Tải bản đầy đủ

Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng chống bọ nẹt Thosea obliquistriga Hering (Lepidoptera Eucleidae) hại dong riềng ở Hưng Yên và Hà Nội (luận văn tiến sĩ)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

TRỊNH VĂN MỴ

ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG CHỐNG BỌ NẸT Thosea obliquistriga Hering (Lepidoptera:
Eucleidae) HẠI DONG RIỀNG Ở HƯNG YÊN VÀ HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số

: 62.62.10.01

Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Văn Đĩnh

HÀ NỘI, 2012



i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được sử dụng để
bảo vệ một học vị nào. Các tài liệu trích dẫn được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự
giúp đỡ đã được cám ơn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận án

Trịnh Văn Mỵ


ii

LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận án này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
GS.TS. Nguyễn Văn Đĩnh đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thày, cô giáo Bộ môn Côn trùng, Khoa
Nông học và Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã
quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn GS.TS Hà Quang Hùng, TS. Nguyễn Như
Cường, TS. Stephen A.Marshal đã giúp đỡ tôi trong việc định tên các loài côn
trùng mới của luận án.
Tôi xin trân trọng cám ơn Lãnh đạo Viện Cây lương thực và Cây thực
phẩm và CBCC Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Cây có củ (Viện
CLT&CTP) đã tận tình và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo và bà con nông dân vùng sản xuất
dong riềng thuộc tỉnh Hưng Yên và Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên
cứu và triển khai thí nghiệm tại địa phương.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các bạn bè, đồng nghiệp người thân
trong gia đình đã tận tình động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện
luận án.
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2012
Tác giả luận án

Trịnh Văn Mỵ



iii

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục ký hiệu và chữ viết tắt

vii

Danh mục các bảng

viii

Danh mục các hình

xi

MỞ ĐẦU

1

1

Tính cấp thiết của đề tài

1

2

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3

3

Mục đích và yêu cầu đề tài

3

4

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

5

1.1

Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu

5

1.2

Khái quát tình hình sản xuất dong riềng và phòng chống bọ nẹt
tại Hưng Yên và Hà Nội

7

1.2.1 Tình hình sản xuất dong riềng tại Hưng Yên

7

1.2.2 Tình hình sản xuất dong riềng tại Hà Nội

8

1.3

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sâu, nhện hại và
thiên địch của chúng trên dong riềng

1.3.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
1.3.2 Những nghiên cứu trong nước
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

9
9
23
30
30
30


iv

2.1.2 Thời gian nghiên cứu
2.2

Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

30
30

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

30

2.2.2 Vật liệu nghiên cứu

30

2.2.3 Dụng cụ nghiên cứu

31

2.3

Nội dung nghiên cứu

33

2.4

Phương pháp nghiên cứu

33

2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu, nhện hại và thiên địch
trên dong riềng

33

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học của
bọ nẹt Thosea obliquistriga Hering
2.4.3 Nghiên cứu sinh thái học cơ bản của bọ nẹt T. obliquistriga

34
39

2.4.4 Phương pháp xác định thiên địch trên dong riềng tại Hưng Yên,
Hà Nội

41

2.4.5 Phương pháp xác định sự ký sinh của loài ruồi giả ong
S. macer (RGO) trên các pha phát dục của bọ nẹt T. obliquistriga

42

2.4.6 Phương pháp đánh giá năng suất củ của dong riềng ở các mức
hại tại các giai đoạn sinh trưởng của dong riềng

43

2.4.7 Phương pháp điều tra tỷ lệ nhộng trên tàn dư dong riềng

44

2.4.8 Đánh giá tính nhiễm bọ nẹt T. obliquistriga của một số giống
dong riềng

45

2.4.9 Phương pháp thử hiệu lực một số loại thuốc hóa học trừ bọ nẹt

45

2.4.10 Mô hình quản lý tổng hợp bọ nẹt T. obliquistriga hại dong riềng

47

2.5

Phương pháp tính toán và xử lý số liệu

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1

Thành phần sâu, nhện hại trên dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội

49
50
50


v

3.1.1 Thành phần sâu, nhện hại trên dong riềng tại Hưng Yên và
Hà Nội

50

3.1.2 Mức độ phổ biến sâu và nhện hại dong riềng tại Hưng Yên,
Hà Nội

51

3.1.3 Đặc điểm gây hại và tác hại của sâu, nhện hại trên dong riềng
tại Hưng Yên và Hà Nội
3.2

54

Đặc điểm hình thái và sinh học cơ bản của bọ nẹt
T. obliquistriga

62

3.2.1 Đặc điểm hình thái các pha của loài bọ nẹt T. obliquistriga

63

3.2.2 Đặc điểm sinh học loài bọ nẹt T. obliquistriga

73

Đặc điểm sinh thái cơ bản của bọ nẹt T. obliquistriga

82

3.3.1 Thời gian qua đông của nhộng bọ nẹt T. obliquistriga

82

3.3

3.3.2 Đặc điểm phân bố của sâu non bọ nẹt T. obliquistriga trên các
lá của dong riềng, tại Hưng Yên 2008

84

3.3.3 Diễn biến mật độ và chỉ số hại của bọ nẹt T. obliquistriga trên
giống dong riềng đỏ tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2008

85

3.3.4 Diễn biến mật độ và chỉ số hại của Bọ nẹt T. obliquistriga
trên dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2009

86

3.3.5 Diễn biến mật độ bọ nẹt T. obliquistriga và chỉ số hại trên
dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2010

88

3.3.6 Thiên địch sâu hại dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội

93

3.4

Biện pháp phòng chống bọ nẹt T. obliquistriga trên dong riềng

101

3.4.1 Biện pháp kỹ thuật canh tác phòng trừ bọ nẹt

102

3.4.2 Biện pháp vệ sinh đồng ruộng phòng trừ bọ nẹt.

113

3.4.3 Tính nhiễm bọ nẹt của một số giống dong riềng

125

3.4.4 Biện pháp hóa học phòng trừ bọ nẹt trên dong riềng

126


vi

3.4.5 Xây dựng mô hình quản lý tổng hợp bọ nẹt T. obliquistriga
trên dong riềng
3.5

Đề xuất quy trình quản lý tổng hợp bọ nẹt trên dong riềng

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

128
136
139

1

Kết luận

139

2

Đề nghị

141

Các công trình công bố liên quan đến luận án

142

Tài liệu tham khảo

142

Phụ lục

148


1

MỞ ĐẦU
1

Tính cấp thiết của đề tài
Dong riềng (Canna edulis Ker) cây thân thảo, họ dong riềng

(Cannaceae) có nguồn gốc từ Nam Mỹ (Trương Văn Hộ và cs. 1993) [8].
Trên thế giới dong riềng có khá nhiều giá trị sử dụng như tinh bột cung
cấp dinh dưỡng cho con người, thân lá làm thức ăn gia súc, phần non có thể
làm rau ăn, hạt non được dùng làm nhân bánh, hạt già có thể làm đồ trang sức,
(Pulmass, 1985) [57].
Ở nước ta, sản xuất dong riềng chủ yếu để chế biến tinh bột làm nguyên
liệu sản xuất miến dong (Trương Văn Hộ, 1993b) [7].
Theo kết quả điều tra thực tế cho thấy, trước đây dong riềng được trồng
chủ yếu trên đất cằn cỗi, đất tận dụng, nhưng ngày nay ở một số địa phương
tại Hưng Yên, Hà Nội dong riềng đã được trồng thành vùng sản xuất dong
riềng trên diện tích lớn tập trung (150 - 300 ha/địa điểm) như Khoái Châu,
Văn Giang (Hưng Yên), Quốc Oai, Hoài Đức, Thanh Trì, Thường Tín, Ba Vì
(Hà Nội) hình thành vùng cung cấp nguyên liệu chế biến tinh bột, thay vì
trồng lúa hoặc các cây trồng khác hiệu quả thấp.
Trên thực tế dong riềng phát triển mạnh trong sản xuất, dong riềng
được trồng phổ biến và ở hầu hết các tỉnh từ phía bắc vào phía nam, nhưng
kinh phí đầu tư nghiên cứu và phát triển dong riềng rất ít, đến nay mới chỉ có
duy nhất một giống dong riềng DR1 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn công nhận và chuyển giao vào sản xuất (theo Quyết định số
608/QĐ-TT-CLT ngày 14/12/2010). Vì vậy việc nghiên cứu chọn tạo giống,
biện pháp kỹ thuật canh tác và phòng trừ sâu bệnh hại trên dong riềng ở nước
ta còn rất nhiều hạn chế.


2

Dong riềng trở thành cây trồng độc canh, phát triển nhanh trên diện tích
lớn. Sự mất cân đối trong quá trình tổ chức sản xuất dong riềng trên, điều đó
đã dẫn đến sự bùng phát số lượng cao của loài bọ nẹt Thosea obliquistriga
Hering thành loài dịch hại nguy hiểm trên dong riềng và đồng thời xuất hiện
một số sâu và nhện hại mới tấn công gây hại dong riềng. Sự gây hại của bọ
nẹt đã làm giảm năng suất, giảm hiệu quả đầu tư sản xuất dong riềng và bọ
nẹt không những gây hại làm giảm năng suất của dong riềng, mà đối với
người sản xuất bọ nẹt gây khó khăn trong quá trình chăm sóc, thu hoạch và
gây hại đến sức khỏe người sản xuất bởi lông độc của chúng làm cho người bị
ngứa ngáy rất khó chịu.
Hiện tại việc phòng trừ bọ nẹt tại các vùng sản xuất dong riềng tại
Hưng Yên và Hà Nội, khi bọ nẹt xuất hiện và gây hại với mật độ cao được
phát hiện, người nông dân sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ là chủ yếu mà
chưa có sự phối hợp với các biện pháp khác (biện pháp canh tác, giống chống
chịu, vệ sinh đồng ruộng…), nên bọ nẹt ngày càng trở thành loài sâu hại khó
kiểm soát.
Thực tế cho đến nay ở Việt Nam chưa có tài liệu nào công bố về thành
phần sâu, nhện hại và thiên địch trên dong riềng. Chính vì vậy việc xác định
thành phần sâu hại và nghiên cứu về các đặc điểm sinh học, sinh thái và quản
lý tổng hợp bọ nẹt Thosea obliquistriga Hering sâu hại chính trên dong riềng
là yêu cầu cấp thiết của sản xuất hiện nay.
Nghiên cứu đặc điểm sinh học, quy luật phát sinh phát triển bọ nẹt T.
obliquistriga hại dong riềng làm cơ sở khoa học xác định các giải pháp hữu
hiệu hạn chế tác hại của bọ nẹt, hạn chế thấp nhất việc sử dụng thuốc hóa học,
đảm bảo an toàn thực phẩm, giảm độc hại cho người sản xuất và thuận lợi cho
quá trình canh tác, đảm bảo năng suất, chất lượng cao, an toàn cho môi sinh là
đòi hỏi cấp thiết, đặc biệt với vùng Đồng bằng Sông hồng nơi tập trung dân


3

cư có mật độ cao, rất dễ gây nên những tổn thất cho cộng đồng khi lạm dụng
thuốc hóa học, làm mất cân bằng sinh thái. Với định hướng trên, chúng tôi đã
thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện
pháp phòng chống bọ nẹt Thosea obliquistriga Hering (Lepidoptera:
Eucleidae) hại dong riềng ở Hưng Yên và Hà Nội”
2

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa về khoa học: Kết quả điều tra thành phần sâu, nhện hại và

thiên địch trên dong riềng đã xác định được 12 loài sâu, nhện hại, 5 loài thiên
địch của sâu hại và trong đó 1 loài ký sinh trên bọ nẹt. Kết quả nghiên cứu
của đề tài đã bổ sung những dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học, sinh thái
học của bọ nẹt Thosea obliquistriga Hering và loài ruồi giả ong Systropus
macer Loew ký sinh giai đoạn sâu non - nhộng bọ nẹt Thosea obliquistriga
Hering. Loài S. macer lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học,
sinh thái học và các biện pháp phòng chống bọ nẹt T.obliquistriga hại dong
riềng đã xây dựng được quy trình quản lý tổng hợp bọ nẹt, áp dụng tại vùng
nghiên cứu đạt hiệu quả cao.
3

Mục đích và yêu cầu đề tài

3.1

Mục đích
Điều tra xác định được thành phần sâu, nhện hại và thiên địch có trên

dong riềng (Canna edulis Ker). Xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái học
cơ bản của loài bọ nẹt T. obliquistriga để trên cơ sở đó xây dựng được quy
trình quản lý tổng hợp bọ nẹt T. obliquistriga trên dong riềng tại Hưng Yên và
Hà Nội.
3.2

Yêu cầu của đề tài
- Xác định thành phần, mức độ phổ biến của sâu và nhện hại trên dong

riềng tại Hưng Yên và Hà Nội.


4

- Xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái học cơ bản của bọ nẹt T.
obliquistriga hại dong riềng.
- Xác định được diễn biến mật độ của bọ nẹt T. obliquistriga trên dong
riềng qua các năm và mối quan hệ của chúng tại Hưng Yên và Hà Nội.
- Thử nghiệm các biện pháp phòng chống loài bọ nẹt T. obliquistriga
hại dong riềng để xây dựng quy trình quản lý tổng hợp chúng tại Hưng Yên
và Hà Nội.
4

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1

Đối tượng nghiên cứu
Loài bọ nẹt Thosea obliquistriga (Lepidoptera: Limacodidae) trên dong

riềng tại vùng nghiên cứu.
4.2

Phạm vi nghiên cứu
+ Xác định thành phần sâu, nhện hại và thiên địch của sâu hại trên dong

riềng
+ Đặc điểm sinh học, sinh thái học cơ bản của bọ nẹt T. obliquistriga.
+ Các yếu tố chính để xây dựng biện pháp quản lý tổng hợp bọ nẹt hại
dong riềng ở vùng nghiên cứu.
4.3

Đóng góp mới của đề tài
- Luận án là công trình đầu tiên ghi nhận về loài bọ nẹt T. obliquistriga

hại trên cây dong riềng và ruồi giả dạng ong Systropus macer Loew ký sinh
sâu non nhộng bọ nẹt
- Cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm hình thái, sinh học
của bọ nẹt T. obliquistriga
- Đã xác định được một số yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát sinh,
phát triển của bọ nẹt T. obliquistriga hại dong riềng ở Hưng Yên và Hà Nội
- Đã xây dựng biện pháp quản lý tổng hợp có hiệu quả loài bọ nẹt
T. obliquistriga gây hại trên cây dong riềng, bước đầu thử nghiệm có hiệu quả


5

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1

Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu
Phạm Văn Lầm (2010) [13] đã chỉ ra bất kỳ một biện pháp tác động

nào lên hệ sinh thái nông nghiệp cũng đều có thể hoặc là ức chế được dịch hại
(có hiệu quả trừ dịch hại) hoặc là làm tăng thêm tính trầm trọng của dịch hại.
Ngay cả khi sử dụng một biện pháp khôn khéo cũng đều có thể gây tác động
đến dịch hại. Sự thay đổi giống mới, luân canh, xen canh các cây trồng, thay
đổi chế độ phân bón, mật độ gieo trồng, cơ chế tưới tiêu….tất cả đều gây ra
những biến đổi lớn về tình hình dịch hại trong hệ sinh thái nông nghiệp. Nếu
các biện pháp tác động lên hệ sinh thái nông nghiệp không được nghiên cứu
cẩn thận mà đưa vào áp dụng trên diện rộng có thể dẫn tới bùng phát số lượng
dịch hại một cách khốc liệt và dẫn đến các dịch hại thứ yếu xuất hiện triền
miên và có tính chất hủy diệt.
Hà Quang Hùng (1998) [12] đã chỉ ra rằng trong mối quan hệ giữa dịch
hại cây trồng và hoạt động mất cân đối trong sản xuất nông nghiệp của con
người, đó là sự mất cân đối khi sử dụng giống cây trồng trong sản xuất nông
nghiệp, sự mất cân đối khi áp dụng các biện pháp canh tác kỹ thuật và sự mất
cân đối trong quá trình tổ chức sản xuất sẽ tạo điều kiện cho dịch hại phát triển.
Trong những năm gần đây, tinh bột dong riềng trở thành hàng hóa quan
trọng cho thị trường sản xuất miến dong, việc đầu tư sản xuất dong riềng đạt
hiệu quả cao, dong riềng trở thành cây xóa đói giảm nghèo và cây làm giàu ở
nhiều địa phương (Trương Văn Hộ và cs, 1996) [10]. Nguyên nhân trên đã dẫn
đến việc mở rộng diện tích và dong riềng được trồng thành vùng nguyên liệu
cung cấp cho các cơ sở chế biến tinh bột. Diện tích dong riềng ngày càng phát
triển, diện tích trên 30.000 ha/năm, các tỉnh trồng nhiều như Hưng Yên, Hà


6

Nội, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đồng Nai (Nguyễn Thị
Ngọc Huệ, Đinh Thế Lộc, 2005) [11]
Tại Hà Nội (huyện Quốc Oai, Hoài Đức) và Hưng Yên (huyện Khoái
Châu), từ những năm 2000 trở lại đây, dong riềng là cây trồng độc canh, sản
xuất tập trung thành những vùng có diện tích lớn đến hàng chục ha trên một
địa điểm, sự mất cân đối trong quá trình trong quá trình tổ chức sản xuất trên
chính nguyên nhân đã tạo điều kiện cho loài bọ nẹt T. obliquistriga bùng phát
thành dịch hại nguy hiểm trên dong riềng. Kết quả điều tra thực tế cho thấy tại
Hà Nội và Hưng Yên vùng trồng dong riềng chuyên canh hàng năm bị bọ nẹt
gây hại và nhiều năm bị chúng gây hại nặng đến rất nặng, như trên cánh đồng
dong riềng tại Quốc Oai-Hà Nội năm 2005, toàn bộ phiến lá dong riềng bị bọ
nẹt hại chỉ còn lại cuống lá, (Ảnh dịch hại bọ nẹt trên dong riềng tại Quốc
Oai, Hà Nội, Nguồn Trịnh Văn Mỵ, 2005: phụ lục của luận án, tr. 142). Mặc
dù dong riềng trở thành cây trồng hàng hóa, sản xuất tập trung thành vùng
nguyên liệu cho chế biến tinh bột và bọ nẹt là sâu hại nguy hiểm trên dong
dong riềng, nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu trong nước
công bố về sự gây hại của bọ nẹt hại dong riềng. Một số công trình nghiên
cứu công bố liên quan đến bọ nẹt tại Việt Nam, mới chỉ dừng lại về điều tra
thành phần và phân loại bọ nẹt ở một số vùng sinh thái trung du, miền núi
phía bắc và miền trung nước ta (Viện BVTV, 1976) [17], (Hollyway, 1987)
[40], (Viện BVTV, 1999) [18], (Solovyev và cs, 2009) [59], [61] và
(Solovyev và cs, 2011) [16].
Để góp phần hạn chế thiệt hại do loài bọ nẹt T. obliquistriga gây hại
trên dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội, sự cần thiết phải nghiên cứu các đặc
điểm sinh học, sinh thái học, quy luật phát sinh phát triển và đặc điểm gây hại
của chúng trên dong riềng, làm cơ sở khoa học xây dựng quy trình quản lý
tổng hợp (IPM) bọ nẹt trên dong riềng.


7

1.2

Khái quát tình hình sản xuất dong riềng và phòng chống bọ nẹt tại
Hưng Yên và Hà Nội

1.2.1 Tình hình sản xuất dong riềng tại Hưng Yên
Hưng Yên nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, phía đông giáp Hà
Nội, phía tây nam và phía đông giáp tỉnh Hải dương, phía bắc giáp tỉnh Bắc
Ninh. Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, 4 mùa rõ rệt,
mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (lượng mưa trung bình hàng năm 1.450 1.650 mm), nhiệt độ trung bình 23,2 oC, số giờ nắng 1.519 giờ, độ ẩm tương
đối trung bình: 85 - 87%.
Diện tích trồng dong riềng tại Hưng Yên trên 1.000 ha được tập trung
tại huyện Khoái Châu, Kim Động, các bãi nổi trên sông Hồng, dong riềng
được trồng thành vùng sản xuất tập trung, giống dong riềng được sản xuất
gồm 2 giống là dong riềng thân đỏ lá bầu (gọi tắt là dong riềng đỏ) và dong
riềng xanh (thân và lá màu xanh), diện tích giống dong riềng đỏ chiếm trên
95%, số thân/khóm từ 6 - 7 thân, mỗi thân trung bình có 11-13 lá/thân, năng
suất củ trung bình đạt từ 45 - 55 tấn/ha, tỷ lệ tinh bột 20%, tổng giá trị thu
được 120,0 triệu đồng/ha (trong đó giá trị đầu tư sản xuất, chỉ tính giá trị
giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật là 37,0 triệu đồng/ha), tổng giá
trị thu được từ sản xuất lúa (2 vụ) là 80,0 triệu đồng/ha (trong đó chi phí sản
xuất là 35,0 - 40,0 triệu đồng/ha). Như vậy, hiệu quả kinh tế sản xuất dong
riềng tăng trên 50% so với sản xuất lúa.
Dong riềng sau thu hoạch chủ yếu được chế biến tinh bột tại Hưng Yên,
sản phẩm tinh bột là tinh bột ẩm, khoảng 10% lượng tinh bột được sản xuất
làm miến, lượng còn lại 90% được bán cho thị trường bên ngoài (Hà Nội, thị
trường phía nam).
Về biện pháp kỹ thuật canh tác dong riềng tại Hưng Yên:
+ Đất trồng dong riềng chủ yếu là đất bồi phù sa sông Hồng
+ Thời gian trồng và thu hoạch: thời vụ trồng cuối tháng 1 đến cuối


8

tháng 2 hàng năm, thời gian thu hoạch vào tháng 11 tháng 12
+ Mật độ 35 - 40 nghìn khóm/ha.
+ Mức phân bón: Phân chuồng 10 - 15 tấn/ha; Phân hóa học (quy
nguyên chất) 40kg N + 50 kg P2 O5 + 150 kg K2O (có thể bón tro rơm rạ thay
thế Kaly mức 300 - 400 kg)/ha
Cách bón: bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân
Bón thúc 2 lần: lần 1 sau khi cây mọc một tháng, lượng bón 1/2 lượng
đạm, lần 2 sau trồng 4 tháng bón 1/2 lượng đạm và 100% lượng kaly, mỗi lần
bón kết hợp vun cao luống.
Phun thuốc trừ sâu trên diện tích trồng xen thường 3 - 4 lần (trong đó 2
lần trừ sâu trên cây trồng xen và 2 lần trên dong riềng)
Khó khăn trong sản xuất dong riềng: giống dong riềng đỏ tỷ lệ tinh bột
thấp (khoảng 20%), tỷ lệ củ giống sau bảo quản 3 - 4 tháng hao hụt nhiều (30
- 35%), chi phí thuốc bảo thực vật chủ yếu cho phòng trừ bọ nẹt, ngoài ra trên
dong riềng bị bệnh khô lá giai đoạn sau trồng 7 - 8 tháng (tỷ lệ cao 50 - 60%)
(Trương Văn Hộ, 1993 a) [6].
1.2.2 Tình hình sản xuất dong riềng tại Hà Nội
Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc Bộ, phía bắc giáp Thái Nguyên, Vĩnh
Phúc, phía nam giáp Hà Nam, Hòa Bình, phía đông giáp Bắc Giang, Bắc Ninh
và Hưng Yên, phía tây giáp Hòa Bình và Phú Thọ.
Hà Nội nằm ở hữu ngạn sông Đà và hai bên bờ sông Hồng, trên địa
phận Hà Nội còn các sông: Đuống, Cầu, Đáy, Nhuệ.
Hà Nội có khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt, lượng mưa trung bình 1.800
mm/năm (tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9), nhiệt độ không khí
trung bình 23,6oC, ẩm độ trung bình 79%
Hà Nội có diện tích dong riềng gần 1.000 ha được trồng tại 5 vùng có
diện tích dong riềng lớn là huyện Quốc Oai (dong riềng được trồng dọc theo
đất bãi sông Đáy) diện tích 210 ha, huyện Thanh Trì diện tích dong riềng 70 ha


9

và huyện Thường Tín (dong riềng được trồng dọc theo đất bãi sông Hồng)
diện tích dong riềng 230 ha (vùng giáp với Khoái Châu, Hưng Yên), huyện Ba
Vì diện tích dong riềng 300 ha, Huyện Hoài Đức 120 ha và dong riềng được
trồng thành vùng sản xuất tập trung, thời vụ trồng và thu hoạch cũng khá tập
trung trong thời gian ngắn. Giống dong riềng chủ yếu là giống dong riềng thân
đỏ lá bầu (gọi tắt là dong riềng đỏ), năng suất trung bình đạt 45 - 50 tấn/ha, tỷ
lệ tinh bột 20%, cây trồng xen với dong riềng là ngô, đậu tương, đậu xanh, lạc.
Về kỹ thuật canh tác, thời vụ trồng, thu hoạch dong riềng tại Hà Nội
tương tự tại Hưng Yên
Về bảo vệ thực vật trên dong riềng: Đối tượng phòng trừ chính là bọ
nẹt và bệnh khô lá dong riềng. nông dân sử dụng thuốc trừ sâu các loại rất
khác nhau, giai đoạn phun thuốc trên dong riềng tập trung tại giai đoạn dong
riềng 7 - 8 lá và 9 - 10 lá khi phát hiện thấy nhiều bọ nẹt trên đồng ruộng, có
địa điểm phun thuốc trừ bọ nẹt kép nếu trên đồng ruộng mật độ bọ nẹt cao
xuất hiện trở lại.
Chế biến tinh bột và sản xuất miến dong riềng tại Hà Nội tập trung chủ
yếu tại Dương Liễu, Cát Quế, Minh Khai huyện Hoài Đức, nơi cung cấp
nhiều sản phẩm miến, bún, phở khô dong riềng trong toàn quốc và xuất khẩu
(Nga, Trung Quốc, Lào)
Những khó khăn trong sản xuất dong riềng ở Hà Nội và Hưng Yên như
hao hụt nhiều trong bảo quản giống, năng suất dong riềng thấp (tiềm năng năng
suất dong riềng có thể đạt 60 - 100 tấn củ/ha), đối tượng sâu bệnh hại trên dong
riềng là bọ nẹt và bệnh khô lá giai đoạn dong riềng 8 - 9 tháng sau trồng.
1.3

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sâu, nhện hại và thiên
địch của chúng trên dong riềng

1.3.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Theo Quaitance (1989) [58], Klein (1998) [48], Cooke (2001) [26],


10

Marsall (2006) [50] đã ghi nhận ở Florida, Mississipi và Wagner (2005) [63]
ghi nhận ở Carolin thuộc vùng khí hậu nhiệt đới của Mỹ có 6 loài sâu và nhện
hại trên dong riềng: Sâu cuốn lá., bọ cánh cứng châu Á (Asiatic garden beetle),
Bọ cánh cứng Nhật bản (Japanese beetle), Rệp muội (Aphididae), Nhện đỏ 2
chấm (Tetranychus urticae) và bọ nẹt.
1.3.1.1 Sâu cuốn lá
Theo Cooke (2001) [26], sâu cuốn lá dong riềng gồm hai loài Calpodes
ethlius (sâu cuốn lá lớn) và Geshna cannalis (sâu non cuốn lá nhỏ), sâu non
sử dụng lá cuốn lại làm tổ và ăn luôn lá bên trong tổ, chúng rất phàm ăn.
Sâu cuốn lá nhỏ Geshna cannalis là sâu hại nguy hiểm trên dong riềng
ở Đông nam nước Mỹ như Florida (Kimball, 1965) [47] và được Baker
(2000) [21] nghiên cứu gây hại trên dong riềng ở Mississippi và bắc Carolin,
là loài sâu hại ở vùng có khí hậu nhiệt đới .
Đặc điểm sâu cuốn lá nhỏ hại dong riềng Geshna cannalis được mô tả
như sau: Ngài đực có hình dạng hình chóp, màu nâu sáng, mình nhỏ, có thể
tìm thấy ở mặt lá dưới của dong riềng vào ban ngày, trưởng thành có sải cánh
dài trung bình 25 mm, cánh trước và sau có 2 đường màu đen nâu giao nhau
và tạo thành góc nhỏ. Trưởng thành cái đẻ trứng thành ổ từ 6 - 15 quả, trứng
ở mặt trên lá dong riềng, hình dạng trứng dẹt, màu vàng xám, kích thước
trứng 0,9mm (Quitance, 1989) [58].
Sâu non cuốn lá nhỏ khi mới nở ăn biểu bì, đục thành đường giữa 2 lớp
biểu mô của lá và thải phân theo vết đường đục, kích thước sâu non 1,4 mm
dài, màu vàng nhạt, thân có phần trong, đầu màu vàng, sâu non tuổi lớn có tập
tính ăn tập thể ở mặt trên của lá dong riềng, khi sâu non 1 tuần tuổi chúng bắt
đầu cuộn lá và có thể tìm thấy 5 - 6 con /tổ, nhưng chỉ thấy 1 - 2 con chung
sống, sâu non đẫy sức đạt 23 mm dài và có màu trắng vàng, mình trong và có
màu xanh lá cây, đầu màu vàng, mảnh đầu giữa màu nâu vàng và đầu hàm


11

dưới màu nâu đen, khi ấu trùng kéo kén, kén màu óng ánh và hóa nhộng ngay
trong tổ và ở đó trong suốt thời gian nhộng, nhộng có kích thước dài 11,5
mm, màu vàng sậm như Chocolate và phía đuôi nhộng có 8 sợi lông có tác
dụng giúp nhộng bám vào lá cây. Thế hệ cuối cùng của sâu cuốn lá nhỏ qua
đông trong năm ở bên trong lá dong riềng đã chết. Ngài trưởng thành thường
bắt gặp vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 ở Florida. Thế hệ đầu tiên của sâu cuốn
lá nhỏ khoảng 35 ngày, trong thời gian mùa hè các thế hệ kế tiếp nhau phát
triển trên dong riềng (Baker, 2000) [21].
Sâu cuốn lá nhỏ và cuốn lá lớn gây hại trên tất cả các loại dong riềng sản
xuất và dong riềng cảnh. Phòng trừ bằng cách cắt tất cả các lá dong riềng đã
chết vùi xuống đất vào mùa Đông trong năm đó là cách tốt nhất để giảm quần
thể của sâu cuốn lá nhỏ, cắt lá chết của dong riềng vào mùa đông sẽ làm giảm
mật độ sâu hại vào mùa xuân (chính là diệt nhộng qua đông), vào mùa hè với
sự phát triển của sâu non thì kiểm soát bằng thuốc hóa học bằng cách phun
thuốc trên bề mặt lá, tuy nhiên cần thêm vào thuốc chất bám dính, vì mặt lá
dong riềng có chất sáp không thấm nước, có thể dùng thuốc sinh học Bacillus
thuringiensis (Bt), ít độc để phòng trừ đối tượng này (Khoshoo, 2005) [46].
1.3.1.2 Bọ cánh cứng châu Á (Asiatic garden beetle)
Bọ cánh cứng châu Á (Maladera castanea) là loài sâu hại khá quan
trọng, sâu non gây hại làm tổn hại ở bộ phận rễ, trưởng thành có tập tính bay
nhiều và hấp dẫn bởi ánh sáng đèn và trưởng thành có đặc tính ăn đêm. Bọ
cánh cứng châu Á là loài đa thực, ăn trên nhiều loại cây như dong riềng, Đào,
Đậu đỗ, Cúc tây, Dâu tây...Ban ngày bọ cánh cứng thường ẩn mình trong đất
xung quanh gốc cây và rất hiếm khi nhìn thấy chúng, trưởng thành dài 3/4
inch và có lớp lông mịn màu nâu vàng óng ánh.
Phòng trừ loài này bằng thuốc hóa học, chú trọng phòng trừ loài này ở
những đám cỏ có tác dụng lớn vì chúng thích nghi cư trú ở dưới lớp cỏ
(Nguồn Wikipedia, the free encyclopedia 7/2008) [56].


12

1.3.1.3 Bọ cánh cứng Nhật bản (Japanese beetle)
Bọ cánh cứng Nhật Bản (Popillia japonica), Theo Klein (1998) [48]
trưởng thành có kích thước chiều dài 1,5 cm, rộng 1,0 cm, đôi cánh màu đồng
sáng chói, đầu, ngực có màu xanh sáng chói, chính loài này không gây hại ở
Nhật Bản nơi chúng có nhiều kẻ thù tự nhiên. Nhưng bọ cánh cứng Nhật Bản
lại gây hại nặng ở Mỹ trên búp non cây hoa hồng, nho, dong riềng và nhiều
cây trồng khác. Trưởng thành khi bay rất hay bị va đập vào tường, lợi dụng
đặc điểm này người ta đã làm bẫy chắn như bức tường và dưới chân tường là
túi hứng bọ cánh cứng có chứa thuốc độc gây chết bọ cánh cứng khi va đập và
rơi xuống. Tại trường Đại học Kentucky đã nghiên cứu về Bọ cánh cứng
Nhật Bản bị hấp dẫn bởi mùi thơm Florant, chất dẫn dụ Pheromone ((Nguồn
Wikipedia, the free encyclopedia 7/2008) [55].
Bọ cánh cứng Nhật Bản có thể nhận biết và gặp kẻ thù, khi đó chúng
nâng hai chân sau trong không trung, tiếp cận kẻ thù với hai chân đầy gai và
tấn công kẻ thù.
Bọ cánh cứng Nhật Bản (Popillia japonica) nguồn gốc từ Nhật Bản và
lần đầu tiên tìm thấy ở nước Mỹ vào năm 1916 ở vườn ươm gần Riverton,
Newjersey, loài này xuất hiện ở Mỹ do nhập khẩu hàng hóa từ Nhật Bản 1912
(Mass, 1988) [51].
Phòng trừ bọ cánh cứng Nhật Bản (Popillia japonica): Giai đoạn ấu
trùng sống ở dưới lớp cỏ và ăn rễ cỏ, ấu trùng dễ bị một loài vi khuẩn
Paenibacillus popilliae ký sinh. Cơ quan phát triển Mỹ (USDA) đã phát hiện
và phát triển phòng trừ sinh học loài sâu hại này bằng loài vi khuẩn nói trên, có
hiệu quả rất cao từ 1 - 5 năm (hiệu lực này phụ thuộc vào thời tiết) và nếu sử
dụng đúng cách hiệu lực kéo dài 15 - 20 năm, ngoài ra dùng thuốc bảo vệ thực
vật KAOLIN dùng để phun phòng trừ hoặc dùng bẫy Pheromone để hấp dẫn
trưởng thành sau đó bắt chúng, một số cây mang tính chất xua đuổi bọ cánh
cánh cứng Nhật bản như bạc hà, hành, tỏi và cây họ cúc (Klein, 1998) [48].


13

1.3.1.4 Rệp muội (họ Aphididae)
Rệp muội là loại gây hại quan trọng khi trồng dong riềng trong nhà
kính, trồng bằng củ hay hạt dong riềng, chúng gây hại khi dong riềng bắt đầu
xuất hiện chồi non (chồi non rất hấp dẫn với rệp), điều này rất quan trọng
phòng trừ rệp để bảo vệ mắt chồi của dong riềng, cũng trong giai đoạn này
nếu không chú ý phòng trừ rệp sẽ dẫn đến sự bùng nổ về số lượng chỉ trong
vài ngày, chồi non ngừng sinh trưởng và chết.
Phòng trừ rệp bằng cách phun thuốc trừ sâu, nhưng điều quan trọng
thường xuyên kiểm tra Rệp trên dong riềng, nếu ít có thể dùng chổi lông chải
Rệp hoặc dùng bọ rùa ăn thịt để trừ rệp để tránh bùng nổ về số lượng lớn
(nguồn internet: Cooltropical plant.com, 2007-2008) [32].
1.3.1.5 Nhện đỏ 2 chấm
Nhện đỏ 2 chấm (Tetranychus urticae) là loài gây hại quan trọng trong
nhà kính hoặc chủ yếu thấy trong thời gian nhiệt rất nóng, khô. Cơ thể nhện
rất nhỏ, rất khó phát hiện bằng mắt thường giống như những chấm đỏ hoặc
xanh trên lá và trên thân dong riềng, trưởng thành có kích thước khoảng
0,5mm. Nhện đỏ có thể thấy ở trong nhà kính ở vùng nhiệt đới và ôn đới, đặc
điểm sống ở dưới mặt lá (Mens, 2006) [52].
Nhện đỏ là loài ăn tạp có thể ăn trên hàng trăm loại cây chủ yếu trên các
loài rau và cây lương thực như ớt, cà chua, khoai tây, đậu đỗ, ngô, dâu tây... và
trên hoa hồng.
Nhện đỏ đẻ trứng trên lá và kiểu gây hại là chích hút, làm cho lá nhỏ
lại, để lại trên lá các vết chấm đen gây nên vết thương làm chết biểu bì, có thể
nhìn thấy rất rõ vết thương rất nhỏ tương ứng với kích thước của nhện đỏ, với
mật độ cao gây hại làm ảnh hưởng đến quang hợp của dong riềng, có thể dẫn
đến làm chết cây, nhện đỏ còn là môi giới truyền virus thứ cấp.


14

Mùa hè Nhện đỏ (T. urticae) có màu nâu hơi xanh với 2 chấm đen rõ,
nhưng vào mùa đông cơ thể có màu đỏ trở lại .
Kẻ thù tự nhiên của nhện đỏ là Phytoseiulus persimilis được sử dụng
như một biện phòng trừ sinh học.
1.3.1.6 Những nghiên cứu về họ bọ nẹt (Eucleidae)
Bọ nẹt thuộc Họ ngài gai Eucleidae, tổng họ Cossoidea (Brock, 1971)
[22], bộ cánh vảy: Lepidoptera, là sâu hại chủ yếu ở vùng có khí hậu nhiệt
đới và á nhiệt đới. Inoue (1986) [41] đã ghi nhận có 95 loài ở vùng Boneo
(vùng đông nam Á), 26 loài được phát hiện ở Nhật Bản và chỉ có 3 loài được
phát hiện ở Châu Âu. Lill (2006) [49] cho biết sau này đã phát hiện và mô tả
được trên 1.000 loài trên thế giới và thực tế số lượng loài bọ nẹt còn có thể
lớn hơn rất nhiều so với những loài đã phát hiện.
Những đặc điểm phân loại của họ bọ nẹt Eucleidae
Họ Bọ nẹt (Eucleidae) được được xếp tổng họ Cossoidea, dựa trên cấu
tạo của bộ phận ngực của bọ nẹt (Brock, 1971) [22]. Common (1970) [24],
Common (1975) [25] lại dựa vào những đặc tính sinh trưởng giai đoạn đầu
của bọ nẹt, xếp họ bọ nẹt (Eucleidae) vào tổng họ Zygaenoidea. Fletcher &
Nye (1982) [29] đã xếp họ bọ nẹt thuộc tổng họ Cossoidea. Heppner (1998)
[34] đã xếp họ bọ nẹt Eucleidae thuộc tổng họ Cossoidea. Tuy nhiên, sự phân
loại của nhiều tác giả cho đến nay vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau, chưa có
sự thống nhất cao.
Gần đây nhất về phân loại bọ nẹt, theo Soble (1992), Epstein và cs
(1999) và Stekolnikov (2001) bọ nẹt được xếp vào tổng họ Zygaenoidea (dẫn
theo Solovyev & Witt, 2009a) [60]
Trong Bộ cánh vảy Lepidoptera họ Megalopygidae phân bố vùng
Trung và Nam Mỹ, trưởng thành tương đối giống họ Eucleidae về bề ngoài


15

nhưng khác nhau về mạch cánh, sâu non nhiều lông. Cơ quan sinh dục thiếu
phần lồi và đặc biệt có cụm lông cứng phần bên ngoài, con cái có có phần phụ
sinh dục nhỏ và dẹt, các thùy của buồng trứng đối nhau, đốt 7 và đốt 8 bụng
gần bộ phận sinh dục có lớp lông mịn và rất dày. Theo Fracker (1915) [30] và
Mosher (1916) [53] sâu non và nhộng của họ Megalopygidae có những điểm
tương đồng với sâu non và nhộng của họ Eucleidae.
Hering (1931) [35] đã nhóm gộp một số loài bọ nẹt vào họ phụ trong họ
Eucleidae dựa vào các đặc điểm của cơ quan sinh dục và mạch cánh của
trưởng thành đực và trưởng thành cái.
Epstein (1996) [28] đã mô tả các gân của mạch cánh đã phân chia cánh
trước và cánh sau của trưởng thành họ bọ nẹt Eucleidae giống như những tam giác
sắp xếp có quy tắc, với thân gân cánh M chia cánh thành hai phần (hình 1.1).

Hình 1.1. Mạch cánh loài bọ nẹt Setora cupreiplaga (1)
và loài Setothosea asigna (2) (Nguồn: Epstein M.E, 1996)

Bộ phận sinh dục của con đực có cấu tạo như một cái van thon dài,
dương cụ hình ống, uốn cong ở 1/3 đoạn cuối. Đoạn ống dẫn tinh từ bộ phận
phóng tinh dịch được gắn dưới ổ bụng. Mấu sau của bộ phận sinh dục đực
hình góc nhọn hướng về phía trên. Mấu trước của bộ phận sinh dục có đỉnh
hình thon nhọn như búp măng hoặc nhọn như cựa gà, có vỏ cứng sẫm màu.
Những mấu sinh dục này có đặc điểm rõ nét đại diện cho họ bọ nẹt.


16

Bộ phận sinh dục của trưởng thành cái họ bọ nẹt khá đa dạng, phần vỏ
thô ráp, bộ phận đẻ trứng có hình thùy đôi, bộ phận sinh dục hình đĩa. Chính
hình dạng của bộ phận sinh dục như vậy làm cho trứng của các loài thuộc họ
bọ nẹt có hình đĩa dẹt. Đây là đặc điểm khá đồng nhất của họ bọ nẹt. Ở xoang
bụng thứ 8 có 2 bướu lồi cụt ở hai bên (hình 1.2). Đầu phần tuyến phụ tiết
dịch sinh dục khá ngắn, đoạn gần cuối thuôn dài hơn.

Hình 1.2. Bộ phận sinh dục trưởng thành cái bọ nẹt
loài Cheromettia sumatrensis (1) và loài Thosea borneensis (2)
(Nguồn: HeringE.M, 1931)

Tuyến phụ sinh dục cái hình xoắn ốc là đại diện cho tất cả những nhóm
họ bọ nẹt đã được công nhận, ở một số họ phụ khác tuyến phụ sinh dục cũng
có hình xoắn ốc tương tự. Hình xoắn ốc của tuyến phụ tiết dịch khá dài, đặc
biệt rất dài ở giống Phocoderma Kollar, dài gấp xấp xỉ 3 lần độ dài của phần
bụng khi kéo dãn ra. Hình xoắn ốc do lớp vỏ cứng tạo thành, tuyến phụ tiết
dịch hình chữ S, đặc biệt ở loài có ống hoạt dịch hình xoắn ốc chữ S sẽ được
sử dụng để xác định nhiều giống ghép có cùng những đặc điểm chung.
Hering (1931) [35] đã mô tả hình dáng bộ phân sinh dục trưởng thành
đực và trưởng thành cái để xác lập sự đồng nhất của các loài thuộc họ
Eucleidae và đã sắp xếp phân loại lại họ bọ nẹt trong tổng họ bọ nẹt Châu Á,


17

nhưng tất nhiên có một số loài như Panasa chloris Herrich-Schaffer và
Miresa clariss Stoll thuộc châu phi cùng giống loài Châu Á và được xếp vào
phân nhóm cùng phân họ Eucleidae.
Hering (1955) [36] và Janse (1964) [42] đã dựa vào mạch cánh và các
đặc điểm chân và khảo cứu bộ phận sinh dục để tìm ra những đặc điểm chủ
yếu cùng loài bọ nẹt thuộc họ Euleidae. Tuyến phụ sinh dục cái của họ bọ nẹt
Eucleidae có đặc điểm hình xoắn ốc là đặc điểm khác biệt so với các loài
thuộc họ khác. Ví dụ các loài thuộc châu Phi không có tuyến phụ sinh dục.
Dựa vào đặc điểm hình dạng của tuyến phụ sinh dục, có thể chia họ bọ nẹt
Eucleidae thành những họ phụ nhỏ hơn. Nhóm có tuyến phụ sinh dục có hình
hơi bầu dục chứa ống ngoằn ngoèo chữ S nhỏ, tròn và có sống hình sao, điển
hình là giống Narosa Walker, Belippa Walker và Austrapoda Inoue (thuộc
vùng ôn đới châu Á). Một số giống khác tuyến phụ sinh dục hình chữ S mở
rộng như giống Demonarosa Masumura. Một số giống khác tuyến phụ sinh
dục không ngoằn ngoèo như giống Cania Walker và Altha Walker. Nhưng hai
giống Cania Walker và Altha Walker lại có mối liên hệ với giống Narosa
Walker về đặc điểm mạng gân cánh và những đặc trưng cơ bản khác.
Một số đặc điểm về hình thái cơ bản của bọ nẹt.
Fracker (1915) [30] trưởng thành bọ nẹt đực và cái toàn thân phủ một một
lớp lông mềm mại và dày đặc, đôi cánh trước có phủ lớp lông thô hơn và các lớp
lông đó được xếp thành nhiều hàng lộn xộn, không theo hàng lối nhất định.
Râu đầu trưởng thành đực bọ nẹt hình lược, trừ các giống Narosa
Walker và Trichogyia Hampson. Hai dạng râu đầu hình lược và không hình
lược được xếp vào hai họ phụ. Đặc điểm râu đầu là cơ sở để phân chia họ bọ
nẹt thành những họ phụ nhỏ hơn. Ở một số giống hình lược của râu đầu chiếm
một nửa đến 2/3 kể từ gốc chân râu. Đặc biệt giống Darna Walker râu đầu


18

toàn bộ là hình lược.
Trứng hình tròn, hơi dẹt và xếp giống hình vảy cá thành chuỗi, trứng
được đẻ thành từng ổ hình dạng không giống nhau, có ổ trứng tập trung, có ổ
trải thành vệt dài trên bề mặt giá thể.
Sâu non bọ nẹt có đặc điểm khuyết thiếu hai hàng chân dài và có vùng
bụng dính giống như giác bám, khi di chuyển sâu non thỉnh thoảng tiết ra ra
dịch nhầy như vết bò của ốc sên để lại trên lá cây chủ. Sâu non vận động dựa
vào sự chuyển động của cơ bụng. Có thể quan sát thấy sự vận động của cơ
bụng khi sâu non di chuyển trên thủy tinh.
Fracker (1915) [30] cũng đã mô tả chân ngực sâu non bọ nẹt nhỏ, đầu
bé thụt vào trong xoang ngực, khi ăn đầu sâu non mới vươn dài ra. Trong
nhiều trường hợp, hình thù sâu non bọ nẹt giống như ốc sên. Một số giống bọ
nẹt tuyến phụ sinh dục hình lưỡi liềm kép thì ấu trùng có hình thon dài. Bề
mặt sống lưng sâu non họ bọ nẹt có dãy chấm ngắt khoảng.
Sâu non bọ nẹt có hai hàng lỗ thở dọc theo hai bên sườn và mép ngoài
của lưng sâu non có bốn hàng chùm lông nhọn, hai dãy dọc theo mép ngoài
của mặt lưng, hai dãy dọc theo bên sườn bên dưới lỗ thở.
Mép ngoài bên sườn có gờ gồm một chùm lông gai hoàn chỉnh ở đốt
bụng thứ nhất, lỗ thở ở đốt này nằm cách xa dãy lỗ thở còn lại, chùm lông gai
này đôi khi thấy như một mẩu ngắn, nằm giữa lỗ thở và chùm lông thứ 3,
những biến đổi bao gồm sự tăng hoặc giảm những chùm lông gai giảm đi ít
nhiều, đặc biệt đối với dãy chùm lông lông thuộc phần lưng, hoặc biến mất
hoàn toàn như thấy ở một số loài họ phụ khác. Sâu non bọ nẹt có đặc điểm
giống loài sên khi di chuyển thường tiết ra chất dịch nhày, nhưng khác loài
sên trên mình sâu non có lông gai sắc nhọn nối với tuyến độc gây ngứa, nhức
khi tiếp xúc với chúng.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×