhân làm
giảm độ mắn đẻ, từ đó làm giảm năng suất sinh sản. Ông cũng cho biết,
khi tiến hành nghiên cứu trên đàn lợn nái ở xứ Brơ-ta-nhơ (Pháp) năm
1991 thì phát hiện thấy 15% số lợn nái bị viêm tử cung. Viêm tử cung
thường bắt đầu bằng sốt ở một vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vào ngày hôm
sau và bệnh thường kéo dài 48 đến 72 giờ.
Theo nguồn tin từ trang web www.Science direct.com, Công ty Bayer
nghiên cứu 828 lợn nái đẻ được chia thành 4 nhóm gồm:
Nhóm 1: không được điều trị.


16

Nhóm 2: điều trị bằng 25g hỗn hợp theo tỷ lệ 1,25g furazolidone + 5g
sulphadimidine sodiumsulfat.
Nhóm 3: điều trị bằng 2,5mg/kg P enrofloxacin
Nhóm 4: điều trị bằng 5mg/ kg P enrofloxacin
Kết quả cho thấy khi dùng enrofloxacin làm giảm tỷ lệ chết ở lợn con,
giảm tỷ lệ sốt và hiện tượng pH sữa mẹ tăng cao.
Cũng theo trang web này, ở Anh người ta đo nhiệt độ lợn nái sau đẻ và
đưa ra biện pháp phòng trị cho bất cứ lợn nái nào có nhiệt độ lớn hơn 39,5oC.
Ở Cuba, các bác sỹ thú y sử dụng dung dịch lugol 5% điều trị đạt kết quả
cao và dùng thuốc neometrina đặt trong tử cung đạt kết quả điều trị cao.
Theo Trekaxova A.V (1983) [17], trong số các nguyên nhân dẫn tới ít
sinh đẻ và vô sinh của lợn thì các bệnh ở cơ quan sinh dục chiếm từ 5 - 15%.
Dixensi Viridep (1997) [18], dùng rivanol 1% thụt rửa đạt kết quả cao
và không ảnh hưởng đến gia súc.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, ngành chăn nuôi ngày càng phát triển kèm theo đó là dịch
bệnh, gây thiệt hại lớn về kinh tế, làm giảm tỷ lệ chăn nuôi. Do đó công tác
thú y cũng được ra đời nhằm khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất sinh
sản và chữa trị bệnh kịp thời làm tăng thu nhập của các hộ chăn nuôi và trang
trại chăn nuôi. Đã có một số nhà khoa học thú y có những nghiên cứu tổng kết
về bệnh viêm tử cung. Song những tư liệu về bệnh viêm tử cung ở lợn nái còn
rất ít. Dưới đây là một số nghiên cứu về bệnh viêm tử cung:
Theo Trần Tiến Dũng (2004) [3], bệnh viêm đường sinh dục ở lợn
chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50 %, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít (20 %), còn
lại là viêm tử cung (80 %).
Lê Xuân Cường (1986) [1], lợn nái chậm sinh sản do nhiều nguyên
nhân. Trong đó tổn thương bệnh lý sinh dục chiếm tỷ lệ đáng kể.


17

Viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi
sinh. Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn thương lớp niêm mạc. Từ đó gây ảnh
hưởng sự tiết Prostagladin F2 và làm xáo trộn chu kỳ động dục làm tăng tình
trạng chậm sinh và vô sinh. Trong đó biểu hiện chậm động dục khi xảy ra sẽ
làm giảm sức sinh sản của lợn nái, giảm số vòng quay lứa đẻ trong năm.
Ngoài ra, phải tốn chi phí thuốc điều trị, phải loại thải sớm lợn nái do chậm
động dục làm giảm hiệu quả kinh tế của trại chăn nuôi (Nguyễn Văn Thanh, 2002
[13]).
Đồng thời cũng có nhiều tác giả đưa ra những phác đồ điều trị bệnh
như sau:
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [15], dùng oxytoxin 6ml tiêm
dưới da, lugol 200ml, thụt tử cung, ampicillin 3 - 5 gr tiêm bắp hay tĩnh mạch
tai, ngày 1 lần, liều trình điều trị từ 3 - 5 ngày. Có thể cùng neomycin
12mg/kg TT, thụt tử cung, nhưng không dùng chung với lugol.
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt (2004) [9] cho biết: dùng thuốc tím 0,1%
thụt vào tử cung, kết hợp với penicillin và tiêm oxytocin.
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [6], dùng theo phác đồ: tiêm
oxytocin 20 – 40 UI/con/ngày, thụt rửa âm đạo bằng dung dịch hanidin 5%
hoặc dung dịch lugol 1% hoặc rivanol 1% thụt rửa nhiều lần, sau khi thụt rửa
đặt một viên han – v.t.c, 2 ngày liên tục và tiêm bắp hanoxylin LA với liều
1ml/10kg TT.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2], khi gia súc bị bệnh viêm tử
cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng
các chất sát trùng với thể tích lớn. Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co
bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh
nặng thêm. Các tác giả đề nghị nên dùng oxytocin kết hợp PGF2 hoặc kết
hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×