Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu thành phần loài, cấu trúc quần xã san hô cứng và hình thái rạn san hô ven đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận (luận văn thạc sĩ)

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------------------------------------

Nguyễn Văn Hiếu

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, CẤU TRÚC
QUẦN XÃ SAN HÔ CỨNG VÀ HÌNH THÁI RẠN SAN HÔ
VEN ĐẢO PHÚ QUÝ TỈNH BÌNH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội, 2010

1


Mục lục
Lời
cảm
ơn

…………………………………………………………………………..Error!
Bookmark not defined.
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................4
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ......................................6
1.1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu rạn san hô trên thế giới. ............................................6
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu rạn san hô ở Việt Nam .....................................7
1.2.1 Thành phần san hô cứng và san hô tạo rạn.....................................................9
1.2.2 Phân bố và đặc điểm sinh thái rạn san hô.....................................................11
1.2.3. Đặc điểm cấu trúc và hình thái rạn san hô. .................................................12
1.2.4. Hiện trạng rạn san hô Việt Nam ..................................................................14
1.3. Tổng quan điều kiện tự nhiên và tình hình nghiên cứu nguồn lợi hải sản và rạn
san hô ven đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. ..............................................................17
1.3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên ........................................................................17
1.3.1.1. Vị trí địa lý ...........................................................................................17
1.3.1.2 Địa hình, địa mạo, địa chất địa tầng ......................................................19
1.3.1.3. Điều kiện khí tƣợng, thuỷ văn ..............................................................20
1.3.2. Tổng quan một số nghiên cứu nguồn lợi hải sản và rạn san hô ven đảo Phú
Quý ........................................................................................................................21
CHƢƠNG 2. TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..............................23
2.1. Thời gian và phạm vi nghiên cứu.......................................................................23
2.1.1. Thời gian nghiên cứu ...................................................................................23
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu .....................................................................................23
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................................25
2.2.1. Phƣơng pháp thu mẫu và phân tích các yếu tố môi trƣờng .........................25
2.2.2. Phƣơng pháp điều tra và nghiên cứu san hô cứng và rạn san hô ................25
2.2.2.1. Thiết kế điều tra, nghiên cứu ................................................................25
2.2.2.2. Phƣơng pháp Manta - tow ....................................................................26
2.2.2.3. Phƣơng pháp xác định độ phủ san hô và các hợp phần đáy khác.........27
2.2.2.4. Phƣơng pháp xác định cấu trúc rạn ......................................................27
2.2.2.5. Phƣơng pháp xác định diện tích rạn san hô ..........................................29
2.2.2.6. Phƣơng pháp phân loại san hô cứng .....................................................30
2.2.3. Phân tích và xử lý số liệu ............................................................................30
2.2.3.1. Hệ số tƣơng đồng Sorensen (S) ...........................................................30
2.2.3.2. Độ phủ san hô cứng sống và các hợp phần đáy khác ...........................30

2


2.2.3.3. Xác định diện tích rạn san hô ...............................................................31
2.2.3.4. Xử lý các yếu tố môi trƣờng .................................................................32

CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................33
3.1. Kết quả khảo sát một số yếu tố môi trƣờng biển ven đảo Phú Quý ...................33
3.1.1. Các thông số môi trƣờng nƣớc cơ bản ........................................................33
3.1.2. Hàm lƣợng dầu và xyanua (CN-) ................................................................35
3.1.3. Đánh giá tổng thể chất lƣợng môi trƣờng nƣớc biển ven đảo Phú Quý ......36
3.2. Thành phần loài san hô cứng .............................................................................37
3.2.1. Cấu trúc thành phần loài san hô cứng .........................................................37
3.2.2. Danh sách thành phần loài san hô cứng và phân bố mặt rộng ....................41
3.2.3. Sự tƣơng đồng của tập hợp loài giữa các vùng rạn ven đảo Phú Quý ........47
3.3. Đặc trƣng phân bố của quần xã san hô cứng .....................................................48
3.3.1. Đặc trƣng phân bố quần xã san hô cứng theo mặt rộng ..............................48
3.3.2. Đặc trƣng phân bố quần xã san hô cứng theo độ sâu ..................................50
3.4. Đặc điểm hình thái và diện tích phân bố rạn san hô ven đảo Phú Quý .............51
3.4.1. Đặc điểm hình thái rạn san hô ven đảo Phú Quý ........................................51
3.4.2. Diện tích phân bố rạn san hô ven đảo Phú Quý ..........................................53
3.5. Hiện trạng phát triển của quần xã rạn san hô cứng ............................................56
3.5.1.Hiện trạng độ phủ san hô trên các vùng rạn nghiên cứu ..............................56
3.5.2. Đánh giá biến động độ phủ san hô sống theo thời gian ..............................57
3.6. Hiện trạng hệ sinh thái rạn san hô và các yếu tố tác động .................................58
3.6.1 Các tác động từ tự nhiên ...............................................................................58
3.6.2 Các tác động của con ngƣời .........................................................................59
3.7. Đề xuất việc bảo vệ quần xã san hô và nguồn lợi biển ven đảo Phú Quý .........62
3.7.1. Đề xuất các giải pháp sử dụng, bảo vệ và phát triển hợp lý hệ sinh thái rạn
san hô .....................................................................................................................62
3.7.2. Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng ................................63
3.7.3. Đề xuất phân vùng bảo tồn quần xã rạn san hô trong kế hoạch thiết lập khu
bảo tồn biển Phú Quý. ...........................................................................................64
KẾT LUẬN ...............................................................................................................71
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................73
PHỤ LỤC .............................................. ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.

3


MỞ ĐẦU
San hô cứng thuộc ngành động vật Ruột khoang (Coelenterata) chỉ sống ở
biển, có thành phần loài rất phong phú. Cho tới nay trên thế giới có khoảng 2000
loài thuộc 172 giống, 22 họ san hô hiện đại đã đƣợc công bố [49]. Đa số các loài
san hô cứng đều sống thành tập đoàn ở vùng biển nông nhiệt đới, chỉ một số ít loài
sống đơn độc. Chúng có thể phân bố rộng, sống cả ở vùng nƣớc lạnh, độ sâu lớn,
không có ánh sáng. Xét về vai trò tạo rạn, san hô cứng đƣợc chia thành hai nhóm:
nhóm san hô tạo rạn (Hermatypic) và nhóm san hô không tạo rạn (Ahermatypic).
Hai nhóm này có sự tƣơng đồng về cấu trúc động vật, chỉ khác nhau cơ bản ở chỗ
san hô tạo rạn có tảo cộng sinh (Zooxanthellae) nằm trong mô thịt động vật, trong
khi đó nhóm san hô không tạo rạn không có. Vì vậy hai nhóm có sự khác nhau về
sinh thái và động thái dinh dƣỡng. Nhóm thứ nhất vừa có khả năng dinh dƣỡng
bằng quang hợp, vừa ăn cả động vật, nhóm thứ hai chỉ ăn thịt, phân bố không phụ
thuộc vào ánh sáng.
Về sinh thái, quần xã san hô là nhóm động vật sống bám đáy không di
chuyển, tạo thành các tập đoàn (colony) rất đông đảo, còn để lại nhiều di tích hoá
thạch đƣợc bảo tồn tại chỗ trong các lớp trầm tích trên khắp thế giới. Vì thế chúng
không chỉ có giá trị trong nghiên cứu địa tầng mà còn là đối tƣợng tốt cho nghiên
cứu biến đổi khí hậu trong những năm gần đây.
Ngoài ra hệ sinh thái rạn san hô có đặc tính đa dạng sinh học cao mà trƣớc
hết là sự thể hiện giàu có về thành phần loài sinh vật trên rạn. Trên cùng một diện
tích phân bố ở từng vùng, không một hệ sinh thái biển nào có thành phần loài nhiều
hơn rạn san hô [53]. Rạn san hô là môi trƣờng mà nhiều loài phụ thuộc vào đó. Nền
đáy cứng trên rạn là nơi mà nhiều loài sinh vật đáy sinh sống và sinh trƣởng. Một số
lƣợng lớn các hang hốc trên rạn cung cấp nơi trú ẩn cho cá, đặc biệt là cá con và các
động vật không xƣơng sống. Nhiều loài còn coi rạn san hô là nơi duy trì tồn tại của
chu trình sống và sử dụng rạn nhƣ là nơi kiếm ăn, đẻ trứng hoặc ƣơng con và trú ẩn.
Vì vậy từ những năm 1991 trở về đây những chƣơng trình nghiên cứu biển trên các
rạn san hô ở Việt Nam tập trung vào những vấn đề liên quan đến tiềm năng đa dạng

4


sinh học, hiện trạng khai thác sử dụng và cơ sở khoa học cho việc thiết lập các khu
bảo tồn thiên nhiên biển.
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện trạng các rạn san
hô tại Việt Nam và có chung nhận định về sự suy giảm độ phủ san hô cũng nhƣ đa
dạng nguồn lợi sinh vật trong rạn và đƣa ra các giải pháp bảo vệ nguồn lợi.
Để góp phần nhỏ vào công tác bảo tồn biển. Chúng tôi thực hiện đề tài “
Nghiên cứu thành phần loài, cấu trúc quần xã san hô cứng và hình thái rạn san hô
ven đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận” với các nội dung chính:
- Xác định thành phần loài, cấu trúc quần xã san hô cứng ven đảo Phú Quý, tỉnh
Bình Thuận.
- Xác định đặc điểm hình thái, diện tích và phân bố rạn san hô cứng ven đảo Phú
Quý, tỉnh Bình Thuận.
Với những kết quả nghiên cứu này nhằm bổ sung tƣ liệu về đa dạng sinh học
quần xã rạn san hô nói riêng và đa dạng sinh học biển nói chung của vùng ven biển
đảo Phú Quý. Từ đó kết hợp với các luận cứ khoa học cơ bản về điều kiện tự nhiên,
đa dạng sinh học, môi trƣờng và xu hƣớng diễn thế của chúng trong mối tƣơng quan
mật thiết với điều kiện thực tiễn kinh tế-xã hội làm cơ sở cho việc thiết lập xây
dựng và quản lý các khu bảo tồn biển mà trong đó hệ sinh thái rạn san hô đóng vai
trò đối tƣợng trung tâm.

5


CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu rạn san hô trên thế giới.
Cuối thế kỷ XVIII, rạn san hô trở thành mối quan tâm lớn trên thế giới bởi vì
đây chính là nguyên nhân chủ yếu gây ra các vụ đắm tàu. Thật đáng ngạc nhiên khi
rạn san hô đƣợc quan tâm muộn nhƣ vậy vì một nửa đƣờng bờ của Đại Tây Dƣơng
nằm ở vùng nhiệt đới và 1/3 bờ biển nhiệt đới có san hô phân bố. Trong cuốn sách
“Rạn san hô” xuất bản năm 1842, Charles Darwin đã chỉ ra những vùng phân bố
chính của rạn san hô trên thế giới. Bản đồ này đƣợc coi là khá tin cậy trong phạm vi
lớn. Sau đó James Dana cũng có một công trình lớn vào năm 1872, tuy nhiên tác
phẩm đó lại bị Darwin phê phán do quan điểm về sự hình thành các đảo san hô
vòng. Darwin đã đúng và đƣợc nhiều nhà khoa học cùng thời ủng hộ. Tuy nhiên,
mối quan tâm của giới khoa học về cuộc tranh luận này đã dừng lại với bản đồ phân
bố và lý thuyết hình thái rạn của Darwin. Những quan tâm đối với san hô, một cách
tách biệt khỏi nghiên cứu về rạn, đƣợc thực hiện từ cuối thể kỷ thứ XVIII. Mẫu vật
san hô đã đƣợc thu thập trong nhiều chuyến khảo sát lớn và đƣợc định loại trƣng
bày ở các bảo tàng Châu Âu và Mỹ. Trƣớc khi có những tiến bộ về lặn có khí tài,
những vùng nghiên cứu chủ yếu giới hạn ở Biển Đỏ, Nhật Bản, Palau, Philippines,
Great Barrier Reef, Hawaii, đảo Marshall và vịnh Carribe. Tính ra đã có tới 400
công trình về phân loại san hô tạo rạn đƣợc xuất bản với 2000 tên gọi đã đƣợc đặt
và mô tả trƣớc thời đại lặn có khí tài. Rất tiếc là nhiều mô tả thời đó rất sơ sài và tên
gọi thì khá lộn xộn. Về sau này, với các trang thiết bị hiện đại và qua nhiều chuyến
khảo sát lớn, hiểu biết về rạn san hô và san hô tạo rạn đã đƣợc cải thiện [21].
Cho đến nay, khoảng 700 loài san hô tạo rạn đã đƣợc ghi nhận trên thế giới với tính
đa dạng loài khác nhau giữa các vùng biển thế giới. Trong đó vùng đa dạng nhất là
nhiệt đới Tây Thái Bình Dƣơng. Lý thuyết của Darwin cho rằng kiếu cấu trúc đảo
san hô vòng “là hình ảnh của một hòn đảo bị chìm ngập” đã đƣợc chứng minh bằng
các dẫn liệu về khoan sâu. Những nghiên cứu về rạn san hô trong thế kỷ hai mƣơi
đã tập trung đánh giá những tác động và hậu quả sinh thái do hoạt động của con
ngƣời gây nên đối với rạn và tìm kiếm các giải pháp nhằm bảo tồn rạn san hô cho

6


thế hệ tƣơng lai.
Hiện nay, cứ 4 năm một lần một hội thảo quốc tế về rạn san hô đƣợc tổ chức.
Đây là cơ hội để hàng ngàn nhà nghiên cứu và quản lý trao đổi thông tin và cùng
nhau hành động vì sự tồn tại bền vững của rạn san hô và nâng cao lợi ích mà con
ngƣời đƣợc hƣởng lợi từ rạn san hô[21].
Kết quả của chuyến khảo sát Ramble có thể đƣợc coi là công trình nghiên
cứu rạn san hô đầu tiên ở vùng Biển Đông trong đó đã nghi nhận 14 giống san hô
cứng ở quần đảo Macclesfield và đảo san hô vòng Tigia ( thuộc quần đảo Trƣờng
Sa). Ngoài ra có những thông tin không chính thức cho rằng Darwin cũng đã ghé
qua các rạn san hô trong Biển Đông trên con đƣờng nghiên cứu học thuyết về sự
hình thành các đảo san hô vòng (atoll) [46]
Những nghiên cứu về phân bố rạn san hô thế giới ghi nhận có hàng ngàn rạn
san hô, giới hạn phân bố của chúng chỉ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trải từ
khoảng 30 độ vĩ tuyến Bắc đến 30 độ vĩ tuyến Nam nơi mà nhiệt độ nƣớc biển hiếm
khi xuống dƣới 180C. Diện tích bao phủ rạn san hô lên đến 6 x 105 km2 [48]. Sự
khác biệt về hình thái, thành phần sinh học, tính đa dạng và cấu trúc phản ánh đặc
trƣng địa-sinh học, tuổi, phân vùng địa động vật và điều kiện môi trƣờng. Tuy
nhiên, chúng không luôn luôn tồn tại nhƣ hiện nay mà đã trải qua một lịch sử thay
đổi, biến động liên quan chặt chẽ đến những sự kiện lớn về địa chất và khí hậu toàn
cầu.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu rạn san hô ở Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu về hệ sinh thái rạn san hô Việt Nam ghi nhận những kết
quả nghiên cứu của Ramble nhƣ những công trình nghiên cứu đầu tiên ở vùng Biển
Đông. Trong đó Smith (1890) [46] đã ghi nhận 14 giống san hô cứng ở quần đảo
Macclesfield và đảo san hô vòng Tigia (Trƣờng Sa).
Trƣớc những năm 1954 các chƣơng trình nghiên cứu về san hô ở Biển Đông
nƣớc ta phần lớn đƣợc thực hiện bởi các nhà nghiên cứu ngƣời Pháp thuộc Viện Hải
Dƣơng học Nha Trang. Các công trình nghiên cứu sau đó đƣợc xuất bản bằng tiếng
Pháp, trong đó đáng kể nhất là tập hợp kết quả công trình nghiên cứu của Chevey P

7


[3] và Krempf.A ([12]. Những khảo sát tiếp theo của Serene , R. [56] ; Dawydoff.
C.N., (1952) [54] ở nhiều vùng biển ven bờ cũng cho phép nêu lên những nhận định
về thành phần san hô cứng, cấu trúc và phân bố của một số rạn san hô ở vịnh Hạ
Long, vịnh Thái Lan, Côn Đảo và ven biển miền Trung.
Từ năm 1955 đến năm 1975, nghiên cứu về rạn san hô đƣợc tiến hành không
nhiều. Đáng chú ý nhất là hai công trình nghiên cứu ở vịnh Nha Trang của Trần
Ngọc Lợi (1955) [56] mô tả các quần xã sinh vật rạn san hô ở vùng nƣớc nông và
tài liệu phân loại san hô mềm của Tixier - Durivault (1970)[45].
Từ năm 1975 đến năm 1990 là thời kỳ có nhiều chƣơng trình nghiên cứu lớn,
tiêu biểu là các chƣơng trình hợp tác với Liên Xô. Những nghiên cứu cơ bản về rạn
san hô đƣợc quan tâm trong các công trình khoa học biển của Nhà nƣớc và nhất là
trong các chuyến khảo sát liên hợp Việt Xô. Các công trình xuất bản trong thời kỳ
này đã cung cấp những dẫn liệu cơ bản về phân bố, quần xã sinh vật rạn, thành phần
loài san hô tạo rạn và hiện trạng của nhiều rạn san hô ở vùng biển ven bờ miền
Trung và quần đảo Trƣờng Sa. Những kết quả đáng chú ý của giai đoạn này đƣợc
xuất bản vào những năm sau đó, bao gồm các công trình của Latypov [5,6,7,8];
Nguyễn Huy Yết [26, 27, 28, 29,30, 31, 34]; Võ Sĩ Tuấn [17, 18, 19], [20].
Các nghiên cứu về san hô thực hiện sau năm 1990 chủ yếu tập trung vào
những vấn đề liên quan đến tiềm năng đa dạng sinh học, hiện trạng khai thác sử
dụng và cơ sở khoa học cho việc thành lập các khu bảo tồn biển. Trong đó, những
báo cáo điều tra của các đội khảo sát Quỹ bảo vệ động vật hoang dã Quốc tế
(WWF) và Viện Hải Dƣơng học là cơ sở ban đầu để đề xuất hệ thống khu bảo tồn
biển Việt Nam. Song song với vấn đề bảo tồn thiên nhiên, việc tổng kết và nghiên
cứu cũng cho phép giải quyết một số vấn đề cơ bản nhƣ địa động vật, phân vùng đa
dạng sinh học dựa trên đặc tính khu hệ san hô tạo rạn [9]. Từ năm 2000 đến nay,
Viện Hải dƣơng học Nha Trang phối hợp với một số tổ chức Quốc tế khác tiến hành
các chƣơng trình nghiên cứu cơ bản về hệ sinh thái rạn san hô, nhƣng tiêu biểu là 2
nghiên cứu tổng thể đa dạng sinh học làm cơ sở khoa học cho việc phân vùng và
thiết lập khu bảo tồn biển ở vịnh Nha Trang (Khánh Hòa) và Cù Lao Chàm (Quảng

8


Nam). Từ kết quả khảo sát đó, 2 khu bảo tồn biển đầu tiên ở Việt Nam đã đƣợc thiết
lập vào các năm 2001 và 2003. Đối với rạn san hô miền Bắc, từ năm 2003-2004
Viện Nghiên cứu Hải sản phối hợp với Viện Tài nguyên Môi trƣờng Biển Hải
Phòng đã thực hiện chƣơng trình nghiên cứu đa dạng sinh học tại 2 đảo Cát Bà và
Cô Tô làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng khu bảo tồn biển. Gần đây 2 chƣơng
trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản do Đỗ Văn Khƣơng làm chủ nhiệm :
-

Năm 2006-2008 Đề tài“Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự

kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc
thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi”.
-

Năm 2007-2009 Đề tài KC09 ”Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

các khu bảo tồn biển trọng điểm phục vụ cho xây dựng và quản lý”.
Nội dung nghiên cứu bao gồm các kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học
biển, kết hợp với các nghiên cứu đánh giá kinh tế xã hội tại mỗi khu vực là những
tƣ liệu có giá trị cao trong định hƣớng thiết lập mạng lƣới khu bảo tồn biển Việt
Nam trong thời gian tới.
1.2.1 Thành phần san hô cứng và san hô tạo rạn
Những nghiên cứu từ năm 1982 - 2004 đã xác định khoảng 400 loài thuộc 79
giống san hô cứng ở ven bờ biển Việt Nam. Kết quả thống kê thể hiện sự tƣơng đối
giàu có về thành phần loài của vùng biển phía Nam với số lƣợng hơn hẳn vùng biển
phía Bắc và gần tƣơng đƣơng với các vùng giàu có san hô của thế giới nhƣ
Philippines (441 loài), Nam Papua New Guinea (282 loài), Biển Coral Sea (239
loài), Bắc Great Barrier Reef (324 loài), giữa Great Barrier Reef (343 loài) [50] và
Đông Indonesia (350 loài) [36]. Tổng số loài ghi nhận ở ven biển Việt Nam cho ta
nhận định rằng: Vùng biển Việt Nam là một trong những vùng có thành phần loài
san hô khá đa dạng của thế giới.
Trong 79 giống san hô cứng đã xác định ở Việt Nam, có 72 giống thuộc
nhóm san hô tạo rạn. Tuy nhiên, sự đa dạng loài san hô tạo rạn khá khác nhau giữa
các vùng phân bố (bảng 1).

9


Bảng 1. Số lượng loài san tạo rạn ở các vùng ven biển Việt Nam
Số lƣợng

Số lƣợng

Số lƣợng

Số lƣợng

giống san

loài san hô

giống san

loài san hô

hô cứng

cứng

hô tạo rạn

tạo rạn

Tây vịnh Bắc Bộ

56

200

56

186

Trung Trung Bộ

64

246

61

238

Nam Trung Bộ

77

400

71

350

Đông Nam Bộ

63

350

61

>300

Tây Nam Bộ

64

270

61

Trƣờng Sa, Hoàng Sa

65

Vùng biển

256
65
256
(Nguồn: theo Võ Sỹ Tuấn, 2005)[21]

Về cấu trúc thành phần loài, trong thành phần loài đã xác định ở biển Việt
Nam, giống có số loài nhiều nhất là Acropora chiếm 16,8% tổng số loài đã ghi
nhận, sau đó là các giống Monipora (8,6%), Porites (4,5%), Fungia (3,7%),
Goniopora (3,5%), Pavona (2,4%). So sánh các vùng phía nam Việt Nam với vịnh
Bắc Bộ và một số vùng biển khác ở tây Thái Bình Dƣơng cho thấy tỷ lệ của số loài
thuộc các giống này trên tổng số loài ít thay đổi hoặc thay đổi không có quy luật
ngoại trừ đối với giống Favia – nhóm san hô dạng khối điển hình. Điều cần chú ý là
giống này có tỷ lệ số lƣợng loài khá cao ở vùng biển xung quanh đảo Amacusa và
Tanegashima – các vùng biển của Nhật Bản ít chịu ảnh hƣởng của các dòng nƣớc
ấm Kuroshio từ phía nam [50] và vịnh Bắc Bộ - Bắc Việt Nam. Trong khi đó, sự
khác nhau của thông số này giữa vùng biển phía Nam Việt Nam và các vùng còn lại
kể cả ở Okinawa ( Nhật Bản) không đáng kể.
Thống kê trên đây cho thấy, vịnh Bắc Bộ có thành phần loài nghèo hơn rõ rệt
so với các vùng biển ở phía Nam Việt Nam. Hơn nữa, sự phổ biến của rạn san hô ở
một số vùng trong Vịnh – nơi có nhiệt độ khá thấp vào mùa đông, còn bất ngờ ngay
cả đối với giới nghiên cứu. Vì vậy, liệu tính chất thành phần loài có sự khác biệt
giữa vịnh Bắc Bộ và các vùng biển phía Nam hay không.

10


Một số phân tích trên đây cho thấy, nếu không kể về số lƣợng, tính chất
thành phần loài san hô cứng của vùng biển ven bờ phía Nam Việt Nam không khác
biệt nhiều so với vịnh Bắc Bộ. Trong khi đó luận điểm phân vùng địa động vật của
Gurjanova, (1976) cho rằng khu hệ động vật vịnh Bắc Bộ thuộc phân vùng Trung
Hoa- Nhật Bản, còn vùng biển phía Nam từ 13 độ vĩ tuyến Bắc trở vào thuộc phân
vùng Ấn Độ-Mã Lai.( trích Võ Sĩ Tuấn ctv, 2005). Dƣờng nhƣ tính chất thành phần
loài san hô cứng không phù hợp với luận điểm này. Đây cũng là cơ sở để một số tác
giả Maliautin & Latypov, 1991[9] phủ nhận phân chia vùng địa động vật ở Biển
Đông. Vấn đề cần xem xét thêm là hầu hết san hô cứng tạo rạn mang tính chất
nhiệt đới rõ rệt và đều phát tán từ trung tâm ở vùng nhiệt đới thông qua vai trò của
dòng chảy trên biển. Yếu tố này thay đổi theo mùa rất phức tạp đối với các vùng
biển ven bờ và chi phối tính chất khu hệ san hô. Ngay cả ở vùng biển vĩ độ cao phía
Bắc nhƣ Okinawa cũng có khu hệ san hô cứng khá điển hình nhờ ảnh hƣởng của
dòng chảy Kuroshio. San hô tạo rạn không có con đƣờng phát tán ngƣợc lại từ phía
Bắc nhƣ nhiều nhóm sinh vật có nguồn gốc hình thành đa dạng khác. Vì vậy, cần
phải thận trọng khi dựa vào tính chất thành phần loài san hô để xem xét phân vùng
địa động vật.
1.2.2 Phân bố và đặc điểm sinh thái rạn san hô
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của vùng biển Việt Nam nói chung khá
thuận lợi cho sự phát triển của san hô tạo rạn, trừ các vùng chịu ảnh hƣởng của các
lƣu vực sông với độ muối thấp và độ đục cao. Rạn san hô phân bố hầu hết tại các
vùng nƣớc nông ven bờ, ven đảo có nền đáy chắc, rất giàu có ở các quần đảo
Trƣờng Sa và Hoàng Sa. Tuy nhiên tính chất phân bố và hình thái các rạn san hô
tƣơng đối khác nhau giữa các vùng địa lý.[21]
Vùng ven bờ thuộc bờ Tây vịnh Bắc Bộ có điều kiện tự nhiên ít thuận lợi nhất
trên phƣơng diện sinh thái san hô tạo rạn. Các yếu tố bất lợi là nhiệt độ thấp vào
mùa đông và ảnh hƣởng lớn của các dòng vật chất từ đất liền. Vùng có rạn san hô
phân bố thƣờng chỉ ở phần ngoài của các vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Quần đảo Cô
Tô, Long Châu… Hầu hết vùng này đều có đáy biển nông , nhiều bùn. Vì vậy, rạn

11


san hô ở bờ Tây vịnh Bắc Bộ thƣờng rất hẹp và chỉ phân bố đến độ sâu khoảng 57m, chỉ những nơi xa rạn mới có thể xuống đến 10m. Tuy nhiên, với vị trí địa lý đảo
Bạch Long Vĩ là nơi thuận lợi nhất cho sự phát triển của rạn san hô vịnh Bắc Bộ.
Vùng ven bờ miền Trung và các đảo Đông Nam Bộ rạn san hô phát triển thuận
lợi hơn so với vùng biển phía Bắc. Đây là những vùng biển có nhiệt độ nƣớc thƣờng
xuyên cao trên 200C và chịu ảnh hƣởng lớn của biển khơi. Địa hình ven biển cũng
tạo thành nhiều các vũng vịnh và đảo tạo nên sự đa dạng về sinh cảnh. Nhờ vậy, san
hô phân bố phổ biến ở dải ven bờ từ Đà Nẵng đến Bình Thuận, xung quanh hầu hết
các đảo từ Cù Lao Chàm đến Côn Đảo. Hình thái rạn cũng rất đa dạng có thể rộng
từ 50m đến 800m.
Ở vùng biển Tây Nam Bộ, vùng ven bờ không thuận lợi cho san hô phát triển
do đáy biển có nhiều bùn, nƣớc có độ trong thấp rạn phân bố xung quanh các đảo xa
bờ nhƣ Phú Quốc, Nam Du, Thổ Chu. So với các vùng biển khác, chế độ thuỷ văn,
động lực ít có những biến động lớn. Do vậy, rạn san hô tƣơng đối đồng nhất về hình
thái. Sự khác biệt chủ yếu do yếu tố nền đáy tạo nên. Các rạn thƣờng có chiều rộng
từ 50-100m và phân bố đến độ sâu 10-13m nƣớc.
Các Quần đảo Trƣờng Sa, Hoàng Sa gồm hàng trăm đảo, bãi ngầm hình thành
do quá trình phát triển sinh - địa học của rạn san hô. Rạn san hô hiện tại có thể phân
bố đến độ sâu 40-50m và có diện tích rất rộng. Các đảo san hô vòng (atoll) điển
hình có thể kéo dài tới 50km và bao gồm các vành khuyên đảo nổi và bãi ngầm.
Lagun bên trong đảo san hô vòng chỉ có độ sâu dƣới 50m, trong khi thềm ngoài dốc
đột ngột xuống hàng trăm mét. Một dạng hình thái khác là các đảo hoặc bãi ngầm
đơn độc chỉ rộng cỡ 2-3km với lagun nông ở bên trong chỉ sâu khoảng 5-7m [21].
1.2.3. Đặc điểm cấu trúc và hình thái rạn san hô.
Ở vùng biển Việt Nam, chỉ mới ghi nhận hai kiểu cấu trúc là rạn riềm (fringing
reef) và rạn dạng nền (plat-form reef). Ở vùng biển khơi xa, rạn san hô thuộc về một
kiểu cấu trúc hoàn toàn khác – đó là các đảo san hô vòng. Rạn dạng nền cũng tồn tại
với cấu trúc là các đảo hoặc bãi ngầm không liên kết thành dải hình vành khuyên
rộng lớn. Đây có thể coi là các “đảo san hô vòng giả” (pseudo-atoll).

12


Theo quan sát tổng quan đặc điểm hình thái rạn san hô ven bờ Việt Nam, rạn
riềm ven bờ chủ yếu tập trung từ Quảng Trị đến vịnh Cà Ná. Các rạn riềm ven bờ
đều không xuất hiện dọc đƣờng bờ vịnh Bắc Bộ, Biển Đông và Tây Nam Bộ, nơi
mà các đƣờng bờ biển và ảnh hƣởng của sông đều không thuận lợi cho chúng. Rạn
riềm ven đảo phổ biến nhất ở vùng biển Việt Nam gồm: Các cụm đảo trên thềm lục
địa nhƣ Hạ Long, Cát Bà, Cô Tô, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, các đảo nhỏ ở Khánh Hoà,
Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du. Các điều kiện chủ yếu thuận lợi
cho rạn tồn tại bao gồm nền đáy cứng xung quanh đảo, ảnh hƣởng của sông ngòi từ
đất liền đến đảo không lớn.
Về mặt hình thái các rạn san hô riềm nói chung thuộc vào hai dạng khác nhau:
rạn riềm điển hình và rạn riềm không điển hình. Rạn riềm điển hình là giai đoạn
hoàn chỉnh của quá trình hình thành rạn san hô và các thành phần cấu trúc của rạn
đƣợc hình thành đầy đủ.
Rạn dạng nền theo Veron J.E.N. (1986), đƣợc gọi là rạn dạng đốm - thuật
ngữ của Stoddard là rạn phát triển trên các bãi cạn, đồi ngầm. Cùng với quá trình
phát triển của địa chất, chúng có thể hình thành nên các đảo san hô. Kiểu rạn này ở
Việt Nam chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều. Trong khi đó, sơ đồ địa hình thềm lục địa
Việt Nam cho thấy vùng biển nƣớc ta phân bố nhiều bãi cạn, đồi ngầm. Những tƣ
liệu tập hợp đƣợc chỉ cho phép nêu lên nhận xét về hình thái rạn ở một số bãi cạn
[49].
Ví dụ: bãi cạn lớn (vịnh Nha Trang) đƣợc cấu thành bởi đá macma tuổi trƣớc
Đệ Tam [16]. Diện tích của nó khoảng 10 km2, nhô lên từ độ sâu khoảng 20m. San
hô tạo rạn phát triển chủ yếu ở sƣờn dốc phía Đông Bắc và đạt độ phủ khá cao.
Thành phần san hô chủ yếu gồm các loài Seriatopira histrix, Porites lutea, P. rus,
Galaxea fascicularis, Lobophyllia corymbosa, Acropora valida. Trên đỉnh bãi cạn
thành phần loài san hô nghèo và tập đoàn có kích thƣớc nhỏ. Rong mơ phát triển
mạnh ở vùng này và bao phủ gần hết diện tích nền đáy.
Vùng biển bắc Bình Thuận có nhiều bãi cạn ở vùng có độ sâu nhỏ hơn 20m.
Trong đó lớn nhất là bãi cạn Breda ( bắc Cù Lao Cau) có diện tích 22km2 và nhô

13


nên từ độ sâu 10m đến cách mặt biển 4m. Vật liệu tạo nên bãi cạn là các đá trầm
tích giàu carbonat tuổi Đệ Tam, trên bề mặt thƣờng có các trầm tích sinh lƣu chuyển
[18]. Nền đáy trên bãi cạn chủ yếu đƣợc bao phủ bởi san hô mềm giống
Sarcophyton. Xen kẽ với chúng là một số san hô cứng dạng khối Goniastrea,
Porites, Platygyra… Tuy nhiên, sự nghèo nàn của quần xã san hô cứng hiện nay và
nền đáy lộ đá đã phủ nhận nhận xét trên. Cấu trúc bãi cạn hoàn toàn do quá trình địa
chất hình thành [21].
Nhìn chung hầu hết các bãi cạn nghiên cứu, rạn san hô hiện đại kém phát
triển. Điều đó còn đúng với quá khứ. Chính sự kém phát triển suốt lịch sử phát triển
đã không cho phép hình thành các rạn nền điển hình với vật liệu tạo nên các bãi cạn
hoàn toàn là san hô chết nhƣ các vùng biển khác. Do vậy đến nay, rạn dạng nền trên
thềm lục địa không hình thành bất cứ một rạn san hô nào.
1.2.4. Hiện trạng rạn san hô Việt Nam
Trong những năm gần đây, gần 200 điểm rạn san hô đã đƣợc khảo sát ở dải
ven biển Việt Nam. Thông kê số liệu cho thấy hiện trạng độ phủ của san hô trên các
rạn không ở trạng thái tốt. Số liệu thống kê còn thể hiện các rạn ở xa bờ hoặc xa các
vùng tập trung dân cƣ thƣờng có độ phủ, chất lƣợng rạn tốt hơn các khu vực rạn
vùng ven bờ [37]. Tổng hợp dẫn liệu các công trình nghiên cứu cho thấy tình trạng
độ phủ san hô cứng sống tại một số khu vực chủ yếu vùng ven bờ Việt Nam.[21]
(bảng 2).
Bảng 2. Độ phủ san hô tại một số vùng chủ yếu ven biển Việt Nam
Vùng nghiên cứu

Số điểm
khảo sát

Khoảng giao động
độ phủ (%).

Độ phủ trung
bình (%).

Năm
khảo sát

1

Hạ Long – Cát Bà

21

12 - 65

40,6 ± 15,2

1998

2

Bạch Long Vĩ

5

2,7 - 4,7

21,7 ± 15,7

1995

3

Hai Vân-Sơn Trà

7

35 – 62,7

50,5 ± 15,7

1996

4

Cù Lao Chàm

5

18,4 – 53,7

33,9 ± 12,4

2002

5

Vịnh Nha Trang

8

5,6 – 44,4

26,4 ± 15,9

2002

6

Ninh Thuận

6

16,3 – 55,9

36,9 ± 13,5

2002

Stt

14


7

Vịnh Cà Ná

6

18,4 – 68,4

40,5 ± 24,1

1996

8

Côn Đảo

8

1,6 – 50,3

23,3 ± 18,2

2002

9

Phú Quốc

6

28,7 – 52,5

42,2 ± 8,6

2002

10

Nam Du

4

37,8 – 62,8

47,4 ± 11,7

2002

11

Thổ Chu

4

4,6 – 15,9

11,3 ± 4,80

2002

Độ phủ san hô sống trên rạn tại một số khu vực phân bố chủ yếu vùng ven bờ
Việt Nam đang bị giảm dần theo thời gian, có nhiều nơi độ phủ giảm đến trên 30%.
Điều này cho thấy rằng rạn san hô đang bị phá huỷ và có chiều hƣớng suy thoái.
Ngoài ra, bằng phƣơng pháp phân tích gián tiếp qua kỹ thuật bản đồ trong
mối tƣơng quan với các hoạt động kinh tế xã hội ở vùng ven biển, áp dụng mô hình
Reef at Risk, Bucke và ctv (2002)[37] đã chỉ ra mức độ bị đe dọa của các rạn san hô
Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo đó, hầu hết các rạn san hô ven
bờ Việt Nam bị đe doạ bởi hoạt động của con ngƣời, với 50% số rạn bị xếp ở mức
độ đe dọa cao và 17% ở mức độ rất cao. Đánh bắt huỷ diệt đƣơc đánh giá là rất phổ
biến và trầm trọng với trên 85% số rạn bị đe doạ ở mức độ trung bình và cao. Khai
thác quá mức đƣợc đánh giá là mức đe dọa lớn cho khoảng một nửa số rạn. Các mối
đe dọa đƣợc coi là thấp hơn gồm tiềm năng lắng đọng trầm tích (47% số rạn), phát
triển vùng ven biển (40% số rạn) và ô nhiễm trên biển (7%).
So sánh với tình trạng của các rạn san hô trong khu vực, mô hình tính toán
cho thấy Việt Nam nằm trong nhóm có tỷ lệ các rạn bị đe doạ nhiều nhất (cùng với
Philippines, Trung Quốc, Đài Loan và Indonesia). Chỉ có các rạn quần đảo
Andaman (Ấn Độ), biển Myanmar và Thái Lan có trên 20% số rạn còn ở mức chịu
đe doạ ít [37].
Một số dẫn liệu nghiên cứu tại đảo Côn Đảo, Bà Rịa –Vũng Tầu và Bạch
Long Vĩ, Hải Phòng của tác giả Võ Sĩ Tuấn và Nguyễn Huy Yết là những nghiên
cứu cho thấy sự tác động mạnh mẽ từ tự nhiên và con ngƣời đến môi trƣờng và sự
sinh thái rạn san hô. Sự suy giảm độ phủ mạnh mẽ rạn san hô trƣớc và sau bão
Linda tại Côn Đảo (bảng 3).

15


Bảng 3. Biến đổi độ phủ san hô cứng, san hô mềm và san hô chết ở một số địa điểm
xung quanh quần đảo Côn Đảo quan sát trước và sau cơn bão Linda năm 1997
Địa

điểm

nghiên cứu

1994-1995 (Trƣớc bão Linda)

4/1998 (Sau bão Linda)

SH cứng

SH mềm

SH chết

SH cứng

SH mềm

SH chết

Bến Đầm

44,7

0

11,4

31,56

0,31

49,38

Bông Lan

55,4

2,3

29,2

10,73

0,63

50,31

Chim Chim

36,0

23,0

5,2

47,50

19,38

0

Đất Dốc

37,5

0

20

19,69

1,25

58,20

Hòn Cau

52,0

0

42,0

0,63

0

74,38

Hòn Trọc

51,5

8,3

6,8

8,76

4,15

65,60

Bãi Dƣơng

43,4

8,3

31,6

2,19

0,63

85,31

Nguồn: Võ Sĩ Tuấn (2001)
Những dẫn liệu về hàm lƣợng Cyanua vƣợt chỉ tiêu cho phép ở vùng biển
Bạch Long Vĩ (bảng 4) minh chứng cho việc lạm dụng chất độc trong đánh bắt hải
sản.
Bảng 4. Hàm lượng Cyanua trong môi trường nước xung quanh đảo Bạch
Long Vĩ tháng 5/1998
Đối tƣợng

Hàm lƣợng (Trung bình)

Nƣớc biển

0,38-1,12 mg/l (0,704 mg/l)

Trầm tích đáy

2160-4190 mg/kg (2980 mg/kg)

Rong biển tƣơi

20,01-60,24 mg/kg (38,85 mg/kg)

Thịt bào ngƣ tƣơi

310,5-732,4 mg/kg (544,1 mg/kg)

Ghi chú

Hàm lƣợng vƣợt tiêu
chuẩn cho phép từ
7,6-22,4 lần

Nguồn: (Võ Sĩ Tuấn và Nguyễn Huy Yết, 2001)

16


1.3. Tổng quan điều kiện tự nhiên và tình hình nghiên cứu nguồn lợi hải sản và
rạn san hô ven đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.
1.3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
1.3.1.1. Vị trí địa lý
Huyện đảo Phú Quý là một quần đảo xa bờ của tỉnh Bình Thuận với 10 đảo
lớn nhỏ. Trong đó, đảo Phú Quý (bao gồm đảo Phú Quý và 5 hòn đảo nhỏ khác) có
diện tích 16,4 km2, nằm ở Nam Biển Đông, có tọa độ địa lý 10029’ - 10033’N và
108055’ - 108058’E.
Đảo Phú Quý còn có tên gọi khác là Cù Lao Thu, Cù Lao Khoai Xứ… cách
thành phố Phan Thiết 120km về hƣớng Đông Nam; cách quần đảo Trƣờng Sa
540km về phía Tây Bắc; cách thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa 150km (về phía
Nam); cách Côn Đảo 330km (về phía Đông Bắc); cách thành phố Vũng Tàu 200km
(về phía Đông) [14],[15].
Phú Quý đƣợc xác định là đảo trọng điểm trong hệ thống đảo ven bờ, nằm
giữa trung tâm khai thác hải sản lớn nhất Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ với
vùng ngƣ trƣờng rộng mở, có nguồn lợi hải sản dồi dào, phong phú, đa dạng. Từ
Phú Quý ngƣ dân có thể vƣơn ra các ngƣ trƣờng xa khơi.

17


Hình 1: Bản đồ đảo Phú Quý (tỷ lệ 1:40.000)
(Nguồn: Nguyễn Viết Thịnh và nnk, 2002)

18


1.3.1.2 Địa hình, địa mạo, địa chất địa tầng
* Địa hình, địa mạo
Huyện đảo Phú Quý với 10 đảo lớn nhỏ, bao gồm: nhóm đảo Phú Quý và nhóm
Hòn Hải [14],[15].
Nhóm đảo Phú Quý: Gồm đảo Phú Quý và 5 hòn đảo nhỏ khác.
Đảo Phú Quý: Đảo trung tâm.
Hòn Tranh: Cách cảng Phú Quý 600m, nằm về phía Đông Nam đảo Phú
Quý. Hòn Tranh có dạng hình chữ S, nơi rộng nhất 400m, nơi dài nhất 1000m với
diện tích gần 2,8km2. Hòn Tranh trƣớc đây là một hoang đảo chủ yếu là cỏ tranh,
đƣợc nhân dân phá trồng hoa màu và hiện nay đang đƣợc trồng rừng phục hồi môi
trƣờng. Hòn Tranh không có dân cƣ sinh sống và hiện là nơi đặt trạm ra đa quan sát
biển của lực lƣợng hải quân nhân dân Việt Nam.
Hòn Đen (Hòn Mực): Nằm về phía Đông Bắc, cách Phú Quý khoảng 100m,
gồm toàn đá mẹ bazan chƣa phong hóa.
Hòn Trứng (Hòn Ngoài, Hòn Nghiên, Hòn Đá Cao, Hòn Đá Quý): Nằm ở
phía Tây Bắc, cách Phú Quý 3km. Hòn Trứng là điểm tựa của nhiều loại ghe
thuyền. Mùa gió Nam thuyền có thể neo đậu ở phía Bắc, mùa gió Bắc có thể neo
đậu ở phía Nam.
Hòn Giữa: Đây là một dãy ghềnh đá bén nhọn nằm cạnh Hòn Đen, nằm vắt
ngang nhƣ một nhịp cầu nối liền Hòn Đen và Hòn Đỏ.
Hòn Đỏ: Nằm phía Đông Bắc đảo Phú Quý. Sở dĩ có tên gọi là Hòn Đỏ vì ở
đây toàn là đá màu đỏ.
Đƣờng bờ đảo Phú Quý cấu tạo phức tạp, cấu tạo đất đá chủ yếu là vành đai
đá đen (huyền nham) cùng lớp đá san hô và xâm nhập. Đƣờng bờ là đƣờng phân cắt
giữa bề mặt biển và lục địa. Sự phân bố và vị trí đƣờng bờ thƣờng không cố định,
phụ thuộc vào thủy triều, bồi tụ và xói lở.
Các bãi triều ven đảo Phú Quý đƣợc chia làm 5 dạng chính [14],[15].
Bãi triều rạn đá gốc điển hình: Bãi triều đƣợc hình thành do các lớp đá gốc
nằm chồng chất lên nhau.

19


Bãi triều rạn đá - cát: Là loại hình có cấu trúc phần cao triều là đá gốc điển
hình, phần giáp ranh là vùng trung - cao triều là cát và đá gốc.
Bãi đá tảng - cát: Gồm các tảng đá lớn nhỏ có nguồn gốc từ các bãi đá gốc.
Bãi cát - san hô
Bãi cỏ biển - san hô
Đáy biển ven đảo: Vùng đáy có bề mặt tích tụ - mài mòn phân bố ở độ sâu từ
3-10m. Phần lớn bề mặt là cát và cát hạt mịn lẫn mảnh vụn sinh vật. Một số khu vực
bề mặt có các rạn san hô phát triển [14],[15].
* Địa chất địa tầng
Cấu trúc địa chất: Theo các nhà địa chất học, Phú Quý là dấu tích của một
hỏa diệm sơn (núi lửa) đã tắt qua nhiều lớp phún thạch của mỏm hỏa sơn chuỳ, núi
Cao Cát lộ khỏi mặt biển. Địa tầng Phú Quý đƣợc xác định gồm 5 thềm nối tiếp,
phản ánh những thời kì mực nƣớc thay đổi (quá trình biển tiến và biển lùi) đã để lại
những dấu ấn trầm tích trong giai đoạn lịch sử phát triển địa chất cách đây 3 triệu
năm. Đảo đƣợc bao quanh bằng một vành đai đá đen (huyền nham) cùng lớp đá san
hô rộng và dày. Chính vành đai này đã góp phần chắn những cơn sóng mạnh xâm
thực giữ cho đảo tồn tại đến ngày nay.
Cấu trúc địa tầng: Địa hình của đảo không bằng phẳng, nổi lên có 3 ngọn núi
chính là núi Cấm (108m), núi Cao Cát (85m) và núi Ông Đụn (44,9m). Trong số
những ngọn núi, núi Cấm với ngọn hải đăng đƣợc coi nhƣ một công trình thiên
nhiên rất quan trọng để ngƣ dân “bắt” đƣợc đảo trong những cuộc hải trình. Đất đai
Phú Quý phổ biến là loại đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá macma, bazơ đƣợc
pha trộn với lƣợng cát trắng hàng năm từ biển đƣa vào nên ngoài màu nâu đỏ còn có
màu vàng và xám đen [14],[15].
1.3.1.3. Điều kiện khí tượng, thuỷ văn
*Điều kiện khí tượng
- Hoàn lưu khí quyển và chế độ gió: Phú Quý có chế gió mùa với hai mùa rõ rệt:
mùa gió Nam bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 9, mùa gió Bắc từ tháng 10 đến tháng 2

20


năm sau. So với nhiều vùng ở đất liền, khí hậu ở đây chịu ảnh hƣởng trực tiếp của
không khí biển nên quanh năm mát mẻ.
- Nhiệt độ và độ ẩm không khí: Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 28-290C.
Nhiệt độ nƣớc biển cũng khá ổn định, trung bình 270C. Độ ẩm không khí trung bình
từ 82-84% [2]
- Mưa và bốc hơi nước: Khí hậu ở đảo Phú Quý có tính chất cận xích đạo, nóng
quanh năm, có một mùa mƣa và một mùa khô khá kéo dài. Mùa mƣa kéo dài từ
tháng 5 đến tháng 11, lƣợng mƣa năm thấp (1.170 mm/năm), tổng lƣợng bốc hơi
năm xấp xỉ bằng tổng lƣợng mƣa (1.059 mm). Mùa khô ở Phú Quý kéo dài từ tháng
12 đến tháng 4, sâu sắc nhất là vào tháng 1 và 2.
- Bão và các hiện tượng thời tiết đặc biệt: Vùng biển đảo Phú Quý ít bị bão (trung
bình 0,66 cơn bão/năm), nhƣng gió mạnh nhất là vào mùa gió Tây Nam có thể gây
sóng lớn làm phá hủy bờ biển, các công trình cảng, các đầm nuôi cũng nhƣ gây khó
khăn cho việc nuôi lồng trên biển. Ở phía Đông Bắc đảo thƣờng chịu ảnh hƣởng
trực tiếp của gió mùa Đông Bắc, lại chỉ có các đảo nhỏ chắn sóng, nên hiện tƣợng
xói lở bờ đảo cũng diễn ra khá mạnh [2].
*Điều kiện thuỷ văn
Chế độ thuỷ triều mang tính chất chung của vùng biển Bình Thuận là nhật
triều không đều. Độ cao mực nƣớc triều cƣờng ở đây tăng lên 2,0 - 3,5m. Vùng
quanh đảo Phú Quý chịu ảnh hƣởng của 2 dòng biển ven bờ giao nhau: Dòng biển
ấm từ vùng biển Đông Nam Bộ trong mùa gió Tây Nam mang theo nhiều chất dinh
dƣỡng gặp dòng chảy lạnh ven bờ có nhiệt độ thấp hơn và độ muối cao hơn, tạo ra
môi trƣờng thuận lợi. Ngoài ra, nƣớc biển quanh đảo Phú Quý còn chịu ảnh hƣởng
của vùng nƣớc trồi vào thời kỳ gió mùa Tây Nam. Vì vậy, môi trƣờng nƣớc quanh
đảo Phú Quý có những nét đặc trƣng riêng biệt, thể hiện rõ nhất là yếu tố nhiệt độ
nƣớc thấp hơn so với các đảo khác trong cùng khu vực Trung Bộ [2].
1.3.2. Tổng quan một số nghiên cứu nguồn lợi hải sản và rạn san hô ven đảo
Phú Quý
Các kết quả khảo sát san hô vùng biển ven đảo Phú Quý của đoàn điều tra
hợp tác Việt - Xô đã xác định đƣợc 134 loài thuộc 50 giống san hô cứng [8].

21


Năm 1995, đề tài “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và
kinh tế - xã hội hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội biển” mã số KT-03-12 do Lê Đức An [1] làm chủ nhiệm đã nghiên cứu, đánh
giá điều kiện tự nhiên và nguồn lợi tại một số đảo Việt Nam, trong đó có đảo Phú
Quý.
Trong khuôn khổ nhiệm vụ “Nghiên cứu hiện trạng nguồn lợi, điều kiện môi
trƣờng và khả năng phát triển nghề cá của những đảo lớn, vùng gần bờ (Lý Sơn,
Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc)” thuộc dự án Ven Bờ, [14,15] đã nghiên cứu đánh
giá điều kiện tự nhiên, môi trƣờng và nguồn lợi tại khu bảo tồn biển Phú Quý.
Đề tài cấp Bộ “Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô tại một số vùng dự kiến
thiết lập khu bảo tồn biển và nguồn lợi hải sản vùng dốc thềm lục địa Việt Nam, đề
xuất biện pháp sử dụng hợp lý”, Đỗ Văn Khƣơng và ctv (2008)[11] đã nghiên cứu
về điều kiện môi trƣờng, sinh vật phù du, hệ sinh thái rạn san hô và nguồn lợi cá rạn
san hô. Có thể nói, đây là đề tài nghiên cứu đầy đủ nhất cho đến thời điểm hiện nay
về hệ sinh thái rạn san hô tại Phú Quý.
Ngoài ra, còn một số hoạt động nghiên cứu khác liên quan đến nguồn lợi tại
khu bảo tồn biển Phú Quý, song chỉ kết hợp với các chƣơng trình nghiên cứu chung
trên vùng biển Việt Nam. Tuy vậy, những nghiên cứu đó cũng có những kết quả
nhất định về đa dạng sinh học và nguồn lợi tại khu bảo tồn biển Phú Quý.

22


CHƢƠNG 2. TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Thời gian nghiên cứu
Quá trình điều tra khảo sát và thu thập mẫu vật đƣợc tiến hành trong hai đợt
khảo sát trong năm 2010.
-

Thời gian thực hiện chuyến thứ nhất vào tháng 3 năm 2010, thời gian khảo
sát thực địa ven biển Phú Quý 15 ngày.

-

Thời gian thực hiện chuyến thứ hai vào tháng 7-8 năm 2010, thời gian khảo
sát thực địa ven biển Phú Quý 15 ngày.

2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu đề tài là khu vực biển ven đảo Phú Quý trong phạm vi
phân bố hệ sinh thái rạn san hô từ ven bờ đến độ sâu khoảng 25m nƣớc. Tổng số đã
khảo sát 9 mặt cắt (hình 1), trong đó tại mỗi mặt cắt tiến hành khảo sát ghi nhận
thành phần loài, độ phủ san hô sống và đặc tính phân bố. Độ sâu khảo sát tùy thuộc
vào rạn san hô phân bố tại mỗi khu vực nhƣng thƣờng dao động trong khoảng từ 1
đến 25 mét nƣớc (hình 2).

23


Hình 2. Vị trí mặt cắt khảo sát tại các vùng rạn ven bờ đảo Phú Quý

24


2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu mẫu và phân tích các yếu tố môi trường
+ Phương pháp quan trắc ngoài hiện trường: Tiến hành quan trắc, phân tích
các mẫu môi trƣờng nƣớc trên hệ thống các điểm quan trắc đại diện cho tính toán,
xác định chất lƣợng môi trƣờng theo Quy định về phƣơng pháp quan trắc và phân
tích môi trƣờng của Cục Bảo vệ Môi trƣờng, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2002,
2004) và Quy phạm điều tra tổng hợp biển của Ủy ban Khoa học & Kỹ thuật Nhà
nƣớc (1981) [4].
+ Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: Tiến hành phân tích các
thông số môi trƣờng nƣớc theo các tài liệu hƣớng dẫn; Sổ tay hƣớng dẫn quan trắc
phân tích môi trƣờng (Cục bảo vệ Môi trƣờng 2002) [4], các tiêu chuẩn Việt Nam
và tài liệu Standard Methods for the Examination of Water and Westewater, 19th ed.
Washington của APHA - AWWA - WPCF, 1995 [35].
2.2.2. Phương pháp điều tra và nghiên cứu san hô cứng và rạn san hô
2.2.2.1. Thiết kế điều tra, nghiên cứu
Dựa trên mục tiêu và nội dung nghiên cứu lựa chọn và áp dụng phƣơng pháp
khảo sát rạn san hô đang đƣợc phổ biến của Reefcheck, trên các dây mặt cắt 100m,
đặt song song với đới ven bờ. Ngoài ra, tham khảo các tài liệu nghiên cứu trƣớc đây
tại khu vực mà điển hình là nghiên cứu khảo sát của Latypov 1995 [8] tại đảo Phú
Quý và các nghiên cứu của Đỗ Văn Khƣơng, 2008 [11] là những tƣ liệu tham khảo
rất giá trị cho việc tiến hành lựa chọn khảo sát.
Tại khu vực ven bờ đảo Phú Quý tiến hành phƣơng pháp khảo sát Manta
tow tổng quan, phân tích điều kiện tự nhiên và hiện trạng chung của mỗi khu vực
rạn để đặt mặt cắt khảo sát cố định. Số lƣợng mặt cắt và vị trí các mặt cắt đại diện
cho hiện trạng phát triển của rạn san hô và tính đa dạng thành phần loài quần xã, số
lƣợng các mặt cắt đƣợc cố định, khảo sát lặp lại hai lần trong hai chuyến của
chƣơng trình nghiên cứu (bảng 5)

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×