Tải bản đầy đủ

Đề cương chuẩn Quản Lý Nhà Nước Thương mại điện tử

1Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

CÂU 1: Sự cần thiết và vai trò của quản lý nhà nước trong TMDT
 Sự cần thiết của quản lý nhà nước trong TMDT
Thứ nhất, phải khắc phục những hạn chế của việc điều tiết của thị
trường, bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra.
Thị trường không phải là nơi có thể đạt được sự hài hoà trong việc phân
phối thu nhập xã hội, trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội, trong việc
phát triển kinh tế xã hội giữa các vùng… Cùng với việc đó, thị trường cũng không
khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, những mặt trái của nền
kinh tế thị trường đã nêu ở trên. Tất cả điều đó không phù hợp và cản trở việc thực
hiện đầy đủ những mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội đã đề ra. Cho nên trong quá
trình vận hành kinh tế, sự quản lý nhà nước đối với kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là cần thiết để khắc phục những hạn chế, bổ sung chỗ
hổng của sự điều tiết của trhị trường, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Đó cũng là thực hiện nhiệm vụ hàng đầu của quàn lý nhà nước về kinh tế.
Thứ hai: Bằng quyền lực, chính sách và sức mạnh kinh tế của mình.
Nhà nước phải giải quyết những mâu thuẫn lợi ích kinh tế phố biến, thường
xuyên và cơ bản trong nền kinh tế quốc dân.
Trong quá trình hoạt động kinh tế, con người có mối quan hệ với nhau. Lợi
ích kinh tế là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ đó. Mọi thứ mà con người phấn

đấu đền liên quan đến lợi ích của mình. Trong nền kinh tế thị trường, mọi đối tác
đều hướng tới lợi ích kinh tế riêng của mình. Nhưng, khối lượng kinh tế thì có hạn
và không thể chia đều cho mọi người, nếu xẩy ra sự tranh giành về lợi ích và từ
đó phát sinh ra những mâu thuẫn về lợi ích. Trong nền kinh tế thị trường có những
loại mâu thuẫn cơ bản sau đây:
- Mâu thuẫn giữa các doanh nghiệp với nhau trên thương trường.
- Mâu thuẫn giữa chủ và thợ trong các doanh nghiệp
- Mâu thuẫn giữa người sản xuất kinh doanh với toàn thể cộng đồng trong
việc sử dụng tài nguyên và môi trường, không tính đến lợi ích chung trong việc họ
cung ứng những hàng hoá và dịch vụ kém chất lượng, đe doạ sức khoẻ cộng đồng:
trong việc xâm hại trật tự, an toàn xã hội, đe doạ an ninh quốc gia vì hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình.
- Ngoài ra, còn nhiều mâu thuẫn khác nữa như mâu thuẫn về lợi ích kinh tế
giữa cá nhân; công dân với Nhà nước, giữa các địa phương với nhau, giữa các
ngành, các cấp với nhau trong quá trình hoạt động kinh tế của đất nước.
- Những mâu thuẫn này có tính phổ biến, thường xuyên và có tính căn bản
vì liên quan đến quyền lợi của NTD và của các DN đồng thời tác động đến sự ổn

1


2Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

định kinh tế-xã hội. Chỉ có nhà nước mới có thể giải quyết được các mâu thuãn đó,
điều hoà lợi ích của các bên.
Thứ ba, tính giai cấp trong kinh tế và bản chất giai cấp của nhà nước
Nhà nước hình thành từ khi xã hội có giai cấp. Nhà nước bao giừ cũng đại
diện lợi ích của giai cấp thống trị nhất định trong đó có lợi ích kinh tế. Nhà nước
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đại diện cho lợi ích dân tộc và nhân dân, Nhà nước của
ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội do
Nhà nước ta xác định và quản lý chỉ đạo là nhằm cuối cùng đem lại lợi ích vật chất
và tinh thần cho nhân dân. Tuy vây, trong nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa
với nước ngoài, không phải lúc nào lợi ích kinh tế của các bên cũng luôn luôn nhất
trí. Vì vậy, xuất hiện xu hướng vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong quá trình hoạt
động kinh tế trên các mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối.
Trong cuộc đấu tranh trên mặt trận kinh tế. Nhà nước ta phải thể hiện bản
chất giai cấp của mình để bảo vệ lợi ích của dân tộc và của nhân dân ta. Chỉ có
Nhà nước mới có thể làm được điều đó. Như vậy là, trong quá trình phát triển kinh
tế, Nhà nước ta đã thể hiện bản chất giai cấp của mình.
Ngoài ra còn do các lý do sau đây dẫn đến sự cần thiết của QLNN trong

TMDT
- Nền KTTT thường xuyên thay đổi và chịu tác động của nhiều yếu tố do đó
chính sách cần thường xuyên thay đổi đề phù hợp với thị trường, đảm bảo tạo thị
trường ổn đinh, cạnh tranh công bằng giữa các chủ thể trong nền KT
- Khoa học công nghệ ngày càng phát triển, số lượng người làm về TMDT
cũng nhiều hơn. Do vậy nhu cầu và thói quen tiêu dùng của người dân cũng ngày
một thay đổi theo. Người ta bắt đầu hình thành thói quen tìm kiếm thông tin trên
mạng trước khi quyết định mua hàng hóa, dịch vụ nào đó. Nắm được nhu cầu này
mà các doanh nghiệp tạo dùng mọi cách để lôi kéo, thu hút khách hàng do vậy mà
không tránh khỏi được các gian lận, mánh khóe trong TM, ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích của NTD.
- Ngày nay vấn đề thanh toán trong TMDT còn gặp phải nhiều khó khăn nhất
là bảo mật thông tin KH khi tiến hành giao dich: thông tin cá nhân và thông tin về
tài khoản của KH khó mà đảm bảo an toàn nếu như DN không có các kết nối an
toàn. Do vậy cần có sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho
NTD cũng như giảm thiểu các tranh chấp TM không đáng có, đồng thời tạo ra các
chế tài phù hợp, nghiêm ngặt để khắc phục các vấn đề trên.
- Do tính chất khó khăn và phức tạp của việc tham gia vào hoạt động của nền
kinh tế, nên các doanh nghiệp và doanh nhân rất cần có sự hỗ trợ của nhà nước (hỗ

2


3Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

trợ về ý chí, về tri thức, về phương tiện, về môi trường kinh doanh v.v )
 Vai trò của quản lý nhà nước trong TMDT
Gồm 4 vai trò
• Tạo lập ra môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn trong TM
- Môi trường TM và cạnh tranh về TMDT phụ thuộc nhiều vào chính sách,
pháp luật và thủ tục hành chính.
- Các thông tin và kế hoạch TMDT phải tuân thủ quyết định, chính sách nhà
nước tránh tình trạng thủ tục hành chính rườm rà, khuôn phổ pháp lý không
đầy đủ, không đồng bộ và thiếu tính minh bạch và tạo nên vai trò rất lớn cải
thiện môi trường kinh doanh nhất là trong môi trường hiện tại kinh doanh
ngày càng khốc liệt và nhiều biến đổi.
- Nhà nước tạo lập, cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp
kinh doanh TMDT thông qua các quan hệ về TM, sự giao lưu hàng hóa
trong nước và quốc tế nhờ thiết lập khuôn khổ pháp lý đầy đủ hơn, đồng bộ
hơn, tiến bộ hơn trong lĩnh vực TMDT.
- Nhà nước vừa là người ban hành các chính sách, quy định vừa là người tổ
chức hướng dẫn thực hiện và kiểm tra, giám sát.
=> Tóm lại: Tạo ra môi trường kinh doanh trong điều kiện hội nhập và cạnh
tranh ở mức độ cao hơn như hiện nay đòi hỏi nhà nước phải quản lý vĩ mô
cũng phải đổi mới tư duy, công cụ và các chính sách quản lý, nâng cao trình độ
nhận thức, điều hành lãnh đạo chung trong TMDT để tạo ra môi trường cạnh
tranh tốt hơn, bình đẳng hơn.
• Hỗ trợ các DN và giải quyết các mâu thuẫn trong tranh chấp TMDT
- Các doanh nghiệp cần được nhà nước hỗ trợ trong nền kinh tế, cần có một
sự hỗ trợ nhất định. Nhà nước bằng những quyền lực, trách nhiệm, khả
năng của mình buộc phải hỗ trợ cho DN phù hợp với quy trình phát triển
của đất nước trong từng thời kỳ: Hỗ trợ, cung cấp cho hệ thống CNTT tốt,
hỗ trợ CSVCKT, xúc tiến TM
- Giải quyết một số mâu thuẫn: Nhà nước phải can thiệp vào giải quyết một
số mâu thuẫn trên thị trường để cho TMDT càng ngày càng phát triển mạnh
hơn, cần thiết hơn là công cụ quan trọng phục vụ cho các DN trong việc
bán sản phẩm,..
- Nhà nước phải dựa vào chuẩn mực các định chế cần thiết để thực hiện
cưỡng chế trong giải quyết các tranh chấp thương mại. Trong nền KTTT
phần lớn các giao dịch được thực hiện dựa trên CSHT do vậy khi những
định chế và quy định dễ dàng hơn là điều kiện cần thiết giúp cho TM nói

3


4Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

chung và TMDT nói riêng phát triển tốt, lành mạnh nhất trong nền tranh
chấp TM.
• Điều tiết các quan hệ thị trường và các hoạt động TMDT
- Theo quy luật thị trường các chủ thể kinh doanh luôn quan tâm tới việc bố
trí và di chuyển nguồn lực từ những nơi có thể phát triển sản xuất để tìm
kiếm lợi nhuận dẫn tới việc mất cân đối giữa cung và cầu. Do vậy nhà nước
cần điều tiết các quan hệ TM và hạn chế nhược điểm để tăng cường quan
hệ TM bền vững cho tăng trưởng, phát triển kinh tế.
- Nhà nước hướng dẫn, khuyến khích các DN thực hiện pháp luật, chính sách
đảm bảo việc ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo lợi ích cho NTD.
- Nhà nước sử dụng nhiều công cụ hoặc biện pháp khác nhau để điều tiết thị
trường để khuyến khích TMDT phát triển bằng nhiều biện pháp, hỗ trợ, tạo
điều kiện, tác động vào thị trường.
• Giám sát, kiểm tra thực hiện các mục tiêu phát triển TMDT
- Quản lý nhà nước về TMDT bao giờ cũng hướng tới mục tiêu để phát triển
kinh tế. Do vậy thực chất quản lý nhà nước về TMDT thực hiện giám sát,
kiểm tra để phát hiện các sai lệch để điều chỉnh cho phù hợp hơn với sự
phát triển của TMDT. Tuy nhiên phát hiện đúng nhưng kiểm tra, giám sát
cũng phải chuẩn mực. Đòi hỏi chất lượng ở đội ngũ thanh tra, kiểm tra,
giám sát phải có tâm và làm việc hết trách nhiệm.
- Các mục tiêu của TM mang tính bền vững, bao gồm tăng trưởng, kiểm soát
và điều chỉnh thực hiện mục tiêu phát triển TMDT đòi hỏi phải có sự phối
hợp giữa các ngành từ trung ương đến địa phương.
- Công tác kiểm tra, giám sát cần có bộ máy nhân sự phù hợp, có kỹ thuật,
trang thiết bị, công nghệ để phát hiện ra được những sai sót nhằm có biện
pháp khắc phục kịp thời và hiệu quả.
CÂU 2: Nội dung của quản lý nhà nước về TMDT
• Quản lý kiểm soát hàng hóa lưu thông và hoạt động cung cấp hàng hóa dịch
vụ trên thị trường :
Quản lý kiểm soát hàng hóa lưu thông và hoạt động cung ứng hoạt động trên thị
trường là 1 nội dung quan trọng góp phần định hướng cho đầu tư cơ cấu lại sản
xuất cho nền kinh tế đặc biệt là định hướng phát triển sản phẩm cho DN: khuyến
khích lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi để đa dạng
hóa chủng loại hàng hóa..phù hợp nhu cầu thị trường, khuyến khích hàng hóa sản
xuất trong nc thay thế hàng hóa nhập khẩu, cấm lưu thông hàng hóa cung cấp dịch

4


5Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

vụ phương hại đến quốc phòng an ninh an toàn xã hội truyền thống thuần phong
mỹ tục VN…quản lý chất lượng hàng hóa cung ứng trong nc và xuất khẩu.
• Quản lý hệ thống thương nhân và các giao dịch thương mại điện tử
Thương nhân gồm các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp cá nhân hoạt động
TM 1 cách độc lập các sàn giao dịch điện tử có đăng ký kinh doanh.
Quản lý tập trung vào các điều kiện thủ tục đăng ký điều liện kinh doanh điều
chỉnh hành vi thương mại quy định những nguyên tắc chuẩn mực trong TMĐT.
Đảm bảo quyền bình đằng của các thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế
trong TMĐT. Nhà nước quàn lý và đảm bảo cho các DN đc hoạt động hợp pháp,
nghiêm cấm các hoạt động gây hại đến lợi ích quốc gia…Nhà nước đầu tư về tài
chính cơ sở hạ tầng CNTT nhân lực để phát triển thương mại đtử. Nhà nước định
hướng tạo khuôn khổ hành lang pháp lý cho các hoạt động TMĐT tạo môi trường
kinh doanh thuận lợi cho các hoạt động thương mại điện tử trên thị trường. Thanh
tra kiểm tra giám sát việc kinh doanh của các DN TMĐT các sản giao dịch điện
tử…để chấn chỉnh và xử lý kịp thời các vi phạm…
• Quản lý cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin mạng lưới kinh doanh
Trong thương mại điện tử thì cơ sở hạ tầng CNTT đóng vai trò rất quan trọng đối
với sự phát triển giao dịch lưu thông hàng hóa dịch vụ. Tăng cường quản lý về hệ
thống an ninh bảo mật thông tin trong thương mại điện tử. nhà nước cần có những
quy định chính sách chặt chẽ trong việc quy định bảo mật thông tin an toàn. Một
số chính sách như: Thông tư số 46/2010/TT-BCT của Bộ Công thương : Quy định
về quản lý hoạt động của các website thương mại điện tử bán hàng hoá hoặc cung
ứng dịch vụ, Thông tư Số: 09/2011/TT-BCT Quy định về việc quản lý, sử dụng
chữ ký số, chứng thư số và dịch vụ chứng thực chữ ký số của Bộ Công thương
• Thanh tra ktra việc chấp hành giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý các hình
thức vi phạm chế độ quy định và luật pháp trong TMĐT.
Kiểm tra việc đăng ký kinh doanh và việc chấp hành các chế độ quy định và pháp
luật về thương mại điện tử. Phat hiện ngăn chặn xử lý các vi phạm theo thẩm
quyền, kiến nghị
• Ban hành và tổ chức thực hiện các chiến lược quy hoạch kế hoạch chính sách
TMĐT
• Ban hành tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm về luật TMĐT
• Tổ chức bồi dưỡng đào tạo nhân lực nâng cao năng lực nhận thức về TMĐT
• Tổ chức hợp tác quốc tế về TMĐT.

CÂU 3: Các chức năng của quản lý nhà nước về TMDT
5


6Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

Gồm 4 chức năng:
• Chức năng định hướng, phát triển TMDT
- Quan tâm đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực, làm tốt công tác quy hoạch, đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách về TMĐT đáp ứng được yêu cầu công việc;
- Đẩy mạnh cung cấp trực tuyến các dịch vụ công liên quan tới hoạt động sản xuất
kinh doanh theo đúng các cam kết quốc tế về thương mại không giấy tờ trong các
lĩnh vực thuế, hải quan, xuất nhập khẩu, đầu tư, đăng ký kinh doanh và các dịch vụ
công khác liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh;
- Nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý nhà nước về TMĐT: tạo môi trường
thuận lợi cho các doanh nghiệp ứng dụng TMĐT; tăng cường hỗ trợ cho các
doanh nghiệp ứng dụng TMĐT vào hoạt động quảng bá, giới thiệu, tiếp thị sản
phẩm, tham gia giao dịch trực tuyến, đổi mới phương thức kinh doanh, cải tiến
quy trình quản lý;
- Định hướng cho các DN TMDT phát triển đúng hướng theo tiến trình phát triển
của nền KT và WTO
• Chức năng tổ chức và phối hợp các hoạt động quản lý trong TMDT
- Tổ chức thực hiện đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng
thông qua các giao dịch TMDT nhanh nhất và tiết kiệm chi phí nhất. Bên
cạnh đó cũng cần chú trọng đến các khâu lưu kho, vận chuyển hàng hóa và
các hoạt động logictis khác.
- Phối hợp thực hiện giữa các ban ngành, đoàn thể, đơn vị do kinh tế chịu sự
tác động đa chiều của nhiều yếu tố. Cần phối hợp thực hiện để tăng hiệu
quả hiệu suất cũng như tạo sự phối hợp đồng bộ.
• Chức năng lãnh đạo và điều hành các hoạt động TMDT
- Nhà nước cần chú trọng đến các hoạt động lãnh đạo các hoạt động TMDT
để hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra thông suốt, đi đúng hướng và đạt
được đúng các mục tiêu đã đề ra. Sự lãnh đạo đúng đắn và kịp thời sẽ tạo ra
được nhiều kết quả tốt.
- Bên cạnh việc lãnh đạo cũng cần phải điều hành, kiểm tra, giám sát các
hoạt động TM để chúng hoạt động được tốt hơn và diễn ra theo đúng định
hướn đã đề ra.
• Chức năng kiểm soát các hoạt động TMDT
Thông qua các hoạt động kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế làm giảm
thiểu các gian lận TM và làm trong sạch môi trường kinh doanh, tạo ra môi trường
cạnh tranh bình đẳng hơn cho các DN đồng thời giúp các DN đi đúng hướng và
đạt được các mục tiêu kinh tế đã đề ra. Từ đó các giao dịch dienx ra tốt hơn, thông

6


7Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

tin TMDT trở nên nhanh chóng và chính xác hơn. Tất cả đều hướng đến mục tiêu
cuối cùng là lợi ích cho NTD.
CÂU 4: Công cụ kế hoạch hóa trong TMDT
 Công cụ kế hoạch hóa phát triển TMDT
* Khái niệm và sự cần thiết của công cụ kế hoạch hóa
- Công cụ kế hoạch hóa là toàn bộ các phương tiện mà các cơ quan quản lý
nhà nước sử dụng để quản lý nhằm đạt được mục tiêu. Các công cụ chủ yếu
của kế hoạch hóa gồm: Kế hoạch hóa các chính sách, luật pháp trong lĩnh
vực TMDT..
- Kế hoạch hóa là công cụ hướng dẫn và điều tiết quan trọng để nhà nước
điều chỉnh và kiểm soát nền kinh tế bất kể thể chế kinh tế nào thì kế hoạch
hóa cũng chiếm vị trí quan trọng đảm bảo phát triển thương mại và thương
mại điện tử. Do vậy kế hoạch hóa là một công cụ quan trọng trong quản lý
kinh tế để đạt được mục tiêu nhằm phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng
bền vững.
- Kế hoạch hóa là phương án hành động cho tương lai nhằm phát triển
TMDT theo mục tiêu đã xác định. Kế hoạch hóa còn được hiểu là một bộ
phận của kế hoạch trong nền kinh tế quốc dân nhằm lưu thông hàng hóa,
dịch vụ đạt được hiệu quả hơn. Do vậy kế hoạch hóa là một quá trình hoạt
động mang tính liên ngành bao gồm các công cụ hoạch định, thực thi, kiểm
soát, điều chỉnh để phát triển TM. Quy hoạch phát triển tổng thể TM trong
đó có TMDT do vậy phải có kế hoạch hàng năm, 5 năm. Kế hoạch hóa là
một công cụ quan trọng để quản lý TM trong đó có TMDT để phù hợp với
bối cảnh hội nhập kinh tế.
* Nội dung của kế hoạch hóa
- Kế hoạch hóa bao gồm các bộ phận chủ yếu: chiến lược và quy hoạch phát
triển TMDT, kế hoạch 5 năm, hàng năm để phát triển TMDT, các chương trình,
dự án để phát triển TMDT
+ Chiến lược và quy hoạch phát triển TMDT
+ Chiến lược phát triển TMDT: Là một luận cứ khoa học phát triển TMDT
trong 1 thời gian dài để làm căn cứ hoạch định, quy hoạch phát triển TMDT, nhằm
đảm bảo lưu thông hàng hóa nhanh hơn. Vì vậy có thể cho rằng chiến lược phát
triển TMDT là chiến lược đúng đắn của nhà nước phù hợp với sự phát triển kinh
tế. Các loại chiến lược: chiến lược quốc gia (giải pháp vĩ mô để phát triển TMDT),
chiến lược TM vùng – lãnh thổ.
+ Quy hoạch chiến lược phát triển TMDT

7


8Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

-

Quy hoạch phát triển TMDT là 1 luận chứng khoa học về các phương án
phát triển TMDT theo lãnh thổ, vùng để đạt được các mục tiêu đề ra.
- Mục tiêu: Phát huy tối đa lợi thế so sánh sẽ đạt được kết quả tốt. Nếu quy
hoạch không tốt sẽ dẫn tới sử dụng nguồn lực kém và hiệu quả công việc
thấp.
+ Kế hoạch 5 năm, hàng năm trong TMDT:
Kế hoạch 5 năm có nhiệm vụ vạch ra những phương hướng, chỉ tiêu chủ yếu
phát triển thương mại trong mối quan hệ cân đối với các lĩnh vực hoạt động khác
của địa phương hay của nền kinh tế quốc dân. Với nhiệm vụ đó kế hoạch 5 năm
phải cụ thể hóa được những mục tiêu và giải pháp đã được định hướng trong các
chiến lược và quy hoạch. Mặc khác phải thể hienj được tính bao quát đối với toàn
bộ lĩnh vực hoạt động TM và xác định được những mục tiêu cần tập trung nhằm
tạo ra sự phát triển nhanh, bền vững
Kế hoạch hàng năm nhằm cụ thể hóa nội dung của kế hoạch 5 năm, tức là từng
bước lượng mức độ cho phép thực hiện các mục tiêu phát triển TM 5 năm. Nhiệm
vụ của kế hoạch hàng năm là phải tham gia giải quyết từng mặt của kế hoạch 5
năm, biểu thị sự chi tiết hóa nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm. Mặc dù kế hoạch hàng
năm là kế hoạch bộ phận của kế hoạch 5 năm, nhưng không có nghĩa kế hoạch
hàng năm là 1 bộ phận cấu thành về mặt số học của KH 5 năm.
Note: Lựa chọn thời gian 5 năm là do:
- 5 năm là một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện được các quyết định
phát triển TMDT có thể đổi mới công nghệ phát triển
- 5 năm là thời gian cần thiết để đổi mới những chủ trương chính sách của
nhà nước. Do vậy lựa chọn 5 năm là hợp lý
- Trong điều kiện phát triển khoa học công nghệ, 5 năm là thời gian trung
bình cần thiết để hoàng thành công trình xây dựng, CSVCKT để phát triển
đội ngũ hoặc cơ sở phát triển TMDT.
+ Chương trình, dự án phát triển TMDT
Chương trình: Được sử dụng rất phổ biến để xác định một cách đồng bộ
các mục tiêu cần đạt được, các bước công việc cần tiến hành, các nguồn lực cần
huy động để thực hiện một ý đồ nào đó.
Dự án phát triển TM: là tổng thể các hoạt động, các nguồn lực các chi phí
được bố trí chặt chẽ theo thời gian và không gian nhằm thực hiện những mục tiêu
phát triển TM cụ thể.
Chương trình và dự án phát triển TM khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ
với nhau trong công tác kế hoạch hóa TM. Dự án là phương thức thực hiện

8


9Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

chương trình. Mỗi chương trình có vài dự án trở lên. Thực hiện tốt các dự án sẽ
góp phần thực hiện chương trình phát triển Tm có hiệu quả.
CÂU 5: Công cụ luật pháp trong TMDT
 Luật pháp trong quản lý nhà nước về TMDT
• Khái niệm và sự cần thiết của luật pháp trong TMDT
- Luật pháp là khuôn khổ đúng đắn cho hoạt động TM trong đó có TMDT đảm
bảo cho các DN kinh doanh TMDT thông qua các công cụ luật pháp này DN có
thể tác động đến các chủ thể trong thị trường. Các công cụ luật pháp bao gồm các
quy phạm về luật pháp do nhà nước ban hành để quản lý các vấn đề phát sinh
trong vấn đề lưu thông và cung ứng hàng hóa trên mạng, phục vụ và đáp ứng được
mục tiêu kinh tế, xã hội của nhà nước
• Vai trò của luật pháp trong TMDT
- Xác định địa vị pháp lý của các chủ thể TMDT trên thị trường, giúp cho
DN TMDT biết được pháp lý trong hoạt động kinh doanh để bán được sản
phẩm, được luật pháp cho phép, cạnh tranh bình đẳng hơn.
- Nhà nước cần điều chỉnh hành vi kinh doanh, các quy phạm pháp luật và
giải quyết những tranh chấp TM dựa trên những quy định của luật pháp
hoặc những chính sách TM trong đó có TMDT
- Là công cụ quan trọng để điều phối các hoạt động TMDT trên thị trường do
vậy nhà nước cần có thông tư, văn bản quy định chặt chẽ hơn vấn dề
TMDT dựa trên những luật lệ, văn bản quy định về TMDT
• Nội dung của công cụ luật pháp
- Cơ chế tác động của công cụ luật pháp trong TMDT thể hiện ở 3 cơ chế:
Cơ chế dẫn dắt, cơ chế kích thích, cơ chế cưỡng chế.
- Định hướng mục tiêu đạt được dựa trên những văn bản TMDT dẫn đến mục
tiêu nhà nước đạt được
- NHờ công cụ luật pháp mà các DN cạnh tranh bình đẳng hơn và được pháp
luật thừa nhận
- Những quy định luôn luôn chỉnh sửa để các chính sách được tốt hơn. Luật
pháp cần phải minh bạch, rõ ràng, câu từ cần dễ hiểu, chính sách rõ nghĩa
• Các công cụ về chính sách kinh tế TM trong TMDT
* Khái niệm chính sách
Chính sách: là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó
của chính phủ bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm
để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn
diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường.

9


10Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

* Các chính sách trong TMDT
• Chính sách tài khóa
Trong nền KTTT chính sách tài khóa có vị trí đặc biệt quan trọng, nó là công
cụ ổn định trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng chính sách tài khóa bao gồm:
chính sách thuế,chi tiêu chính phủ, chính sách đó có thể ảnh hưởng đến tổng cầu
và tác động đến TM nói chung và TMDT nói riêng. Do vậy nhà nước cần phải sử
dụng chính sách tài khóa này để quản lý Nhà nước, quản lý TM trong đó có
TMDT
• Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ: Ngân hàng là “linh hồn của nền kinh tế thị trường” được
Nhà nước sử dụng để điều tiết tiền tệ trong lưu thông xác lập môi trường tài chính
lành mạnh, phù hợp với yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế kinh tế và là công cụ để
thực hiện chiến lược tài chính, tiền tệ quốc gia. Vai trò đó được thực hiện thông
qua việc tổ chức hoạt động ngân hàng 2 cấp trong nền kinh tế thị trường, đó là
Ngân hang nhà nước và Ngân hàng thương mại.
Ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh
doanh tiền tệ, cung ứng và điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền.
Các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, thực hiện
các dịch vụ tài chính, ngân hàng. Công cụ cơ bản để sử dụng trong hệ thống ngân
hàng là hệ thống luật, văn bản dưới luật, lãi suất, chiếc khấu, hệ thống thị trường
tài chính, tiền tệ.
Hoạt động của hệ thống ngân hàng giữ được vai trò là trung tâm tín dụng,
trung tâm tiền tệ, trung tâm thanh toán và từ đó có thể khống chế, kiểm soát, điều
chỉnh hoạt động của nền kinh tế quốc dân. Do đó, trong điều kiện kinh tế thị
trường, Ngân hàng giữ vai trò công cụ vĩ mô của Nhà nước.
Chính sách tiền tệ có tác động lớn đến các hoạt động thương mại nói chung
trong đó có TMDT, có tác động khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư, phụ thuộc và
lãi suất. Do vậy chính sách tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt
động của thị trường làm tăng hoặc giảm sản lượng, khuyến khích hoặc hạn chế
đầu tư.
Có thể dễ dàng nhận thấy cung tiền và cầu tiền ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất
ngân hàng. Để phát triển kinh tế nhà nước đang cố gắng dùng mọi biện pháp để
giảm lãi suất, khuyến khích đầu tư, phát triển. Tuy nhiên trước tình trạng nền kinh
tế còn gặp nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi nhà nước cần đưa ra những chính
sách phù hợp để duy trì, ổn định và phát triển kinh tế như tái cấu trúc hệ thống
ngân hàng, giảm thiểu nhân lực dư thừa trong hệ thống, tinh giảm nguồn lực sao

10


11Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

cho đạt hiệu quả nhất…đồng thời cũng đưa ra nhiều chính sách để giảm thiểu nợ
xấu, tăng nguồn vốn đầu tư,…
• Chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá cũng ảnh hưởng đến quan hệ TM đặc biệt là hoạt động xuất
nhập khẩu. Trước tình trạng nền kinh tế đang gặp khó khăn hiện nay, đồng tiền
ngày càng trở nên mất giá…tuy nhiên tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam mấy năm
trở lại đây vẫn tương đối ổn định. Do vậy nhà nước cũng cần có chính sách, biện
pháp cụ thể để quản lý có hiệu quả nhằm thúc đẩy hoạt động xuất, nhập khẩu, phát
triển nền kinh tế.
• Chính sách giá cả
Chính sách giá cả (bao gồm giá cả hàng hóa và giá cả đồng tiền): Trong kinh
tế thị trường, là cơ sở để bố trí tài nguyên và kinh doanh sản xuất nó nẩy sinh
thông qua thị trường và phản ảnh nhanh nhạy cung – cầu của nền kinh tế. Sự giao
động kinh tế của nền kinh tế quốc dân, trước tiên biểu hiện ở sự giao động về giá
cả, cho nên quản lý giá cả bằng chính sách giá chính là một trong những nội dung
chủ yếu về sự can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường như: điều tiết
quan hệ cung – cầu, điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, các
ngành kinh tế, điều tiết quan hệ cạnh tranh, môi trường kinh tế để chống đột biến
xấu từ lạm phát, bảo hộ các hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Giá cả là một phạm trù gắn liền với sự phát triển TM
- Giá cả là bàn tay vô hình điều tiết kinh tế - xã hội do vậy trong nền KTTT
Nhà nước cần thông qua cơ chế giá cả để được thực hiện vai trò điều tiết vĩ
mô, điều hành các hoạt động TM.
- Can thiệp gián tiếp bằng biện pháp điều tiết vĩ mô như điều hòa quan hệ
cung cầu hàng hóa, dịch vụ.
- Nhà nước cần quản lý chính sách giá cả cho phù hợp đặc biệt với những
sản phẩm độc quyền như điện, xăng, nước bằng cách đưa ra các mức giá
trần, giá sàn, và niêm yết giá,..Giá cả là một trong những yếu tố có tác động
đến tổng cầu. Do vậy nếu nhà nước quản lý không tốt giá thì người tiêu
dùng luôn là người phải chịu thiệt thòi trong các hoạt động KT.
- Cụ thể:
+ Nhà nước trực tiếp đối với một số ít sản phẩm cơ bản có tính chất chiến lược
phục vụ cho xã hội như: Than, dầu mỏ, điện, hàng không, bưu điện… Tuy nhiên,
từng bước thu hẹp tỷ trọng Nhà nước định giá và mở rộng tỷ trọng giá Nhà nước
chỉ đạo và giá thị trường điều tiết.

11


12Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

+Nhà nước chỉ đạo mức giá, quản lý gián tiếp là hình thức quản lý giá thông
qua việc xác định khung mức giá trong giá cả hàng hóa. Hình thức này, đòi hỏi
phải điều chỉnh thường xuyên giá cả để làm cho nó tiếp cận với giá thị trường.
+Khống chế từng mức giá cả có mục đích, đảm bảo sự ổn định cơ bản tổng
mức giá cả & biện pháp khống chế từng mức giá cả là hệ thống các biện pháp như:
biện pháp hành chính, biện pháp tài chính, biện pháp tiền tệ, biện pháp khống chế
lương & hối suất…
• Chính sách độc quyền và quyết định cạnh tranh
- Độc quyền nhằm đẩy giá lên cao, thu được nhiều lợi nhuận hơn gây nhũng
loạn thị trường do vậy nhà nước cần khuyến khích cạnh tranh
- Tạo ra môi trường cạnh tranh hơn trên thị trường, Nhà nước có thể sử dụng
luật chống độc quyền, ngăn cản sự sát nhập có nguy cơ làm giảm cạnh
tranh, chia tách thành những công ty khổng lồ hoặc ngăn cấm các công ty
thông đồng với nhau nhằm thống lĩnh thị trường, tạo ra các dãy, nhóm tác
động xấu đến thị trường.
- Quy định các hành vi của các tổ chức độc quyền, giải pháp này rất phổ biến
trong độc quyền tư nhân mà một doanh nghiệp duy nhất có thể cung ứng
hàng hóa, dịch vụ cho toàn bộ thị trường
 Nhà nước cần phải quản lý giá để bảo vệ quyền lợi hợp lý cho người tiêu
dùng.
CÂU 6: Trình bày khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước trong TMDT
• Khái niệm quản lý nhà nước trong TMDT
- Khái niệm quản lý nhà nước: Là một quá trình trong đó chủ thể quản lý tổ
chức điều hành tác động có định hướng, có chủ đích, khoa học vào các
khách thể nhằm đạt được các mục tiêu tối ưu (tăng trưởng về kinh tế…) và
sử dụng các công cụ quản lý sao cho thích hợp nhất.
- Khái niệm quản lý nhà nước về TMDT: Là một biện pháp quản lý nhà nước
về thương mại có định hướng, mục đích dựa vào sự phát triển hệ thống
thông tin, cơ sở về luật TMDT nhằm đạt được mục tiêu. Nhà nước sử dụng
quyền hành của mình trong việc điều hành và quản lý TMDT thông qua ban
hành và sử dụng các công cụ như: pháp luật hoặc các chính sách về quản lý
và công cụ kế hoạch hóa về quản lý tác động lên các chủ thể người mua và
người bán phát triển thị trường.
• Đặc điểm quản lý nhà nước trong TMDT

12


13Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

-

Mọi loại hình quản lý đều có 2 hệ thống: Chủ thể (cơ quan quản lý) và
khách thể (đối tượng bị quản lý – các doanh nghiệp). Do vậy con người là
trung tâm của quản lý =>Quản lý Nhà nước chính là quản lý con người
- Tính đặc thù của quản lý Nhà nước: Thể hiện ở mục tiêu, các công cụ,
phương tiện sử dụng để đạt được mục tiêu:
Mục tiêu về quản lý Nhà nước tronng TMDt gắn liền với quá trình phát triển
kinh tế - xã hội tăng trưởng kinh tế như: tăng trưởng GDp, GNP, tạo cạnh tranh
bình đẳng, TMDT phát triển bền vững, giảm gian lận trong TM,…
Để đạt được mục tiêu này quản lý Nhà nước về TMDT cần phải có quy trình,
tổ chức (nguồn nhân lực) phải sử dụng các công cụ (chủ yếu là luật pháp), các
phương tiện để điều tiết các hoạt động TM đặc biệt là TMDT.
- Điều tiết các hoạt động TMDT theo đúng mục tiêu (phấn đấu 2012 trở
thành nước công nghiệp),.. phù hợp với lợi ích, mong muốn từng thời kỳ
- Quản lý nhà nước về TMDT bao gồm quản lý các chủ thể là thương nhân,
các Nsx, quản lý NTD. Thương nhân là người kích thích sản xuất, kích
thích tiêu dùng, đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng thông qua các giao
dịch TMDT. Do vậy quản lý thương nhân để tạo ra thị trường cạnh tranh
bình đẳng hơn, giảm bớt các gian lận thương mại, bình ổn thị trường,…xây
dựng một môi trường TM ổn định, phát triển bền vững.
- Ngoài ra cần nâng cao CSVC, CSHT đặc biệt là hệ thống CNTT đối với
các hoạt động TMDT.
Tóm lại: Quản lý Nhà nước về TMDT bao gồm việc kiểm tra, chấp hành chính
sách, luật pháp và các định chế có liên quan đến TMDT. TMDT liên quan dến
nhiều cấp, nhiều ngành cần có sự quản lý, phối hợp chặt chẽ hơn, đồng bộ và minh
bạch hơn…
CÂU 7: Các nguyên tắc quản lý nhà nước trong TMDT
Gồm 4 nguyên tắc
• Tập trung dân chủ
- Tập trung và dân chủ là 2 mặt của một thể thống nhất tập trung vào cơ quan
cấp trên đối với những quyết định quan trọng để giúp TMDT phát triển.
- Tập trung sự quản lý trong tay nhà nước và mở rộng quyền kinh doanh,
tham gia vào các quyết định quản lý của người dân, NTD, các doanh nhân
tức là tất cả dân chủ cho mọi chủ thể tham gia vào hoạt động sản xuất kinh
doanh.

13


14Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

-

Tuy nhiên tập trung quá sẽ dẫn tới quan liêu và cơ chế xin cho. Đồng thời
dân chủ cũng không được dân chủ quá trớn phải trong khuôn khổ pháp luật
cho phép.
- Các hoạt động TMDT diễn ra ở phạm vi cả nước ở từng địa phương chính
vì vậy cần có sự lãnh đạo chỉ huy thống nhất, hướng dẫn chính sách, pháp
luật để cho DN hiểu biết được lợi ích của TMDT. Họ hiểu biết được những
điều cấm và điều không được làm khi kinh doanh TMDT và kinh doanh
TM.
• Kết hợp sự quản lý về TMDT
- Trong quản lý TMDT phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ban ngành: Bộ
tài chính định hướng phát triển TM ở quy mô, cơ cấu. Bộ văn hóa thông tin
quản lý thông tin truyền thông,…tất cả các ban ngành cần có sự kết hợp
chặt chẽ với nhau..
• Phải có sự kết hợp hợp lý sự phát triển TMDT trong quá trình hội nhập KT
- Phát triển TMDT là sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. nghĩa là
phải có sự tăng lên về số lượng và quy mô các DN hoạt động trong lĩnh vực
TMDT và chất lượng sản phẩm, dịch vụ tốt hơn, giá rẻ hơn,…Để được như
vậy nhà nước cần phải có chính sách bảo hộ, chính sách phát triển như cho
DN vay vốn, giảm thuế,..đồng thời Nhà nước cần tạo sự tự do, bình đẳng và
tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho mọi DN.
- Nhà nước hỗ trợ, thúc đẩy TMDT phát triển, tạo ra môi trường cạnh tranh
lành mạnh hơn để cho TMDT phát triển và bảo vệ lợi ích của NTD khi họ
tham gia vào TMDT.
• Đảm bảo tính hiệu quả về hiệu lục của Nhà nước về TMDT
- Tính hiệu lực của nhà nước về TMDT là việc tạo ra quyết định quản lý nhà
nước về TMDT có được các cấp, ban ngành thực thi hay không.
- Các quyết định quản lý nhà nước về TMDT do nhà nước ban hành phải
mang tính hiệu lực rất rõ (không thực thi hoặc thực thi chậm nghĩa là tính
hiệu lực kém)
- Tính hiệu quả của quản lý được thể hiện ở mức độ thành công của kết quả
mang lại so với chi phí nguồn lực bỏ ra. Do vậy chính sách cần cụ thể, hợp
lý hóa, tạo ra sự đồng thuận, hưởng ứng chung của người dân.
- Tính hiệu quả của QLNN về TMDT phụ thuộc vào mức độ chuẩn xác của
việc tạo ra quyết định và hiệu suất triển khai các quyết định đó. Nếu quyết
định đúng tạo ra hiệu suất cao, hiệu quả công việc tốt. Ngược lại sẽ gây tổn
thất nghiêm trọng nếu như chính sách và triển khai kém hiệu quả. Do vậy

14


15Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

để quản lý có tính hiệu lực, hiệu quả cao cần chú trọng về chất lượng của
các quyết định, chính sách.
- Các quyết định, quản lý phải đảm bảo mục tiêu hài hòa, đảm bảo lợi ích và
tính ưu tiên để những chính sách, công cụ đó đạt hiệu lực cao hơn
CÂU 8: Trình bày các công cụ, chính sách QLNN về TMDT ( Câu 4,5 )
Gồm 2 công cụ: Công cụ luật pháp và công cụ kế hoạch hóa
Gồm 5 chính sách: Chính sách tài khóa, cs tiền tệ, cs tỷ giá hối đoái, cs giá cả, cs
độc quyền và quyết định cạnh tranh
CÂU 9: Một số bài học kinh nghiệm của một số quốc gia TMDT như Hoa Kỳ,
Trung Quốc
• Hoa kỳ (Mỹ)
Nước Mỹ là nước có nền tảng kỹ thuật tiên tiến, trên TG đang nắm quyền khống
chế ba nhánh của hạ tầng công nghệ TMDT: máy tính, truyền thông và bảo mật.
Ngành công nghệ thông ttin đang đóng vai trò đầu tàu thúc đẩy kinh tế Mỹ phát
triển, đồng thời hiện nay Mỹ cũng chiếm gần 50% doanh thu TMDT toàn cầu (chủ
yếu được tạo ra trong nội bộ nước Mỹ). Công ty Land’End, một công ty bán lẻ sản
phẩm nhiều nhất tại Mỹ đạt 21% của 1,6 tỷ USD doanh thu trong năm 2002 từ
việc kinh doanh theo phương thức điện tử.
Trong bối cảnh đó, TMDT có ý nghĩa sống còn với nước Mỹ, là quốc gia khởi
xướng TMDT Mỹ đã chủ động đưa ra một hệ thống các nguyên tắc cơ bản của
TMDT và ra sức cổ vũ cho việc thúc đẩy TMDT trên bình diện toàn cầu.
Năm 1997 Chính phủ Mỹ đã công bố bản “Khuôn khổ cho TMDT toàn cầu” trong
đó nêu ra 5 nguyên tắc cơ bản phản ánh quan điểm của chính phủ về TMDT
(thường được gọi là thách thức của Mỹ), mà tư tưởng chủ đạo là : tự do tuyệt đối
(kể cả phi thuế); chính phủ không can thiệp vào cải tạo điều kiện TMDT, đề cao
vai trò tiên phong, chủ động của khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển TMDT ở
Mỹ.
Song song với 5 nguyên tắc chỉ đạo, chính phủ Mỹ cũng khuyến nghị với thế giới
3 nguyên tắc:
- TMDT trên internet cần phải được tự do, phi quan thuế
- Thế giới cần có một luật chung để điều tiết hình thức TM này, luật ấy phải
đơn giản, nhất quán và mang tính có thể tiên liệu được
- Sở hữu trí tuệ và bí mật riêng tư phải tôn trọng và bảo vệ trong khi tiến
hành TMDT
Trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc và APEC, Mỹ hoạt
động rất tích cực để thúc đẩy, tuyên truyền TMDT vì chính việc áp dụng rộng rãi

15


16Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

hình thức TM này sẽ đem lại ích lợi đa dạng thiết thân, và mang tính chiến lược
cho Mỹ. Hiện nay Mỹ tiếp tục các nỗ lực đặt TMDT dưới sự điều tiết của WTO.
Trong quan hệ TM song phương, Mỹ đã thành công trong việc ký kết các Hiệp
định TM tự do Mỹ - Jordani, Mỹ - Singapore, trong đó bao gồm những điều khoản
quy định rõ ràng về việc duy trì một môi trường tự do, phi thuế quan cho các giao
dịch TMDT. Một hiếp định tương tự cũng đang được thực hiện giữa Mỹ và Chile.
Ngoài ra hiện nay ở Mỹ có hơn 100 công ty có mã số phần mềm ở Ấn Độ, nơi mà
công việc được hoàn thành và chuyển một cách nhanh chóng bằng điện tử nhờ các
nhà lập trình có tay nghề cao với một chi phí lao động thấp hơn ở Mỹ. NGười ta
ước tính có hơn 4 triệu người trong lực lượng lao động ở Mỹ đang sống ở các
nước khác và làm việc cho các công ty Mỹ thông qua hệ thống điện tử với mức
lương thấp hơn thị trường truyền thống. Nhờ vậy mà các nước phát triển như Mỹ
có thể ngăn chặn được phần nào nạn “chảy máu chất xám”.
• Trung Quốc
Ông Sun Yan cho biết, từ năm 2004 Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhận
định “Thúc đẩy mạnh mẽ việc mở rộng thị trường trong và ngoài nước, tăng tốc
thị trường hóa giá cả, phát triển TMĐT để tăng tốc phát triển kinh tế trong phạm
vi toàn quốc”.Nhờ đó, ngành TMĐT của Trung Quốc đã đạt được những thành
công nhất định.
Theo số liệu của một cuộc nghiên cứu mới đây, doanh thu từ thương mại
điện tử trong năm 2005 của Trung Quốc đạt kỉ lục 553,1 tỉ Nhân Dân Tệ (NDT)
(68,72 tỉ USD), tăng 58% so với năm 2004. Đà tăng này sẽ còn tiếp tục trong năm
2006.
Theo kết quả cuộc nghiên cứu của Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Tiển
Internet Trung Quốc (CIDRC) thuộc Học Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc, thị
trường C2C đã trở thành điểm nhấn của sự phát triển, với doanh thu 13,5 tỉ NDT
(1,68 tỉ USD), gấp 3 lần năm 2004. Năm 2005, trang web đấu giá nội địa
Taobao.com có 70% người dùng của thị trường C2C Trung Quốc, kiểm soát số
giao dịch trị giá 9,7 tỉ NDT (1,2 tỉ USD), đánh bại chi nhánh dịch vụ đấu giá eBay
của Mỹ tại Trung Quốc, trở thành website C2C số 1 quốc gia này nhờ đưa ra các
dịch vụ miễn phí.
Sự phát triển của các hình thức thanh toán trực tuyến như Paypal và Alipay
đã khiến 70% người mua hàng trực tuyến thích giao dịch trực tuyến hơn là trả tiền
mặt. Tuy nhiên, 43% người được hỏi vẫn còn băn khoăn về chất lượng hàng hóa
trực tuyến và các dịch vụ hậu mãi.

16


17Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

Theo “Báo cáo thống kê tình hình phát triển mạng internet Trung Quốc lần thứ
27” của Trung tâm thông tin mạng internet Trung Quốc (CNNIC), tính đến cuối
tháng 12/2010 nước này có đến 457 triệu cư dân mạng, tăng thêm 73,3 triệu người
so với cuối năm 2009. Cư dân online bằng điện thoại di động là 303 triệu. Tỷ lệ
phổ cập internet lên 34,3%, tăng 5,4% so với năm 2009. Tỷ lệ phổ cập sử dụng
băng tần rộng cố định đã có 98,3% hộ dùng. Tỷ lệ truy cập internet ở DN vừa và
nhỏ đạt gần 92,7% và DN có quy mô tương đối lớn gần bằng 100%, trong đó 43%
DN Trung Quốc có website riêng hoặc có gian hàng trên các website/diễn đàn
TMĐT.
Tính đến thời điểm hiện nay, Trung Quốc có tới 57,2% DN sử dụng internet để
giao tiếp với khách hàng, cung cấp các dịch vụ tư vấn cho khách hàng. Trình độ
ứng dụng TMĐT hoặc marketing online của DN vừa và nhỏ đạt 42,1%, trong đó
áp dụng email là phương thức Marketing online phổ biến nhất với tỉ lệ 21,3%.
Hàng loạt các hoạt động kinh tế của Trung Quốc đều đang tăng tốc bước vào thời
đại internet.
Đối với các DN xuất nhập khẩu, ông Sun Yan cho biết các DN này đều xem phát
triển TMĐT là tất yếu. Do vậy, TMĐT trong lĩnh vực xuất nhập khẩu Trung Quốc
đang trên đà phát triển tích cực. Hiện tại, có 4,5% DN xuất khẩu đã triển khai rộng
khắp TMĐT; 31,2% DN ở bước khởi đầu; 28,7% DN đang bắt tay triển khai; 12%
DN đã xem xét việc ứng dụng TMĐT; 23,6% DN vẫn chưa xem xét đến.
Theo ông Sun Yan, ứng dụng của TMĐT trong lĩnh vực xuất nhập khẩu luôn luôn
dẫn đầu các lĩnh vực khác, các DN xuất khẩu đã đi đầu trong các tiêu chuẩn quốc
tế, xuất hiện nhiều DN lớn đầu tư vào website xuất nhập khẩu như: web TMĐT
Quốc tế Trung Quốc (asiansource.cn; cantonfairtrading.org.cn; alibaba.com...).
CÂU 10: Sự phát triển của TMDT trên TG và những vấn đề đặt ra trong
QLNN về TMDT ở Việt Nam
Nền tảng cũng như hạ tầng cơ sở mang tính chất tiên quyết của TMĐT quốc tế
là Internet và các phương tiện truyền thông hiện đại (vệ tinh viễn thông, cáp, vô
tuyến, các khí cụ điện tử...) đang phát triển rất nhanh chóng cả về phạm vi bao
phủ, phạm vi ứng dụng lẫn chất lượng vận hành. Nếu như điện thoại cần hơn 70
năm để đạt mức 50 triệu người sử dụng thì Internet chỉ cần khoảng 3 năm. Internet
đã đi qua 2 giai đoạn và đang bước vào giai đoạn phát triển thứ 3. Theo ước tính
của các chuyên gia công nghệ thông tin trên thế giới, cứ 12 tháng, lượng thông tin
qua Internet lại tăng lên gấp ba (định luật Gilder).

17


18Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

Đây là điều kiện lý tưởng cho TMĐT bùng nổ.
Số website cũng như số người sử dụng Internet cũng không ngừng tăng lên. Nếu
như năm 1996 mới có khoảng 12.9 triệu website với số người sử dụng là 67.5 triệu
người thì đến cuối năm 2002 con số đó lần lượt là 2.5 tỷ và trên 600 triệu.
Năm 2001, số người sử dụng Internet ở các nước đang phát triển chiếm 1/3 toàn
thế giới. Trong đó khu vực Châu Á TBD có mức phát triển nhanh nhất, tăng thêm
21 triệu người. Trung Quốc trở thành quốc gia có số người sử dụng Internet nhiều
thứ 2 trên thế giới (sau Mỹ) với con số 56 triệu người. Dự đoán năm 2005 sẽ có
hơn 1 tỷ người trên thế giới sử dụng Internet, 70% trong số đó làm những công
việc liên quan đến TMĐT.Với sự kết hợp hữu cơ 3 bộ phận công nghiệp: máy tính
( mạng, máy tính, thiết bị điện tử, phấn mềm và các dịch vụ khác), truyền thông
(điện thoại hữu tuyến, vô tuyến và vệ tinh) và nội dung thông tin (cơ sở dữ liệu,
các sản phẩm nghe nhìn, vui chơi, giải trí, xuất bản và cung cấp thông tin), TMĐT
đã được ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực có liên quan đến thương mại. Không
chỉ dừng ở đó, TMĐT đụng chạm tới mọi hoạt động giao tiếp xã hội, giải trí... và
đụng chạm đến hầu hết các lĩnh vực kinh doanh. Điều này thể hiện rất rõ ở Mỹ,
nơi TMĐT phát triển điển hình nhất.
Trong những năm gần đây, doanh thu từ TMĐT trên thế giới tăng với tốc độ
200%/năm. Theo thống kê của Gartner, Inc., TMĐT đạt mức doanh thu 433 tỷ
USD năm 2000 và dự đoán năm 2004 sẽ đạt mức 6000 tỷ USD.
Trong tổng khối lượng TMĐT toàn thế giới, thương mại B2B chiếm khoảng 50%,
dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác khoảng 45%, bán lẻ khoảng 5%. Tuy
nhiên, TMĐT chỉ được áp dụng tương đối rộng rãi ở các nước công nghiệp phát
triển(Mỹ hiện chiếm gần 50% tổng doanh số TMĐT toàn cầu). Theo biểu đồ 6,
các nước đang phát triển mặc dù chiếm 1/3 số người sử dụng Internet nhưng hoạt
động TMĐT ở các nước này là không đáng kể.
Mặc dù con số doanh thu của TMĐT những năm qua là khá ấn tượng, tỷ lệ của
TMĐT trong thương mại toàn thế giới vẫn ở mức khiêm tốn, con số đạt cao nhất là
3.78% tổng khối lượng giao dịch thương mại quốc tế
=> Liên hệ đến Việt Nam và các chính sách của NN trong việc phát triển
TMDT
*Quan điểm, định hướng phát triển thương mại điện tử trong giai đoạn tới:

18


19Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

Áp lực từ các cam kết hội nhập đã buộc chúng ta phải đẩy nhanh lộ trình xây
dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về thương mại điện tử trong
nước. Cho đến nay, về cơ bản, khung khổ pháp lý về các hoạt động thương mại
điện tử đã được hình thành. Chúng ta đã ban hành Luật Giao dịch điện tử 2005,
Luật Công nghệ thông tin 2007 cùng nhiều văn bản hướng dẫn dưới luật khác quy
định các vấn đề về thương mại điện tử như chữ ký số, quy định về hóa đơn điện
tử, sàn giao dịch thương mại điện tử…đã từng bước được hình thành.
Ngày 12/07/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1073/QĐ-TTg
“Phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011 2015”. Quyết định này là sự cụ thể hóa các cam kết mà Việt Nam đã ký kết trong
khuôn khổ hợp tác phát triển khu vực thương mại điện tử khối các nước ASEAN.
- Tất cả doanh nghiệp lớn tiến hành giao dịch thương mại điện tử loại hình doanh
nghiệp với doanh nghiệp, trong đó: 100% doanh nghiệp sử dụng thường xuyên thư
điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh; 80% doanh nghiệp có trang thông tin
điện tử; 70% doanh nghiệp tham gia; 5% doanh nghiệp tham gia các mạng kinh
doanh điện tử theo mô hình trao đổi chứng từ điện tử dựa trên chuẩn trao đổi dữ
liệu điện tử; 20% doanh nghiệp ứng dụng các phần mềm chuyên dụng trong hoạt
động quản lý sản xuất và kinh doanh; Hình thành một số sở giao dịch hàng hóa
trực tuyến đối với các sản phẩm xuất khẩu thế mạnh; Hình thành một số doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ thương mại điện tử lớn có uy tín trong nước và khu
vực;
- Tất cả doanh nghiệp nhỏ và vừa tiến hành giao dịch thương mại điện tử loại hình
doanh nghiệp với người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp với doanh nghiệp, trong
đó: cả nước ta sẽ có 100% sử dụng thư điện tử trong sản xuất kinh doanh; 45%
doanh nghiệp có trang thông tin điện tử; 30% doanh nghiệp tham gia các sàn giao
dịch thương mại điện tử;
- Bước đầu hình thành các tiện ích hỗ trợ người tiêu dùng tham gia thương mại
điện tử loại hình doanh nghiệp với người tiêu dùng;
- Phần lớn dịch vụ công liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh được cung
cấp trực tuyến.
*Giải pháp tăng cường phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam :
Việt Nam hiện đang có nhiều tiềm năng để phát triển thương mại điện tử bởi:
- Việt Nam là nước xuất khẩu nhiều mặt hàng, TMĐT giúp doanh nghiệp tìm kiếm
khách hàng trên toàn thế giới.
- Việt Nam có thể “xuất khẩu” dịch vụ, sản phẩm thông tin, sản phẩm tri thức
bằng cách bán qua mạng Internet.

19


20Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

- Du lịch Việt Nam cần tận dụng TMĐT để quảng bá, cho đặt dịch vụ qua mạng,
thanh toán qua mạng, hỗ trợ du khách qua mạng...
- Nhà nước chủ trương thúc đẩy TMĐT phát triển.
- CNTT, Internet ở Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục phát triển nhanh.
- Chính những khả năng, lợi ích TMĐT mang lại cho doanh nghiệp, nhà đầu tư...
là động cơ lớn thúc đẩy doanh nghiệp tham gia TMĐT.
- Nhân lực Việt Nam tiếp thu công nghệ mới nhanh, đặc biệt là CNTT về thương
mại điện tử Việt Nam.
Hiện nay, các hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam mới chỉ được tận dụng để
phục vụ cho việc marketing, bán hàng cho doanh nghiệp là chính. Một số website
sàn giao dịch B2B, siêu thị điện tử B2C, website C2C như rao vặt, đấu giá...,
website thông tin (tin tức là chủ yếu)... đã được xây dựng và phát triển. Thanh toán
qua mạng trong và ngoài nước dù đã có sự tăng trưởng song vẫn còn nhiều bất
tiện. Doanh số từ mô hình B2B mặc dù đã có, song vẫn chưa nhiều, trong khi
doanh số B2B chiếm xấp xỉ 80 – 90% tổng giá trị giao dịch thương mại điện tử
trên toàn cầu.
*Đẩy mạnh việc tham gia các cam kết hội nhập quốc tế về thương mại điện tử.
Trong giai đoạn tới, hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) vẫn tiếp tục là xu hướng
chủ đạo trong tiến trình hội nhập ở nước ta. Do vậy, việc tăng cường đẩy mạnh các
kênh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực thương mại điện tử là hết sức cần thiết. Căn
cứ theo định hướng về HNKTQT của Việt Nam trong giai đoạn tới, Việt Nam
chúng ta có xu hướng tham gia các hiệp định thương mại tự do với các đối tác
kinh tế lớn.
- Từng bước hoàn thiện khung khổ pháp luật trong nước về TMĐT;
- Tham gia tích cực vào các hoạt động xây dựng khung khổ pháp lý quốc tế về
TMĐT ( tại các diễn đàn APEC, ASEAN, WTO…);
- Nghiên cứu pháp luật các nước, kinh nghiệm các nước về xây dựng, quản lý thị
trường TMĐT;
- Xây dựng định hướng về đàm phán mở cửa, gia nhập thị trường TMĐT với các
đối tác, thông qua các kênh đàm phán song phương, khu vực.
*Xây dựng, củng cố phát triển thị trường thương mại điện tử trong nước.
Nhận thức một cách sâu sắc vai trò của TMĐT đối với sự phát triển của tiến trình
HNKTQT của Việt Nam trong giai đoạn tới, Thủ tướng Chính phủ đã đặc biệt chú
trọng tới việc xây dựng, củng cố, và phát triển thị trường thương mại điện tử Việt
Nam trong thời gian tới. Quyết định 1073/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã
chỉ ra 5 nhóm giải pháp cơ bản nhằm thực hiện mục tiêu nói trên, bao gồm:
- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thương mại điện tử;

20


21Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

- Phát triển nguồn nhân lực về thương mại điện tử;
- Cung cấp trực tuyến các dịch vụ công liên quan tới hoạt động sản xuất kinh
doanh;
- Phát triển và ứng dụng công nghệ, dịch vụ thương mại điện tử;
- Nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý nhà nước về thương mại điện tử./.
CÂU 11: Đặc điểm, vai trò, cơ chế của chính phủ điện tử
• Khái niệm:
Chính phủ Điện tử (e-Government) là tên gọi của một chính phủ mà mọi
hoạt động của nhà nước được "điện tử hóa", "mạng hóa". Tuy nhiên, chính phủ
điện tử không đơn thuần là máy tính, mạng Internet; mà là sự đổi mới toàn diện
các quan hệ (đặc biệt là quan hệ giữa chính quyền và công dân), các nguồn lực,
các quy trình, phương thức hoạt động và bản thân nội dung các hoạt động của
chính quyền trung ương và địa phương, và ngay cả các quan niệm về các hoạt
động đó.
Chính phủ Điện tử là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
để các cơ quan của Chính quyền từ trung ương và địa phương đổi mới, làm việc có
hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn; cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho
người dân, doanh nghiệp và các tổ chức; và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người
dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý Nhà nước.
• Đặc điểm
- Định hướng công dân và dễ dùng: Các dịch vụ trực tuyến 24/7 dễ hiểu, dễ
dùng, truy cập nhanh
- Có tinh thần trách nhiệm và định hướng kết quả: Người dân không chỉ
muốn dễ dùng vào mạng nhanh mà họ muốn có kết quả nhanh, trọn vẹn,
chính xác, một cửa.
- Nhiều khả năng truy cập: Có thể truy cập vào các mạng dịch vụ chính phủ
bằng nhiều cách, mọi nơi,mọi lúc.
- Tính cộng tác: Chính phủ điện tử phải được thiết kế xây dựng và triển khai
trên cơ sở phối hợp giữa chính phủ và cá nhân công dân
- Tính đổi mới: CP điện tử không chỉ thuần túy là ứng dụng CN mới, là
website và việc chuyển giao các dịch vụ trên đó mà còn phải tính đến việc
cải tiến quy trình công tác và tổ chức bộ máy.
- Chi phí hợp lý: Giảm được chi phí cho bộ máy chính phủ
- An toàn và tôn trọng riêng tư
• Cơ chế

21


22Quản Lý Nhà Nước TMĐT–Nguyễn Văn Huấn K45I5 ( Fix Nguyễn Thị Nguyệt )

-

Trước đây các cơ quan chính phủ cung cấp dịch vụ cho dân chúng tại trụ sở
của mình, thì nay, nhờ vào CNTT và viễn thông các trung tâm dịch vụ trực
tuyến được thiết lập hoặc là ngay trong cơ quan chính phủ hoặc gần với
dân.
- Qua cổng thông tin cho công dân, người dân nhận được thông tin, có thể
hỏi đáp pháp luật, được phục vụ giải quyết các việc trong cuộc sống hàng
ngày: công chứng, đăng ký lập doanh nghiệp, đăng ký nhân khẩu, sang tên
trước bạ…mà không phải đến trực tiếp trụ sở các cơ quan chính phủ như
trước đây.
• Lợi ích
- Tăng cường năng lực điều hành nhà nước của CP
- Mang lại thuận lợi cho dân chúng, Dn và các tổ chức
- Tăng cường sự minh bạch, giảm tham nhũng
- Giảm chi phí CP
- Làm tăng thu nhập quốc dân

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×