Tải bản đầy đủ

Đồ án Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại và những giải pháp để các doanh nghiệp Việt Nam vượt qua rào cản chống phá phá giá ở các nước nhập khẩu

MỤC LỤC
Lời mở đầu..............................................................................................................................................4
BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI. NHỮNG
GIẢI PHÁP ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VƯỢT QUA RÀO CẢN CHỐNG PHÁ PHÁ
GIÁ Ở CÁC NƯỚC NHẬP KHẨU........................................................................................................5
I/ Khái niệm bán phá giá, các hình thức, vai trò và mặt trái của bán phá giá.........................................5
1.Khái niệm bán phá giá......................................................................................................................5
2. Phân loại..........................................................................................................................................5
3. Mặt trái và vai trò của bán phá giá..................................................................................................7
II/ Những nguyên nhân của hành động bán phá giá và điều kiện được xem là bán phá giá...................8
1. Những nguyên nhân của hành động bán phá giá............................................................................8
1.1. Bán phá giá nhằm đạt mục tiêu chính trị thao túng các nước khác.....................................9
1.2. Do có các khoản tài trợ của Chính phủ................................................................................9
1.3. Bán phá giá cũng có thể xảy ra trong trường hợp một nước có quá nhiều hàng tồn kho
không thể giải quyết theo cơ chế giá bình thường........................................................................10
1.4. Bán phá giá được sử dụng như công cụ cạnh tranh...........................................................11
1.5. Một nước có thể do nhập siêu lớn, cần phải có ngoại tệ để bù đắp cho thiếu hụt này.......11
1.6. Một số nước làm ra được một số sản phẩm với giá thành rất thấp là nhờ sử dụng lao
động trẻ em tiền lương thấp và sử dụng lao động của tù nhân làm hàng xuất khẩu....................11
1.7. Ở Việt Nam có hiện tượng một số công ty kinh doanh hàng nhập khẩu trả chậm, đã bán
phá giá nhằm dùng nguồn vốn nước ngoài để kinh doanh mặt hàng khác và hàng nhập lậu với

khối lượng lớn...............................................................................................................................12
2. Điều kiện được xem là bán phá giá...............................................................................................12
III/ Khái niệm về chống bán phá giá.....................................................................................................13
1. Khái niệm về chống bán phá giá...................................................................................................13
2. Mục tiêu và bản chất của các biện pháp chống bán phá giá..........................................................15
IV/ GIỚI THIỆU HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO.................................................17
1. Xác định việc bán phá giá............................................................................................................17
1.1. Định nghĩa phá giá.............................................................................................................17
1.2. Nguyên tắc xác định phá giá:.............................................................................................17
1.3. Tính biên độ phá giá...........................................................................................................17
2. Xác định thiệt hại.........................................................................................................................19
2.1. Định nghĩa thiệt hại:..............................................................................................................19
2.2. Nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước...........................................................21
3. Ngành sản xuất trong nước..........................................................................................................21
4. Nộp đơn yêu cầu tiến hành chống phá giá..................................................................................21
5. Thu thập thông tin.........................................................................................................................23
6. Áp dụng biện pháp tạm thời..........................................................................................................24
7. Cam kết giá...................................................................................................................................25
8. Áp dụng thuế và thu thuế chống bán phá giá...............................................................................26
9. Truy thu thuế................................................................................................................................27
10. Rà soát.........................................................................................................................................28
11. Thông báo công khai và giải thích các kết luận..........................................................................29
12. Cơ chế khiếu kiện độc lập...........................................................................................................30
13. Chống bán phá giá thay mặt nước thứ ba....................................................................................30


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
14. Thành viên đang phát triển..........................................................................................................30
15. Uỷ ban chống bán phá giá...........................................................................................................30
16. Trao đổi và giải quyết tranh chấp................................................................................................31
17. Điều khoản cuối cùng..................................................................................................................31
V/ Quy định của WTO về chống bán phá giá và các hình thức đối kháng...........................................32
1. Các quy định của WTO về bán phá giá.........................................................................................32
2. Các hình thức đối kháng.............................................................................................................38
VI/ Vai trò của việc áp dụng chống bán phá giá và các biện pháp tự vệ...............................................41
VII/ Hậu quả của việc áp dụng chống bán phá giá và các hình thức đối kháng...................................43
VI/ Thực trạng bán phá giá và chống bán phá giá trên thế giới và Việt Nam.......................................44
1.Thực trạng của bán phá giá và chống bán phá giá trên thế giới.....................................................44
2. Thực trạng của bán phá giá và chống bán phá giá tại VN.............................................................51
2.1 Thực trạng bán phá giá hàng nhập khẩu của nước ngoài ở Việt nam....................................51

2.2 Thực trạng của bán phá giá và chống bán phá giá tại Việt Nam............................................56
VIII/ Đề xuất giải pháp để vượt rào cản chống bán phá ở nước nhập khẩu..........................................67
Kết luận.................................................................................................................................................74
Tài liệu tham khảo.................................................................................................................................76

Page 2


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế

Lời mở đầầu
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và quốc tế nền kinh tế, hội nhập và tham gia các tổ chức
kinh tế quốc tế là xu thế không thể đảo ngược đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển
kinh tế của mình.
Cùng với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt nam đã đạt
được thành tựu khá ngoạn mục trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá. Trong khi những
mặt hàng xuất khẩu của Việt nam ngày càng có uy tín trên thị trường thế giới đã xuất hiện một
số trường hợp hàng xuất khẩu của nước ta bị nước nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế chống
bán phá giá để tạo ra hàng rào bảo hộ, ngăn cản hàng hoá của ta không cho xuất khẩu vào thị
trường của nước họ. Việt nam tham gia vào ASEAN, APEC và đàm phán xin gia nhập WTO
đồng nghĩa với sự thay đổi sâu sắc các chính sách thương mại liên quan tới việc mở cửa thị
trường. Hiện tượng bán phá giá hàng nước ngoài chắc chắn sẽ ngày càng tăng trên thị trường
nước ta, có thể gây ra những tổn thất lớn cho các nhà sản xuất tương tự trong nước do hàng
rào bảo hộ bằng các biện pháp hạn chế định lượng có thể biến mất, đồng thời thuế suất thuế
nhập khẩu cũng giảm xuống.
Đứng trước thực tế đó, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu và sớm áp dụng các công cụ
bảo hộ mới phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong đó có
thuế chống bán phá giá. Đây là việc làm mang tính cấp bách và cần thiết vì lợi ích và yêu cầu
của đất nước.
Bài tiểu luận này xin đề cập tới một số nét khái quát về lý luận của việc bán phá giá,
thuế chống bán phá giá và thực trạng áp dụng thuế chống bán phá giá tại một số nước đại diện
cho những khu vực kinh tế điển hình, cũng như thực trạng và giải pháp của Việt nam trước
việc hàng hoá nước ngoài nhập khẩu vào bán phá giá ở thị trường nước ta và việc hàng xuất
khẩu của Việt nam ra nước ngoài bị kiện bán phá giá qua vụ việc Hiệp hội các chủ trại nuôi cá
Nheo Mỹ(CFA) kiện các doanh nghiệp xuất khẩu Việt nam bán phá giá sản phẩm fillet cá Tra,
cá Basa, tụm trên thị trường Mỹ.

Page 3


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế

BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI.
NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VƯỢT QUA RÀO
CẢN CHỐNG PHÁ PHÁ GIÁ Ở CÁC NƯỚC NHẬP KHẨU

I/ Khái niệm bán phá giá, các hình thức, vai trò và mặt trái của bán phá giá
1.Khái niệm bán phá giá
Theo Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADP) bán phá giá là việc bán một
hàng hoá nào đó với giá thấp hơn giá của nó trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Nói
một cách đơn giản, để xác định hành động bán phá giá ta phải so sánh giá cả ở hai thị trường.
Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định giá hàng hoá ở thị trường nước xuất khẩu (giá trị bình
thường) và giá ở thị trường nước nhập khẩu (giá xuất khẩu) để tạo ra cơ sở chính xác cho sự
so sánh giá trên hai thị trường là khá phức tạp.
Theo WTO, giá trị bình thường của hàng hoá là giá của hàng hoá đã được ấn định phụ
thuộc vào sức tiêu thụ trên thị trường nước xuất khẩu. Khi không có giá nội địa để so sánh thì
gía trị bình thường được coi là tổng các chi phí sản xuất, tiêu thụ hàng hoá cộng với một phần
lợi nhuận nào đó. Hoặc theo cách khác, giá trị bình thường có thể là giá xuất khẩu sang một
nước thứ ba.Trong trường hợp khi nước xuất khẩu chưa được công nhận là có nền kinh tế thị
trường thì giá trị bình thường được xác định trên cơ sở giá hàng hoá tương tự của một nước
thứ ba có nền kinh tế thị trường.
2. Phân loại
Căn cứ theo thông lệ quốc tế

Theo thông lệ quốc tế, người ta chia hành động bán phá giá thành 2 loại: bán phá giá hàng sản
xuất trong nước trên thị trường nội địa và bán phá giá hàng nhập khẩu. Hai trường hợp này
thường được tách riêng và được giải quyết theo hai bộ luật riêng biệt.
- Bán phá giá hàng sản xuất trong nước trên thị trường nội địa là việc cá nhân hoặc tổ
chức sản xuất đặt giá tiêu thụ thấp hơn giá thành tại thị trường trong nước. Mục tiêu của hành
động bán phá giá này là nhằm loại bỏ khỏi thị trường, hoặc ngăn cản sự thâm nhập thị trường,
của một doanh nghiệp hay một sản phẩm của doanh nghiệp.
Page 4


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
- Bán phá giá hàng nhập khẩu là việc doanh nghiệp nước ngoài bán hàng hóa dưới chi
phí tại nước nhập khẩu.
Căn cứ theo Hiến chương Havana

Trong thời gian đàm phán dẫn tới Hiến chương Havana về quan hệ thương mại quốc tế,
những nước tham gia đã chia việc phá giá thành 4 loại:
- Phá giá về giá: Là hành vi được quy định trong điều VI của Hiệp định GATT (“sản
phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh trên thị trường của một nước khác với giá thấp
hơn giá trị thông thường của sản phẩm”).
- Phá giá dịch vụ: Là hành vi tạo ra lợi thế về giá do có phá giá cung cấp dịch vụ vận
tải biển.
- Phá giá hối đoái: Là hành vi dựa trên cơ sở khống chế tỷ giá hối đoái để đạt được lợi
thế cạnh tranh.
- Phá giá xã hội: Là hành vi xuất phát từ việc nhập khẩu hàng hoá với giá thấp do tù
nhân hay lao động khổ sai sản xuất.
Hoặc căn cứ theo mục đích và biểu hiện cũng có thể phân thành 3 loại bán phá giá:
- Bán phá giá dai dẳng, thì hàng hóa liên tục được bán với một giá thấp hơn so với giá
cả trong nước nhập khẩu. Tình trạng này là tình trạng mà trong đó hàng hóa đơn giản là
hàng nhập khẩu khác được bán dưới những điều kiện tối đa hóa lợi nhuận. Bất kỳ hàng rào
thương mại nào cũng sẽ dẫn đến một giá cả cao hơn đối với người tiêu dùng trong nước
nhập khẩu và ảnh hưởng của phúc lợi của chúng
- Bán phá giá thường xuyên: một xí nghiệp nước ngoài sẽ bán tại giá cả thấp cho đến
khi những nhà sản xuất trong nước bị loại ra khỏi thị trường; lúc đó giá cả sẽ gia tăng bởi
sự độc quyền xuất hiện. Những nhà sản xuất trong nước lúc đó có thể được lôi kéo trở lại
thị trường cho đến khi giá cả giảm xuống trở lại. Có một tranh luận có giá trị cho việc bảo hộ
với việc bán phá giá thường xuyên do việc di chuyển nguồn lực lãng phí. Khi những nhân tố
sản xuất di chuyển vào và ra một ngành bởi ảnh hưởng của giá cả nhập khẩu thì chi phí và
và sự lãng phí đổ dồn cho xã hội.
- Bán phá giá không thường xuyên sẽ xuất hiện khi nhà sản xuất nước ngoài (hoặc
chính phủ) với một thặng dư sản phẩm tạm thời xuất khẩu số này tại bất cứ giá nào mà nó
cần. Việc bán phá giá theo kiểu này có thể có những ảnh hưởng xấu tạm thời đến việc cạnh
Page 5


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
tranh với những nhà cung cấp trong nước chủ nhà bởi việc làm gia tăng rủi ro trong hoạt
động của ngành. Những rủi ro này cũng như sự mất mát phúc lợi từ việc di chuyển nguồn
lực tạm thời có thể được tránh khỏi bởi việc đưa ra chính sách bảo hộ, mặc dù những ảnh
hưởng phúc lợi khác có thể được đưa vào trong phân tích khi xem xét những hạn chế
thương mại. Tuy nhiên, việc bán phá giá thường xuyên dường như không biện hộ được
việc bảo hộ trong ngắn hạn.

3. Mặt trái và vai trò của bán phá giá
Bản thân khái niệm bán phá giá đã cho thấy tác động lớn nhất của bán phá giá là việc gây ra
thiệt hại vật chất cho các ngành kinh doanh trong nước. Tổn thất này rất lớn xét trên cả góc độ
vĩ mô và vi mô.
- Trên góc độ vĩ mô: một ngành sản xuất bị đe dọa sẽ kéo theo việc phá sản của nhiều
doanh nghiệp thuộc ngành đó, đồng thời dẫn đến tình trạng mất việc làm của nhân viên và
gây ra các tác động dây chuyền tới những ngành kinh doanh khác.
- Trên góc độ vi mô: khi đối mặt với hiện tượng bán phá giá, doanh nghiệp sẽ bị mất thị
trường và mất lợi nhuận. Đây thực sự là mối lo ngại không chỉ của các nước phát triển mà của
cả các nước đang phát triển, vì lợi thế so sánh của các nước luôn thay đổi và cạnh tranh ngày
càng trở nên gay gắt hơn trên thị trường quốc tế. Chính vì lẽ đó, các doanh nghiệp sản xuất
nội địa đều muốn chính phủ bảo vệ họ trước hiện tượng bán phá giá.
Xét ở góc độ người tiêu dùng, việc hàng hóa nước ngoài được bán phá giá sẽ mang lại những
lợi ích cụ thể, trước mắt cho họ do mua được hàng hóa với giá rẻ. Việc bán phá giá sẽ kéo
theo hàng loạt những tác động xấu cho các ngành sản xuất trong nước. Nó dần dần bóp chết
các ngành sản xuất non trẻ và thiếu sức cạnh tranh. Ngoài ra, một khi hàng hóa bán phá giá đã
chiếm lĩnh được thị trường thì các nhà xuất khẩu chắc chắn không dừng lại ở đó mà họ sẽ
nâng dần giá hàng để thu lợi nhằm bù đắp những chi phí của việc bán phá giá. Lúc đó, người
tiêu dùng sẽ phải mua hàng hóa với giá cao.
Như vậy có thể thấy tác động của việc bán phá giá là: gây thiệt hại cho ngành sản xuất
nội địa nhưng lại mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Về tổng thể, toàn xã hội cũng được lợi
từ bán phá giá.

Page 6


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
Xuất phát từ thành kiến cố hữu, việc "bán phá giá" thường được coi là có tác động tiêu
cực, thường vì lý do làm giảm lợi nhuận của những người bán hàng khác hoặc gây thiệt hại
cho các nhà sản xuất cùng một mặt hàng của nước nhập khẩu, cho nên người ta thường tìm
biện pháp để chống lại hành động này. Cần phải có sự phân tích thấu đáo bản chất của mọi
trường hợp bán phá giá để xem có phải tất cả mọi hành động bán phá giá đều có hại hay
không để từ đó có biện pháp đối phó thích ứng.
Tuy nhiên dưới góc độ kinh tế, việc bán phá giá không phải không đem lại những lợi
ích nhất định:
- Dưới góc độ của nước xuất khẩu, bán phá giá tạo điều kiện cho nhà sản xuất có điều
kiện phát huy tối đa năng lực sản xuất, khả năng tăng lợi nhuận và thâm nhập thị trường mới;
- Khi bán phá giá, các doanh nghiệp thực hiện bán phá giá có khả năng đánh bại đối
thủ, loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường nước ngoài. Và tùy thuộc vào
khả năng cạnh tranh và mức độ phá giá, có thể trở thành doanh nghiệp độc quyền, độc quyền
nhóm, qua đó tận dụng lợi thế của doanh nghiệp độc quyền để tăng lợi nhuận;
- Trong một số trường hợp, doanh nghiệp có mức tồn kho lớn, để giải phóng hàng tồn
kho, doanh nghiệp có thể bán phá giá để giải phóng hàng tồn kho hoặc trong trường hợp khan
hiếm ngoại tệ hoặc tìm kiếm ngoại tệ trong trường hợp khẩn cấp, doanh nghiệp có thể thực
hiện bán phá giá.
Nhìn chung, các chuyên gia kinh tế đều nhìn nhận rằng bán phá giá là hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong quan hệ kinh doanh quốc tế. Mặc dù người tiêu dùng sẽ được hưởng
lợi vì được mua hàng hóa với mức giá rẻ hơn mức giá thông thường, nhưng bán phá giá có
thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự của nước nhập khẩu.
Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tìm mọi cách, mà trước tiên là bằng việc
thỏa thuận thông qua các điều ước quốc tế và xây dựng pháp luật quốc gia, để chống lại hành
vi bán phá giá, nhằm bảo vệ thị trường và nền sản xuất trong nước của mình.

Page 7


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
II/ Những nguyên nhân của hành động bán phá giá và điều kiện được xem là bán phá
giá
1. Những nguyên nhân của hành động bán phá giá
Mỗi một hành động bán phá giá đều nhằm đạt được một số mục tiêu cụ thể và có một số
nguyên nhân dẫn đến hành động đó. Chúng ta có thể phân tích và tổng hợp thành một số
nhóm nguyên nhân như sau:
1.1. Bán phá giá nhằm đạt mục tiêu chính trị thao túng các nước khác
Chính phủ Mỹ đặc biệt quan tâm đến xuất khẩu gạo bởi vì cạnh tranh giá gạo bây giờ
ảnh hưởng lớn đến việc đạt các mục tiêu quan trọng khác. Mỹ sẵn sàng bỏ ngân sách mua
phần lớn số gạo trên thị trường thế giới rồi bán phá giá. Điều này làm cho nhiều nước xuất
khẩu gạo phải lao đao và sẽ phải chịu vòng phong toả của Mỹ. Chẳng hạn, giá xuất khẩu gạo
của Mỹ khoảng 400USD/ tấn, nhưng các nhà xuất khẩu gạo Mỹ sẵn sàng mua với giá
500USD/ tấn, thậm chí cao hơn đến 800USD/tấn, và họ cũng sẵn sàng bán ra thị trường thế
giới chỉ bằng 60 - 70%, thậm chí đến 40% giá mua. Mức giá này thấp hơn nhiều so với giá
thành của chính nông dân Mỹ sản xuất ra. Như vậy, Mỹ có thể sẵn sàng bỏ ra 700 - 800 triệu
USD/ năm để tài trợ giá xuất khẩu gạo nhằm thực hiện mục tiêu của mình. Chính vì điều này
mà mặc dù sản lượng gạo của Mỹ hàng năm thấp nhưng Mỹ lại thao túng giá gạo trên thị
trường thế giới.
1.2. Do có các khoản tài trợ của Chính phủ
Chính phủ các nước phương Tây coi tài trợ là con đường ngắn nhất để đạt đuợc sự cân
bằng kinh tế và đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách tối ưu. Chính sách tài trợ nhằm
đạt được hai mục đích sau:
 Duy trì và tăng cường mức sản xuất xuất khẩu
 Duy trì mức sử dụng nhất định đối với các yếu tố sản xuất như lao động và tiền vốn
trong nền kinh tế. Các khoản tài trợ có thể được cấp cho người sản xuất cũng như cho người
tiêu dùng, nhưng về mặt tác động kinh tế thì chúng đều như nhau vì đều đưa đến những hệ
quả tương tự.

Page 8


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
Những hình thức tài trợ chủ yếu là: Trợ cấp, ưu đãi về thuế, tín dụng ưu đãi, sự tham gia
của Chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như hỗ trợ xuất khẩu.
- Trợ cấp: Đặc điểm cơ bản của trợ cấp là hướng vào giúp đỡ phát triển sản xuất. ở các
nước công nghiệp phát triển, các khoản trợ cấp chiếm một nửa toàn bộ khối lượng tài trợ. Tỷ
trọng của các khoản trợ cấp cho từng ngành trong tổng số giúp đỡ của Chính phủ có sự khác
nhau đáng kể giữa các nước. Như ở Anh, ý, Hà Lan thì trợ cấp chiếm phần lớn.
- Ưu đãi về thuế: Những ưu đãi về thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho một số
ngành trong một số loại hoạt động riêng biệt. Chúng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước,
mặc dù ít khi được phản ánh trong các chỉ tiêu của Chính phủ vì chúng là ngoại lệ khi áp
dụng các thuế suất chuẩn. ở Anh, Bỉ, Đan Mạch, giá trị của chúng không lớn, còn ở Mỹ thì
tổng số ưu đãi về thuế cho công nghiệp lớn gấp 3 lần khối lượng trợ cấp.
- Ưu đãi về tín dụng: Những ưu đãi về tín dụng là sự cho vay của Chính phủ với điều
kiện hấp dẫn hơn là tìm kiếm trên thị trường vốn. ở các nước thuộc Cộng đồng Kinh tế Châu
Âu khoảng 14% tổng khối lượng giúp đỡ cho công nghiệp được thực hiện dưới hình thức tín
dụng ưu đãi. Phần lớn khối lượng tín dụng của Chính phủ Nhật bản cấp cho các hãng vừa và
nhỏ với lãi suất thấp hơn ở lãi suất thị trường vốn 0,5%.
Các Chính phủ cũng thường xuyên bảo đảm các khoản tín dụng, tức là bảo lãnh cho các
công ty vay mà không trả nợ được. Phương pháp tài trợ này thường dùng cho các hợp đồng
xuất khẩu để đảm bảo cho các công ty xuất khẩu của nước mình. Theo đánh gái, quy mô của
tài trợ này chiếm vào khoản từ 2% đến 8% tổng tài trợ công nghiệp ở các nước công nghiệp
phát triển.
- Tham gia của Chính phủ vào chi phí kinh doanh: Sự tham gia của Chính phủ vào chi
phí kinhdoanh thường là 15% tổng tài trợ trở xuống. Từ thập kỷ 80 đến nay, phần sở hữu
Nhà nước trong hoạt động kinh doanh có xu hướng giảm. Phương pháp này được sử dụng để
bù đắp những tổn thất trong những lĩnh vực kinh tế riêng đang suy thoái.
Hiện nay, tài trợ công nghiệp vẫn được Chính phủ các nước phương Tây duy trì ở mức
khá cao. Trên thực tế, các khoản tài trợ giúp các ngành thực hiện công nghệ mới, trang bị máy
và thiết bị hiện đại, nghĩa là giúp các ngành mới gia nhập thị trường và đẩy mạnh phát triển
những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, tăng cường xuất khẩu.
Page 9


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
1.3. Bán phá giá cũng có thể xảy ra trong trường hợp một nước có quá nhiều hàng tồn
kho không thể giải quyết theo cơ chế giá bình thường
Trong nền kinh tế hàng hóa trước đây, khi gặp khủng hoảng thừa, các chủ doanh nghiệp
thường chất đống hàng hoá của mình, châm lửa đốt, hoặc đổ xuống biển để giữ giá, nhất định
không bán phá giá. Còn hiện nay, ở các nước kinh tế phát triển, gặp trường hợp này, nhà buôn
có thể chọn một trong hai giải pháp thường dùng. Trước hết là lưu kho chờ ngày giá lên.
Nhưng lưu kho đòi hỏi phải có chỗ chứa, và chỉ áp dụng được với những mặt hành không bị
hư hỏng. Giải pháp thứ hai là bán xôn. Nhiều khi đây là giải pháp duy nhất đối với một số
mặt hàng: thực phẩm sắp hết thời hạn sử dụng, máy vi tính đời cũ, một số kiểu giầy, quần áo
hết mốt ... Nhiều cửa hàng lớn ở Pháp (Paris) ngay từ khi vào mùa đã có số hàng tồn đọng lên
tới 50% số dự trù bán ra. Hàng tồn kho này sẽ nhanh chóng được mang bán với giá khuyến
mãi thấp hơn 30% giá bán thông thường. Đến cuối mùa, số hàng tụt xuống còn vài phần trăm,
được nhượng lại cho dân bán xôn chuyên nghiệp với giá chỉ bằng 1/10 giá cũ. Dân chuyên
nghiệp sẽ đẩy hết hàng ra nước ngoài, chủ yếu là sang Châu Phi, Châu á và Đông Âu.
1.4. Bán phá giá được sử dụng như công cụ cạnh tranh
Các hãng nước ngoài sử dụng công cụ bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh,
chiếm lĩnh thị trường của các nước nhập khẩu. Sau khi đã giành được vị trí khống chế thị
trường, triệt tiêu được sự cạnh tranh của hàng hoá nội địa thì các hãng nước ngoài sẽ thực
hiện mục tiêu cuối cùng của mình là tăng giá, tìm cách thao túng thị trường để thu được lợi
nhuận tối đa.
1.5. Một nước có thể do nhập siêu lớn, cần phải có ngoại tệ để bù đắp cho thiếu hụt này
Khi đó họ có thể áp dụng công cụ bán phá giá để giải quyết vấn đề thiếu hụt ngoại tệ.
1.6. Một số nước làm ra được một số sản phẩm với giá thành rất thấp là nhờ sử dụng
lao động trẻ em tiền lương thấp và sử dụng lao động của tù nhân làm hàng xuất khẩu
Theo số liệu của Văn phòng Quốc tế về lao động trẻ em (BIT) thì trên toàn thế giới hiện
có tới 250 triệu trẻ em từ 5 - 14 tuổi đang tham gia một hoạt động kinh tế. Còn theo Quỹ Nhi

Page 10


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) thì tại các nước nghèo, cứ 4 trẻ em thì có một trẻ em làm việc
như người lớn.
Việc sử dụng lao động trẻ em và sử dụng lao động tù nhân ngoài việc mang lại siêu lợi
nhuận, nó còn là cách để cạnh tranh đối với các đối thủ làm ăn. Nhờ giá nhân công rẻ mạt,
người ta có thể hạ giá thành sản phẩm, xuất khẩu hàng hoá bán phá giá ở nước ngoài.
1.7. Ở Việt Nam có hiện tượng một số công ty kinh doanh hàng nhập khẩu trả chậm, đã
bán phá giá nhằm dùng nguồn vốn nước ngoài để kinh doanh mặt hàng khác và hàng
nhập lậu với khối lượng lớn
Để làm được việc đó, họ tìm cách bán phá giá trên thị trường, có lúc bán ồ ạt chịu lỗ từ
10 -20% so với giá vốn nhập khẩu để nhanh chóng thu hồi vốn, đi buôn mặt hàng khác có lãi
suất cao hơn, không những đủ bù lỗ số hàng nhập trả chậm, mà còn có lãi lớn.
Năm 1995, ba mặt hàng quan trọng đã bị bán phá giá theo cách tính toán trên là xăng
dầu, thép xây dựng và phân bón. Cuối năm 1995, giá phân Urê Indonesia nhập vào Việt nam
đang ở mức cao (260-265USD/ tấn CIF Cảng Sài gòn), nhưng giá bán buôn cả tàu tại Tân
Quy, Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh liên tục giảm xuống chỉ còn 245đồng/kg.
Ngoài ra, hàng ngoại nhập lậu với khối lượng lớn trong những năm vừa qua thu được
lợi nhuận siêu ngạch từ việc trốn thuế nhập khẩu đã chiếm lĩnh thị trường với giá cạnh tranh
so với hàng sản xuất trong nước, loại khỏi thị trường các doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Tóm lại, có rất nhiều trường hợp các hãng nước ngoài có thể xuất khẩu hàng của mình
sang thị trường nước khác với giá thấp hơn giá nội địa và thậm chí thấp hơn cả chi phí sản
xuất, nhưng không phải tất cả mọi trường hợp đều có thể gán cho cái tên “bán phá giá” để áp
dụng các biện pháp ngăn cản. Trong nhiều trường hợp làm như vậy chỉ tạo ra một sự bảo hộ
không cần thiết cho ngành sản xuất trong nước, làm giảm lợi ích của người tiêu dùng cũng
như của toàn xã hội.
2. Điều kiện được xem là bán phá giá
Theo Hiệp định, để áp dụng biện pháp chống bán phá giá mỗi quốc gia phải thông qua thủ
tục điều tra và chứng minh được 3 yếu tố:
Page 11


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
- Phải có hành vi bán phá giá của hàng hóa nước ngoài trên thị trường trong nước
- Hành vi bán phá giá phải gây thiệt hại đáng kể, hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm
trọng đến ngành sản xuất trong nước của quốc gia nhập khẩu
- Quốc gia nhập khẩu phải chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá
giá và thiệt hại, hoặc nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước mình.
III/ Khái niệm về chống bán phá giá
1. Khái niệm về chống bán phá giá.
Hiện tượng bán phá giá có nguồn gốc khá sớm trong thực tiễn thương mại quốc tế.
Mặc dù còn có những quan điểm khác nhau, song pháp luật các nước đều coi đây là một trong
những hành vi thương mại không lành mạnh. Do đó chính phủ nhiều nước cho rằng họ cần
phải có hành động chống lại hành vi đó nhằm bảo vệ ngành công nghiệp trong nước.
Vấn đề chống bán phá giá lần đầu tiên được Hiệp hội các quốc gia nghiên cứu ngay
từ năm 1922. Đến năm 1947, với sự ra đời của tổ chức GATT, các biện pháp chống bán giá
chính thức được đặt dưới sự chi phối của pháp luật quốc tế. Lúc ấy, đề tài này chưa được
chú ý nhiều mà chỉ về sau, khi thương mại phát triển ngày càng nhanh, sự cạnh tranh trở
nên ráo riết hơn, và các nước thành viên của GATT cũng ngày càng đông đảo hơn, thì
chống bán phá giá mới trở thành một mối quan tâm thật sự. Năm 1967, một số quy định về
chống bán phá giá tại GATT được chuẩn hoá trong Hiệp định về thi hành điều VI của GATT
(Agreement on the Implementation of Article VI), thường được gọi tắt là Hiệp định chống
bán phá giá. Thời gian sau đó, Hiệp định về chống bán giá được bổ sung thêm nhiều nội
dung quan trọng.
Sau vòng đàm phán Uruguay, cùng với sự ra đời của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) các bên đã ký kết Hiệp định về thực thi Điều VI GATT 1994, thường được gọi với tên
“Hiệp định về chống bán phá giá của WTO”. Là một trong những hiệp định thương mại đa
biên của WTO, Hiệp định chống bán phá giá có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các nước
thành viên của WTO.
Các quy định trong Hiệp định là cơ sở pháp lý giúp các nước bảo hộ quyền lợi chính
đáng của các ngành sản xuất trong nước khi xảy ra hiện tượng bán phá giá. Năm 1995,
WTO đã thành lập Uỷ ban về chống bán phá giá để giám sát việc điều tra và áp dụng thuế
Page 12


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
chống bán phá giá đối với các nước thành viên. Sau khi phát hiện ra hàng hoá bị bán phá
giá có khả năng ảnh hưởng đến sản xuất trong nước, các ngành đó đề nghị những cơ quan
hữu trách thực hiện việc điều tra và đưa ra kết luận về việc có thực hiện hay không thuế
chống bán phá giá để bảo vệ sản xuất trong nước.
Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định các biện pháp chống bán phá giá chỉ
được thực hiện trong những hoàn cảnh nhất định và phải đáp ứng được 4 điều kiện sau:
- Sản phẩm đang bán phá giá: Sản phẩm của nước xuất khẩu đang được bán ở thị
trường của nước nhập khẩu với mức giá thấp hơn giá bán thông thường của sản phẩm đó
ở trên thị trường nước xuất khẩu.
- Có sự thiệt hại về vật chất do hành động bán phá giá gây ra hoặc đe doạ gây ra đối
với các doanh nghiệp nội địa đang sản xuất các sản phẩm tương tự với sản phẩm bán phá
giá, hoặc gây ra sự trì trệ đối với quá trình thành lập của một ngành công nghiệp trong
nước.
- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa bán phá giá và thiệt hại vật chất (hoặc đe doạ
gây ra thiệt hại vật chất) do chính hành động bán phá giá đó gây ra. Cơ quan điều tra không
được áp đặt cho hàng nhập khẩu những gì do các yếu tố khác gây ra.
- Tác động của bán phá giá phải có tính bao trùm, ảnh hưởng tới cộng đồng rộng
lớn.

Xuất phát từ quan điểm cho rằng hành vi bán phá giá, ở một mức độ nghiêm trọng nhất
định là hành vi thương mại không công bằng, luật lệ của GATT trước đây và WTO hiện nay
đều cho phép các quốc gia áp dụng biện pháp có tính trả đũa, tự vệ thương mại. Trong các
biện pháp hạn chế thương mại như áp dụng hạn ngạch, hạn chế số lượng, tăng thuế, các biện
pháp hạn chế có tính kỹ thuật, phi thuế quan khác, để chống lại hành vi bán phá giá, các quốc
gia chỉ có quyền áp dụng biện pháp tăng thuế nhập khẩu. Nói cách khác, quốc gia bị thiệt hại
chỉ có thể áp dụng thuế bổ sung (thuế chống bán phá giá) đối với hàng hóa nhập khẩu bị xác
định là bán phá giá. Các biện pháp hạn chế số lượng hay các biện pháp hạn chế phi thuế quan
khác không được coi là hợp pháp.
Quyền áp dụng thuế bán phá giá của quốc gia bị thiệt hại thực chất là quyền có tính
ngoại lệ đối với hai nguyên tắc trong thương mại đa biên: Thứ nhất, đó là ngoại lệ đối với
nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc (MFN). Thuế chống bán phá giá chỉ áp dụng đối với hàng hóa
Page 13


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
cụ thể của quốc gia xuất khẩu cụ thể, đã bị xác định là đối tượng của hành vi bán phá giá. Thứ
hai, áp dụng thuế bán phá giá cũng là ngoại lệ đối với nguyên tắc tôn trọng các cam kết về cắt
giảm thuế. Quốc gia bị thiệt hại không có nghĩa vụ tôn trọng giữ nguyên mức thuế đã cam kết
đối với các hàng hóa nhập khẩu là đối tượng của hành vi bán phá giá bị cấm.
Việc xác định mức thuế chống bán phá giá phải dựa trên trên biên độ phá giá của sản
phẩm có liên quan. Biên độ phá giá chính là sự chênh lệch về giá giữa giá xuất khẩu đang xem
xét với giá thông thường của sản phẩm tại thị trường nội địa, hoặc giá xuất khẩu sang nước thứ
ba, hoặc giá cấu thành của sản phẩm.
Theo quy định của WTO, luật quốc gia một nước thành viên phải phù hợp với các Hiệp
định và quy định của WTO, những văn kiện này được coi như một bộ phận của hệ thống pháp
lý quốc gia. Do đó các đạo luật khung về chống bán phá giá của các nước thường lặp lại tất cả
các nguyên tắc của Hiệp định chống bán phá giá. Để áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tế,
mỗi nước có thể thêm một số điều khoản chi tiết để thi hành, dựa theo thể chế pháp luật riêng
của mình. Như vậy, về các nguyên tắc chung thì luật các quốc gia phải đồng nhất nhưng về mặt
áp dụng thực tiễn, về các quy định liên quan đến thủ tục áp dụng biện pháp chống bán phá giá
thì có thể có những điểm khác nhau. Do đó, các quốc gia có quyền tự do trong việc xây dựng
các thủ tục để xác định hiện tượng bán phá giá và áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với
hàng hóa nhập khẩu vào nước mình. Tình trạng này là nguyên nhân chủ yếu để nhiều nước lợi
dụng áp dụng pháp luật chống bán phá giá như là công cụ thực hiện chính sách bảo hộ thái quá
thị trường nội địa.
2. Mục tiêu và bản chất của các biện pháp chống bán phá giá
Như trên đã phân tích, bán phá giá bị coi là hành vi thương mại quốc tế không công
bằng. Như vậy, để tạo dựng lại thế cạnh tranh cân bằng giữa sản phẩm trong nước và sản
phẩm nhập khẩu, bảo vệ thị trường nội địa chống lại các hành vi cạnh tranh quốc tế không
lành mạnh, các quốc gia có quyền áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Do đó mục tiêu
của các biện pháp chống bán phá giá là để bù đắp lại những thiệt hại cho ngành sản xuất nội
địa phải gánh chịu do hành vi bán phá giá gây ra.

Page 14


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
Mặc dù, mục tiêu của các biện pháp chống bán phá giá được cho là để đảm bảo sự công
bằng trong thương mại quốc tế nhưng trên thực tế không đơn giản như vậy. Đối với các nước
đang phát triển như Ấn Độ, Brazil, Achentina… sử dụng các biện pháp chống bán phá giá để bảo
vệ nền sản xuất còn non trẻ của chính mình. Đối với các quốc gia phát triển, các biện pháp chống
bán phá giá vừa là công cụ để hạn chế mở cửa thị trường, hạn chế sự thâm nhập thị trường từ các
quốc gia đang phát triển và vừa là cái van an toàn cần thiết cho chính họ.
Như trên đã nêu, các quốc gia có quyền tự do trong việc xây dựng các thủ tục để xác
định hiện tượng bán phá giá và áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập
khẩu vào nước mình. Dẫn đến, nhiều quốc gia đã lạm dụng các biện pháp chống bán phá giá
một cách tùy tiện để hạn chế nhập khẩu, hơn là để đạt được các mục tiêu khắc phục có tính
hạn chế mà Hiệp định chống bán phá giá của WTO cho phép.
Theo đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực này thì chống bán phá giá không phải là
chính sách công mà là chính sách tư. Đó là một phương tiện mà một đối thủ cạnh tranh có thể sử
dụng quyền lực của Nhà nước để giành lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ khác. Xét từ góc độ bảo
hộ sản xuất trong nước, bên hưởng lợi là ngành công nghiệp nội địa và nạn nhân của biện pháp này
là các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài. Chúng ta có thể nhận thấy rõ hơn bản chất và mục đích
này thông qua một bản báo cáo của Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ “… mục đích của pháp
luật chống bán phá giá và chống trợ cấp không phải là bảo vệ người tiêu dùng mà là bảo vệ các nhà
sản xuất… Thực chất, chức năng của pháp luật chống bán phá giá là để bảo vệ cho các công ty và
những người lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất ở Hoa Kỳ. Vì vậy, chẳng có gì đáng
ngạc nhiên khi người hưởng lợi từ các lợi ích kinh tế này là các nhà sản xuất, ngược lại các chi phí
kinh tế sẽ do người tiêu dùng gánh chịu”.
Hơn nữa, các quy định chống bán phá giá là một biện pháp khắc phục thương mại mà
các thành viên của WTO đã đồng ý rằng là cần thiết để duy trì hệ thống thương mại đa
phương. Động cơ kinh tế để sử dụng biện pháp chống bán phá giá là nhằm để duy trì thương
mại công bằng. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu gần đây cho thấy có tới 90% các biện pháp
này không nhằm bảo vệ cạnh tranh lành mạnh hoặc thương mại công bằng. Nói cách khác,
biện pháp được coi là hợp pháp của WTO, đến lượt nó, quay lại bóp méo dòng chảy thương

Page 15


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
mại quốc tế và hạn chế sự phát triển nội tại khách quan của hoạt động này, đi ngược lại mục
đích của WTO.
Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, với những ưu thế về lực lượng lao
động trẻ, đông về số lượng, rẻ về giá thành, trong bối cảnh thực hiện chính sách tăng cường
xuất khẩu. Việc hàng hóa Việt Nam là đối tượng chịu sự áp đặt các biện pháp chống bán phá
giá của nhiều thị trường khác là điều không thể tránh khỏi. Do đó các doanh nghiệp Việt Nam
cần chủ động tìm hiểu đầy đủ các quy định về bán phá giá, chống bán phá giá của WTO, cũng
của như các quốc gia nhập khẩu, để từ đó xây dựng các biện pháp đối phó một cách hữu hiệu
và hiệu quả hơn.
IV/ GIỚI THIỆU HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO
Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định rất chi tiết nguyên tắc xác định phá
giá, cách tính biên độ phát giá và thủ tục điều tra phá giá như sau:
1. Xác định việc bán phá giá
1.1. Định nghĩa phá giá
Một sản phẩm được coi là bị bán phá giá khi:
-

giá xuất khẩu sản phẩm đó thấp hơn giá có thể so sánh được trong điều kiện thương

mại thông thường ("giá trị thông thường")
-

của sản phẩm tương tự khi tiêu thụở thị trường nước xuất khẩu

WTO không đề cập đến trường hợp bán phá giá khi sản phẩm tương tự trong thị trường nội
địa của một nước.
Sản phẩm tương tự (SPTT): là sản phẩm giống hệt hoặc có các đặc tính gần giống với sản
phẩm là đối tượng điều tra.
Điều kiện thương mại thông thường: không có định nghĩa. Ví dụ: khi giá bán tại thị trường
nội địa nước xuất khẩu thấp hơn giá thành sản xuất thì có thể coi như là không nằm trong điều
kiện thương mại thông thường.
1.2.
Nguyên tắc xác định phá giá:
Biên độ phá giá (BĐPG) = giá trị thông thường (GTTT) - giá xuất khẩu (GXK)
Page 16


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
BĐPG > 0 -> có bán phá giá
BĐPG có thể tính bằng giá trị tuyệt đối hoặc theo phần trăm công thức:
BĐPG = (GTTT-GXK)/GXK
1.3.
Tính biên độ phá giá
 Cách tính GTTT:
Trường hợp không có giá nội địa của SPTT ở nước xuất khẩu do:
-

sản phẩm không được bán tại nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông

thường; hoặc
- có bán ở nước xuất khẩu nhưng trong điều kiện đặc biệt; hoặc
- số lượng bán ra không đáng kể (<5% số lượng SPTT bán ở nước nhập khẩu) thì:
GTTT = giá xuất khẩu SPTT sang nước thứ ba; hoặc
GTTT = giá thành sản xuất + chi phí (hành chính, bán hàng, quản lý chung...) + lợi nhuận
Trường hợp SPTT được xuất khẩu từ một nước có nền kinh tế phi thị trường (giá bán hàng và
giá nguyên liệu đầu vào và do chính phủ ấn định) thì các quy tắc trên không được áp dụng để


xác định GTTT.
Cách tính GXK:
GXK = giá mà nhà sản xuất nước ngoài bán SPTT cho nhà nhập khẩu đầu tiên.
Trường hợp giá bán SPTT không tin cậy được do:
- giao dịch xuất khẩu được thực hiện trong nội bộ công ty; hoặc
- theo một thoả thuận đền bù nào đó thì:
GXK = giá mà sản phẩm nhập khẩu được bán lần đầu tiên cho một người mua độc lập ở


nước nhập khẩu.
So sánh GTTT và GXK:
Để so sánh một cách công bằng GTTT và GXK, Hiệp định quy định nguyên tắc so sánh
như sau:
So sánh hai giá này trong cùng điều kiện thương mại (cùng xuất xưởng/ bán buôn/ bán
lẻ), thường lấy giá ở khâu xuất xưởng;
Tại cùng một thời điểm hoặc thời điểm càng gần nhau càng tốt.
Page 17


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
Việc so sánh GTTT và GXK là cả một quá trình tính toán rất phức tạp, vì không phải bao
giờ cũng có sẵn mức giá xuất xưởng của GTTT và GXK mà chỉ có mức giá bán buôn hoặc
bán lẻ của SPTT ở thị trường nước xuất khẩu (GTTT+) và giá tính thuế hải quan, giá hợp
đồng hoặc giá bán buôn/bán lẻ SPTT của nhà nhập khẩu (GXK+) nên thường phải có một số
điều chỉnh để có thể so sánh GTTT và GXK một cách công bằng.
Điều chỉnh các chênh lệch trong:
-

điều kiện bán hàng

-

các loại thuế

-

số lượng sản phẩm

-

đặc tính vật lý của sản phẩm

-

và những yếu tố khác ảnh hưởng đến việc so sánh hai giá.

Ví dụ: khi lấy giá bán SPTT cho một người mua độc lập ở nước nhập khẩu làm GXK + thì
GXK sẽđược xác định bằng cách điều chỉnh như sau:
GXK = (GXK+) - (lợi nhuận) - (các loại thuế + chi phí phát sinh từ khâu nhập khẩu đến
khâu bán hàng)
Cách so sánh:
Trung bình GTTT so với trung bình GXK; hoặc
GTTT (từng giao dịch) so với GXK (từng giao dịch); hoặc
Trung bình GTTT so với GXK (từng giao dịch)
(cách này chỉ được áp dụng khi GXK+ chênh lệnh đáng kể giữa những người mua, các
vùng hoặc giữa các khoảng thời gian khác nhau)
Trường hợp SPTT được xuất khẩu sang nước nhập khẩu qua một nước trung gian (nước xuất
khẩu):
Giá SPTT ở nước xuất khẩu (nước trung gian) so với giá bán SPTT từ nước xuất khẩu
sang nước nhập khẩu.
Nếu SPTT chỉ đơn thuần được chở từ nước sản xuất qua nước xuất khẩu:
Giá ở nước xuất xứ so với giá bán SPTT từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu.

Page 18


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
2. Xác định thiệt hại
2.1. Định nghĩa thiệt hại:
- Thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất trong nước (thiệt hại hiện tại); hoặc
- Nguy cơ gây thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất trong nước (thiệt hại
tương lai); hoặc
- Làm trì trệ sự phát triển một ngành sản xuất trong nước (không có quy định cụ thể)
Như vậy, để xác định thiệt hại cần xem xét các nhân tố sau:


Khối lượng hàng nhập khẩu bị bán phá giá: có tăng một cách đáng kể không?

Tác động của hàng nhập khẩu đó lên giá SPTT: Giá của hàng nhập khẩu đó:
+ có rẻ hơn giá SPTT sản xuất ở nước nhập khẩu nhiều không?
+ có làm sút giá hoặc kìm giá SPTT ở thị trường nước nhập khẩu không?
Khi sản phẩm thuộc diện điều tra được nhập khẩu từ nhiều nước: đánh giá gộp tác động nếu
BĐPG >= 2% GXK và khối lượng hàng nhập khẩu từ mỗi nước >= 3% khối lượng nhập khẩu
SPTT.
Việc khảo sát tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá đối với một ngành sản xuất
trong nước phải xem xét tất cả các yếu tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến ngành sản xuất đó,
gồm những yếu tố sau:


Năng suất



Thị phần



Biên độ phá giá



Giá nội địa ở nước nhập khẩu



Suy giảm thực tế và nguy cơ giảm doanh số bán hàng



Số lượng hàng tồn kho



Sản lượng



Tình trạng thất nghiệp



Lương



Tác động tiêu cực đến luồng tiền
Page 19


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế


Huy động năng lực



Lợi nhuận



Tỷ lệ thu hồi vốn đầu tư



Đầu tư



Khả năng huy động vốn



Tốc độ tăng trưởng

Khi xác định mối liên hệ giữa việc bán phá giá hàng nhập khẩu và thiệt hại cho một
ngành sản xuất trong nước: cần tính đến những yếu tố khác (ngoài việc bán phá giá), nếu các
yếu tố này gây thiệt hại cho ngành sản xuất đó thì không được quy thiệt hại của ngành sản
xuất đó do hàng nhập khẩu bị bán phá giá gây ra.
2.2. Nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước
Để xác định nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước cần xem xét:
 Tốc độ tăng nhập khẩu và khả năng tăng nhập khẩu trong tương lai;
 Khả năng tăng năng lực xuất khẩu của nhà xuất khẩu dẫn đến khả năng tăng nhập
khẩu;
 Tình hình hàng nhập khẩu làm sụt giá SPTT ở nước nhập khẩu;
 Số lượng tồn kho SPTT ở nước nhập khẩu
3. Ngành sản xuất trong nước
Ngành sản xuất trong nước là toàn bộ các nhà sản xuất trong nước sản xuất ra SPTT
hoặc một số nhà sản xuất có sản lượng chiếm tối đa số tổng sản lượng trong nước.
Có thể xuất hiện một số trường hợp đặc thù dẫn tới việc xác định cụ thể ngành sản xuất
trong nước như sau:
-

Nhà sản xuất và nhà nhập khẩu/nhập khẩu có liên quan với nhau: ngành sản xuất trong

nước là các nhà sản xuất còn lại.
-

Lãnh thổ nước nhập khẩu bị chia thành nhiều thị trường riêng: các nhà sản xuất ở mỗi

thị trường có thể coi là một ngành sản xuất riêng nếu:
Page 20


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
+ bán toàn bộ hoặc phần lớn sản phẩm liên quan ra thị trường đó; và
+ nhu cầu của thị trường đó đối với SPTT nhập khẩu từ nước khác là không đáng kể.
4. Nộp đơn yêu cầu tiến hành chống phá giá
Việc điều tra nhằm xác định sự tồn tại, mức độ và tác động của một số sản phẩm bị bán
phá giá sẽ được tiến hành khi:
 có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản
xuất trong nước đề nghị điều tra phá giá; hoặc
 không có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành
sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước nhưng cơ quan điều tra có
đầy đủ bằng chứng về việc bán phá giá, thiệt hại và mối liên hệ giữa hai yếu tố này.
 Đơn đề nghị điều tra phá giá phải bao gồm những thông tin sau:
 Tên người nộp đơn, số lượng và giá trị của sản phẩm tương tự do người nộp đơn
sản xuất trong nước. Nếu đơn được nộp đại diện cho ngành sản xuất trong nước thì đơn phải
nêu danh sách tất cả các nhà sản xuất sản phẩm tương tự trong nước và số lượng, giá trị của
các sản phẩm tương tự trong nước và số lượng, giá trị của các sản phẩm tương tự do các nhà
sản xuất này sản xuất;
 Mô tả sản phẩm đang nghi ngờ bị bán phá giá, xuất xứ hàng hoá, tên nhà xuất
khẩu hoặc nhà sản xuất nước ngoài;
 Giá sản phẩm liên quan khi tiêu thụ ở thị trường trong nước sản xuất hoặc nước
xuất khẩu, hoặc giá mà sản phẩm liên quan được bán cho người mua độc lập đầu tiên ở nước
nhập khẩu;
 Số lượng nhập khẩu của sản phẩm đang bị nghi ngờ phá giá, ảnh hưởng của việc
nhập khẩu này lên giá sản phẩm tương tự ở thị trường nước nhập khẩu và ảnh hưởng đối với
ngành sản xuất trong nước.
Cơ quan điều tra sẽ xác minh tính chính xác và đầy đủ của các bằng chứng nêu trong
đơn để xác định xem đã có đủ lý do hợp lệ để tiến hành điều tra chưa. Cơ quan điều tra sẽ
không tiến hành điều tra phá giá trừ khi xác định được rằng đơn xin điều tra được nộp bởi

Page 21


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước của sản phẩm tương
tự, nghĩa là:
sản lượng sản xuất sản phẩm tương tự của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp
đơn phải lớn hơn sản lượng của các nhà sản xuất trong nước phản đối đơn; và
sản lượng của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp đơn phải chiếm ít nhất 25%
tổng sản phẩm tương tự của ngành sản xuất trong nước.
Cuộc điều tra phá giá sẽ bị chấm dứt ngay lập tức nếu cơ quan điều tra xác định được
rằng:
biên độ phá giá nhỏ hơn 2% giá xuất khẩu; hoặc
số lượng nhập khẩu hàng bị nghi ngờ bán phá giá từ một nước nhỏ hơn 3% tổng nhập
khẩu sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu, trừ trường hợp từng nước xuất khẩu có lượng
hàng nhập khẩu dưới 3%, nhưng lượng hàng nhập khẩu của tất cả các nước xuất khẩu chiếm
trên 7% tổng sản phẩm nhập khẩu sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu.
Thủ tục hải quan vẫn được tiến hành trong khi điều tra phá giá. Trừ trường hợp đặc
biệt, một cuộc điều tra phá giá sẽ được tiến hành trong vòng 1 năm, và trong bất kỳ trường
hợp nào cũng không được quá 18 tháng.
5. Thu thập thông tin
Cơ quan điều tra sẽ gửi thông báo cho tất cả các bên có quan tâm đến cuộc điều tra phá
giá đề nghị cung cấp bằng văn bản mọi bằng chứng liên quan đến cuộc điều tra. Thời hạn trả
lời câu hỏi điều tra là 30 ngày và có thể được gia hạn thêm 30 ngày hoặc lâu hơn nếu cần
thiết.
Ngay khi bắt đầu điều tra, cơ quan điều tra sẽ gửi nguyên văn đơn đề nghị điều tra
cho các nhà xuất khẩu và cơ quan liên quan ở nước xuất khẩu
và các bên quan tâm khi có yêu cầu.
Trong suốt quá trình điều tra, cơ quan điều tra sẽ tạo đầy đủ điều kiện cho các bên
quan tâm bảo vệ quyền lợi của mình, gặp các bên có quyền lợi đối nghịch để trao đổi quan
điểm và đưa ra thoả thuận. Các bên quan tâm có quyền trình bày các thông tin khác bằng

Page 22


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
miệng, nhưng sẽ chỉ được cơ quan điều tra lưu ý tới khi được soạn lại băng văn bản và gửi
cho các bên quan tâm khác.
Bất kỳ thông tin nào có tính bí mật (chẳng hạn, bị đối thủ cạnh tranh lợi dụng hoặc gây
tác hại cho người cung cấp thông tin) hoặc được các bên cung cấp một cách bí mật sẽ không
được tiết lộ nếu không được bên cung cấp cho phép.
Cơ quan điều tra có thể tiến hành điều tra ở nước ngoài nếu cần thiết để thẩm định
các thông tin cung cấp hoặc để tìm hiểu thêm chi tiết với điều kiện được sự đồng ý của các
công ty liên quan và thông báo cho đại diện chính phủ nước này và các nước không phản đối.
Cơ quan điều tra sẽ tính biên độ phá giá riêng cho từng nhà xuất khẩu hoặc nhà sản
xuất sản phẩm đang bịđiều tra. Trường hợp không tính được biên độ phá giá riêng do số nhà
xuất khẩu, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc loại sản phẩm liên quan quá lớn thì cơ quan
điều tra có thể giới hạn diện điều tra tới một số nhà sản xuất, xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc
giới hạn ở một số loại sản phẩm nhất định bằng cách sử dụng mẫu thống kê, hoặc giới hạn ở
tỷ lệ phần trăm lớn nhất của khối lượng hàng xuất khẩu từ nước liên quan.
Việc chọn các nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu hoặc loại sản phẩm để điều
tra giới hạn sẽ được tiến hành trên cơ sở tham khảo ý kiến và có sự đồng ý của các nhà sản
xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu có liên quan.
Trong trường hợp cơ quan điều tra giới hạn diện điều tra như nêu trên, họ vẫn có thể
tính biên độ phá giá riêng cho các nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất mà ban đầu không được
đưa vào diện điều tra nhưng đã cung cấp thông tin đúng thời hạn.
Cơ quan điều tra tạo điều kiện cho người tiêu dùng sản phẩm đang điều tra hoặc tổ
chức đại diện người tiêu dùng cung cấp thông tin liên quan đến cuộc điều tra nếu sản phẩm
được bán lẻ rộng rãi.
6. Áp dụng biện pháp tạm thời
Biện pháp tạm thời có thể được áp dụng dưới các hình thức:
 Thuế; hoặc
 Đặt cọc khoản tiền tương đương với khoản thuế chống bán phá giá dự kiến; hoặc

Page 23


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
 Cho thông qua nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhập khẩu
thông thường và mức thuế chống bán phá giá dự kiến sẽ áp dụng.
Trên thực tế, biện pháp tạm thời hay được áp dụng nhất là đặt cọc.
 Điều kiện áp dụng biện pháp tạm thời:
 cơ quan điều tra tiến hành điều tra theo đúng thủ tục, gửi thông báo và tạo điều
kiện cho các bên quan tâm cung cấp thông tin và trình bày ý kiến;
 có kết luận sơ bộ về việc xảy ra bán phá giá và dẫn đến thiệt hại cho ngành sản xuất
trong nước; và
 cơ quan điều tra kết luận rằng biện pháp tạm thời là cần thiết để ngăn chặn thiệt hại
trong quá trình điều tra.
Biện pháp tạm thời chỉđược áp dụng sớm nhất là 60 ngày sau khi bắt đầu điều tra và sẽ
duy trì càng ngắn càng tốt, không được quá 4 tháng hoặc trong trường hợp cần thiết thì cũng
không được quá 6 tháng. Trường hợp cơ quan điều tra xác định được điều khoản thuế thấp
hơn biên độ phá giá đã đủ để khắc phục thiệt hại thì thời hạn áp dụng biện pháp tạm thời có
thể là 6 tháng hoặc 9 tháng.
7. Cam kết giá
Việc điều tra có thể ngừng hoặc kết thúc mà không cần áp dụng biện pháp tạm thời
hoặc thuế chống bán phá giá nếu một nhà xuất khẩu tự nguyện cam kết tăng giá lên hoặc
ngừng xuất khẩu phá giá vào khu vực thị trường đang điều tra và được cơ quan điều tra nhất
trí rằng biện pháp này sẽ khắc phục được thiệt hại. Mức giá tăng không nhất thiết phải lớn
hơn mà thường là nhỏ hơn biên độ phá giá nếu nhưđã đủđể khắc phục thiệt hại cho ngành sản
xuất trong nước.
Cơ quan điều tra sẽ không chấp nhận cho các nhà xuất khẩu cam kết giá nếu thấy việc
cam kết không khả thi, chẳng hạn như khi số lượng nhà xuất khẩu thực tế quá lớn. Trong
trường hợp này, cơ quan điều tra sẽ giải thích rõ lý do không chấp nhận cam kết giá với các
nhà xuất khẩu.
Nếu cơ quan điều tra chấp nhận việc cam kết giá thì cuộc điều tra phá giá và thiệt hại
vẫn có thể được hoàn tất nếu nhà xuất khẩu muốn như vậy và cơ quan điều tra đồng ý. Trong
Page 24


Bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
trường hợp này, nếu điều tra đi đến kết luận là không có phá giá hoặc không gây thiệt hại thì
việc cam kết giá sẽ đương nhiên chấm dứt, trừ khi kết luận trên được rút ra trong bối cảnh đã
cam kết giá rồi. Trường hợp này cam kết giá sẽ duy trì trong thời hạn hợp lý.
Cơ quan điều tra có thểđề nghị nhà xuất khẩu cam kết giá nhưng nhà xuất khẩu không
bắt buộc phải cam kết.
Các cơ quan hữu quan của nước nhập khẩu có thể yêu cầu bất kỳ nhà xuất khẩu nào đã
chấp nhận cam kết giá cung cấp thông tin định kỳ về thực hiện cam kết giá. Trường hợp nhà
xuất khẩu vi phạm cam kết giá, cơ quan điều tra có thể lập tức áp dụng biện pháp tạm thời
trên cơ sở các thông tin mà họ có (best information).
8. Áp dụng thuế và thu thuế chống bán phá giá
Việc quyết định có đánh thuế chống bán phá giá hay không và đánh thuế tương đương
hay nhỏ hơn biên độ phá giá sẽ do cơ quan điều tra của nước nhập khẩu quyết định.
Đối với một sản phẩm bị bán phá giá, cơ quan chức năng sẽ xác định biên độ phá giá
riêng cho từng nhà xuất khẩu/sản xuất. Thuế chống bán phá giá sẽđược áp dụng cho từng
trường hợp, trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu từ tất cả các nguồn được
coi là gây thiệt hại, trừ trường hợp đã cam kết giá.
Trị giá thuế chống bán phá giá áp dụng sẽkhông được vượt quá biên độ phá giá.
Có hai hình thức thu thuế chống bán phá giá:
+ Kiểu tính thuế hồi tố (kiểu của Mỹ): việc tính mức thuế được căn cứ vào số liệu của
thời điểm trước khi điều tra (6 tháng - 1 năm). Sau khi điều tra, cơ quan chức năng bắt đầu áp
dụng một mức thuế chống bán phá giá. Sau khi áp dụng được một thời gian, nếu nhà nhập
khẩu yêu cầu đánh giá lại mức thuế (do giá xuất khẩu tăng lên) thì cơ quan chức năng sẽ tiến
hành xác định lại số tiền thuế phải nộp trong vòng 12 tháng, chậm nhất là 18 tháng ngay sau
khi nhận được yêu cầu. Sau đó mức thuế mới sẽ được áp dụng. Việc hoàn thuế sẽ được thực
hiện trong vòng 90 ngày sau khi xác định lại mức thuế cuối cùng phải nộp.
+ Kiểu tính thuế ấn định (kiểu của EU): cơ quan điều tra lấy số liệu của thời điểm
trước khi điều tra để tính biên độ phá giá và ấn định biên độ này cho cả quá trình áp dụng thuế
chống bán phá giá. Sau khi áp dụng được một thời gian, nếu nhà nhập khẩu đề nghị hoàn thuế
Page 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×