Tải bản đầy đủ

QUY HOẠCH môi TRƯỜNG LÀNG NGHỀ PHÚ đô giai đoạn 2016 2021

TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƢỜNG

ĐỒ ÁN MÔN HỌC QUY HOẠCH MÔI TRƢỜNG ÀNG NGHỀ PH ĐÔ
GIAI ĐOẠN

Nhóm thực hiện:

-2021

Đỗ Tùng Lâm
Đinh Thị Hòa
Dƣơng Mai Thanh
Nguyễn Thị Thu Trang 584
Tạ Ngọc Nam
Nguyễn Trung Đức

Lớp ĐH3QM3
Giảng viên hƣớng dẫn: Ts.Phạm Thị Mai Thảo



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
CHƢƠNG I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ XÃ HỘI ..................................... 2
I.

II.

III.

Điều kiện tự nhiên: ........................................................................................ 2
1.

Vị trí địa lý: ............................................................................................ 2

2.

Địa hình:................................................................................................. 2

3.

Khí hậu: .................................................................................................. 2

4.

Thủy văn: ............................................................................................... 3

5.

Thổ nhưỡng: ........................................................................................... 3

Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội: ........................................................... 3
1.

Dân số và mức sống: .............................................................................. 3

2.

Văn hóa xã hội: ...................................................................................... 3

3.


Hiện trạng phát triển kinh tế: ................................................................. 4

Những thuận lợi và hạn chế trong quá trình phát triển: ........................... 4
1.

Thuận lợi: ............................................................................................... 4

2.

Khó khăn ................................................................................................ 5

CHƢƠNG Đ NH GI HIỆN TRẠNG VÀ DỰ
O DI N IẾN TÀI
NGUYÊN MÔI TRƢỜNG ......................................................................................... 10
I.

Liệt kê các vấn đề môi trƣờng .................................................................... 10

II.

Các vấn đề môi trƣờng cấp bách: .............................................................. 18
1.

Ô nhiễm môi trường nước:................................................................... 18

2.

Hạ tầng kỹ thuật: .................................................................................. 18

3.

Hiện trạng quản lý môi trường làng nghề ............................................ 19

CHƢƠNG 3 ĐỀ XUẤT QUY HOẠCH, GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
2016-2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 3 .................................................................. 20
A.

Mục tiêu chung: ........................................................................................... 20

B. Các giải pháp cho vấn đề môi trƣờng cấp bách .................................................... 20
3.1. Nâng cao hạ tầng kỹ thuật: ..................................................................... 20
3.2. Ô nhiễm môi trường nước:................................................................... 24
3.3.

Công tác quản lý ......................................................................................... 26

CHƢƠNG TR CH NHIỆM VÀ PH N CÔNG THỰC HIỆN QUY HOẠCH
MÔI TRƢỜNG ............................................................................................................ 29


CHƢƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................. 30
I.

KẾT UẬN ................................................................................................. 30

II.

KIẾN NGHỊ ................................................................................................ 30

TÀI IỆU THAM KHẢO........................................................................................... 30


MỞ ĐẦU
Ngày nay, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang có những bước phát triển
mạnh mẽ, cùng với sự phát triển các ngành công nghiệp nặng, vừa và nhẹ thì các làng
nghề nông thôn cũng đóng góp một vai trò quan trọng. Vượt lên trên những nhu cầu
nông nghiệp, các làng nghề điển hình ở đồng bằng sông Hồng đã sản xuất ra nhiều mặt
hàng với chất lượng cao hơn, không chỉ có giá trị trong nước mà còn có thể sánh ngang
với các mặt hàng thủ công trên thế giới.
Phần lớn các làng nghề chưa có quy hoạch hợp lý, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán,
đan xen với khu dân cư, công nghệ lạc hậu và thiếu ổn định, đã và đang gây ra những
vấn đề môi trường trầm trọng, gây ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí và
môi trường đất cũng như tác động trực tiếp tới sức khỏe của dân cư tại làng nghề
Là một trong những làng nghề truyền thống vốn có từ lâu đời của thành phố Hà
Nội, làng nghề sản xuất bún Phú Đô cũng đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng. Từ trước tới nay, nước thải của làng nghề này vẫn được xả trực
tiếp xuống mương chung của làng mà không qua bất kì một hệ thống xử lý nào. Vì vậy
nước thải của làng nghề bún Phú Đô luôn trong tình trạng bị ô nhiễm hữu cơ nặng nề
với nồng độ ni tơ, phốt pho và hàm lượng BOD5, COD trong nước thải rất lớn. Với đặc
thù sản xuất, chất thải chứa nhiều chất hữu cơ, lại không được dọn dẹp thường xuyên
khu sản xuất và hệ thống tiêu thoát nước nên mùi trong không khí ở đây rất khó chịu,
mùi chua của gạo ngâm lâu đã bị lên men. Cơ sở hạ tầng ở đây cũng đã cũ, không theo
kịp được với tốc độ phát triển của làng nghề Phú Đô.
Vì vậy rất cần thiết ciệc quy hoạch một cách tổng thể để giảm thiểu các tác động
xấu tới môi trường mà làng nghề bún Phú Đô mang lại. Đó là lí do mà nhóm chúng tôi
thực hiện đề tài: “Quy hoạch môi trường làng nghề bún Phú Đô giai đoạn 20162021”

1


CHƢƠNG I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ XÃ HỘI
I.

Điều kiện tự nhiên:

1. Vị trí địa lý

Làng bún Phú Đô thuộc phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, ở cách trung tâm
thành phố Hà Nội khoảng 10km về phía Tây Nam.
Vị trí ranh giới cụ thể:
 Phía Bắc giáp phường Mỹ Đình
 Phía Nam giáp đường cao tốc Đại Lộ Thăng Long
 Phía Đông giáp làng Mễ Trì Thượng
 Phía Tây giáp sông Nhuệ
2. Địa hình:
Phú Đô nằm trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng với địa hình tương đối
bằng phẳng, bao quanh là sông Nhuệ. Tại đây không bị hạn hán khi nắng kéo dài và
không bị úng lụt lâu ngày khi có mưa lớn, thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở cho
sản xuất và cư trú
3. Khí hậu
Làng Phú Đô quanh nǎm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có
nhiệt độ cao. Lượng bức xạ tổng cộng trung bình hàng nǎm ở Hà Nội là 122,8
kcal/cm² với 1641 giờ nắng và nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 23,6ºC, cao
nhất là tháng 6 (29,8ºC), thấp nhất là tháng 1 (17,2ºC). Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa
khá lớn
Độ ẩm trung bình cả năm đạt 60%, tháng cao nhất có thể lên tới 90%, tháng thấp
nhất là 45%. Lượng mưa trung bình năm là 1800 – 1900 mm/ năm, tập trung vào các
2


tháng 6,7,8. Điều kiện khí hậu ở đây khá thuận lợi cho việc sản xuất chế biến nông sản
và phát triển nghề trồng lúa, cây rau màu cũng sấy sản phẩm.
4. Thủy văn:
Bao quanh phía Bắc của làng Phú Đô có một con mương tiêu nước vàphía Tây
giáp với sông Nhuệ nên rất thuận lợi cho việc tưới tiêu nông nghiệp và điều hòa khí
hậu địa phương. Hệ thống ao hồ trước đây làm nhiệm vụ cung cấp nước sinh hoạt và
sản xuất cho cả khu vực. Hệ thống kênh mương là nơi dẫn dòng chất thải ra sông Nhuệ.
Tuy nhiên hệ thống tiêu nước thải cũng như hệ thống thoát nước chống úng hiện tại
không đáp ứng được tốc độ phát triển nên thường xảy ra hiện tượng ngập úng
5. Thổ nhƣỡng:
Tại Phú Đô, đất đai được hình thành từ phù sa của sông Hồng và sông Nhuệ nên
chủ yếu là đất phù sa thích hợp cho canh tác nông nghiệp như trồng lúa và các loại hoa
màu
Tổng diện tích đất tự nhiên của làng nghề là 258,6 ha, trong đó: Đất nông nghiệp:
164,6 ha, chiếm 63.6% diện tích đất tự nhiên
Đất ở: 94, chiếm 36,4% diện tích đất tự nhiên
II. Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội
1. Dân số và mức sống
Phường Phú Đô có diện tích 239 ha, dân số năm 2013 là 13.856 người với mật độ
5797 người/km2. Phường Phú Đô được thành lập ngày 1 tháng 04 năm 2014 trên cơ sở
chia xã Mễ Trì cũ thành 2 phường: Mễ Trì và Phú Đô. Trung bình mỗi hộ có 4,5 người
trong đó số hộ làm bún chiếm 50% còn lại 10% số hộ sản xuất phục vụ làng nghề như:
sản xuất công cụ làm bún (cơ khí), xay xát gạo, 20% số hộ làm dịch vụ thương mại cho
nhân dân trong phường và các nơi khác đến, 20% còn lại làm các nghề khác
2. Văn hóa xã hội
a. Giáo dục:
Trong phường có 2 trường tiểu học và 2 trường trung học cơ sở với chất lượng đào
tạo tốt cho các con em tại địa phương
Trình độ văn hóa của người dân trong làng không cao. Trong số lao động chuyên
nghiệp làm bún ở làng Phú Đô hiện nay chỉ có khoảng 50% tốt nghiệp trung học phổ
thông, còn lại chỉ đạt trình độ văn hóa trung học cơ sở
b. Y tế:
Phường Phú Đô đang xây dựng trạm y tế với cơ sở vật chất, hạ tầng y tế hiện đại
không chỉ đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân địa phương mà còn thể
hiện sự quan tâm sát sao của Quận ủy, HĐND, UBND quận Nam Từ Liêm đối với lĩnh
vực y tế. Kinh phí đầu tư là 14 tỉ đồng với tổng diện tích là 2.066m2, diện tích xây
dựng là 601m2, diện tích sàn xây dựng là 1.259m2.
Ngày 06/6/2016 dự án được chính thức bàn giao và đưa vào sử dụng đã được các
cơ quan chuyên môn đánh giá cao về chất lượng công trình. Trạm y tế phường Phú Đô
sẽ là mô hình điểm trong công tác khám, chữa bệnh trên địa bàn quận, hứa hẹn là điểm
đến tin cậy, mang lại chất lượng phục vụ tốt nhất cho toàn thể nhân dân địa phương
trong lĩnh vực y tế.

3


c. Văn hóa
Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy, HĐND- UBND Phường Phú Đô, ban chỉ
đạo nếp sống văn hóa, văn nghệ các đoàn thể đã đề ra phương hướng hoạt động và thực
hiện các mục tiêu để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
3. Hiện trạng phát triển kinh tế
Thành phần cơ cấu kinh tế của phường Phú Đô gồm :
 Sản xuất thủ công nghiệp
: 50,6%
 Kinh doanh, thương mại, dịch vụ : 33,7%
 Sản xuất nông nghiệp
: 15,7%
a. Nông nghiệp
Diện tích đất nông nghiệp là 146,4 ha, trong đó :
- Đất cấy lúa
: 98,7 ha
- Đất trồng màu
: 47,7 ha
Năng suất cả năm đạt 11,8 tấn/ha, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 30 triệu/ha
Cơ cấu nông nghiệp chiếm 15,7% và đang có xu thế giảm do thu hẹp diện tích đất canh
tác
b. Sản xuất công nghiệp – TTCN- Thương mại, Dịch vụ:
Mỗi cơ sở sản xuất có 5-7 lao động thường xuyên với mức thu nhập ổn định từ 4-5
triệu đồng
Với số lượng sản xuất là 80 tấn/ngày và giá bán là 10.000đ/kg thì tổng thu nhập
trong 1 ngày từ hoạt động sản xuất bún tại làng bún Phú Đô là 800.000.000đ (800 triệu
đồng/ngày)
Trong thời đại công nghiệp với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều phương tiện sản
xuất hiện đại, nghề làm bún ngày nay đã được cơ giới hóa với các máy xay bột, đánh
bột, góp phần nâng cao sản lượng sản xuất bún trong làng. Tại Phú Đô, cơ cấu kinh té
đang chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là
một hướng đi đúng đắn
III.

Những thuận lợi và hạn chế trong quá trình phát triển:
1. Thuận lợi:

Hầu hết các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, quy mô hộ gia đình, chủ yếu là làm thủ
công, ít sử dụng máy móc vốn đầu tư không đòi hỏi lớn nhưng giá trị làm ra không
nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh.

4


Cơ sở hạ tầng không đòi hỏi cao, hầu hết là làm tại nhà, sử dụng những đồ vật có
sẵn trong gia đình hoặc mua giá thành rẻ.
Nước và bã thải trong quá trình làm bún có thể sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, tăng
thêm thu nhập cho người dân
Giải quyết được công ăn việc làm cho người dân trong xã cùng các vùng xung
quanh đặc biệt là lao động không có chuyên môn, do không yêu cầu trình độ chuyên
môn hay học vấn cao, chủ yếu là cha truyền con nối, hướng dẫn truyền miệng.
Thay thế dần đất nông nghiệp với lợi nhuận nhỏ, phát triển làng ngề cùng dịch vụ và
du lịch, ngành du lịch hàng năm mang lại một khoản không nhỏ cho làng và rất được
yêu thích nhất là người nước ngoài với các hoạt động như đi thăm làng ngề, xem cách
làm bún, các xưởng sản xuất, và ăn các món ăn từ bún,...
Nguyên liệu dồi dào, sẵn có, có thể mua luôn tại địa phương hoặc các vùng lân cận.
2. Khó khăn
Do chủ yếu là sản xuất tự phát, không được đầu tư máy móc hoặc máy móc lạc hậu
không đồng bộ nên lượng nguyên liệu và nhiên liệu đầu vào thất thoát rất nhiều, tiền
mua nhiên liệu chiếm gần hết số tiền làm bún. Tính trung bình, mỗi hộ tại đây tiêu thụ
19-22kg than/ngày, thời gian sản xuất bún và dùng đun nấu khác mất 4,78 giờ, thời
gian bỏ lò than nguội tự nhiên cho đến khi tắt lò là gần 19 giờ. Đây là lượng nhiệt lãng
phí không tận dụng được.
Do chủ yếu hoạt động ở quy mô hộ gia đình với nếp nghĩ của người chủ tiểu nông
thường quan tâm tới lợi ích thu được mà ít quan tâm tới hệ quả của nghề gây ra, việc
bảo vệ MT không được chú trọng, không có hệ thống sử lí chất thải hiệu quả, nên vấn
đề ô nhiễm MT tại làng rất đáng báo động, MT ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp tới khả
năng sản xuất cũng như sức khỏe của người dân.
Đầu ra cũng là một vấn đề của làng ngề do là buôn bán nhỏ lẻ chủ yếu là đi dao cho
các hàng quán hoặc bán dạo, nên thu nhập phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường, phụ
thuộc vào điều kiện thời tiết ngày nắng ngày mưa, ngày bán được ngày không, bún lại
không thể để đến ngày hôm sau nên thu nhập không ổn định.
Do sản xuất chủ yếu là thủ công nên chất lượng bún không được ổn định, cùng với
đó là vệ sinh an toàn thực phẩm, công nhân thường làm việc bằng tay không, không có
găng tay hay bảo hộ lao động, chỗ làm thì chủ yếu là tại nhà nên thường ẩm mốc,
không đạt vệ sinh làm ảnh hưởng đến đầu ra.

5


Đặc điểm sản xuất của làng nghề ún Phú Đô
1. Quy trình sản xuất

Hình 1 Sơ đồ công nghệ chế biến bún


Thuyết minh quy trình:

Vo gạo là khâu đầu tiên của công đoạn làm bún, chọn gạo là bước đầu tiên và quan
trọng nhất, quyết định đến 90% chất lượng. Gạo làm bún phải là thứ gạo tẻ dẻo cơm
(gạo mùa), khô.

6


Gạo rửa sạch sẽ ngâm trong 24 giờ với nhiệt độ 40 - 45 độ để nở ra trước khi xay.
Trong thời gian ngâm, nước sẽ được thay 1-2 lần.
Gạo sau khi nở đủ sẽ được cho vào hệ thống máy xay.
Công đoạn tiếp theo là cho vào bể ngâm trong 48 giờ để lên men. Việc này sẽ giúp
tinh bột gạo lắng xuống để tiến hành giai đoạn ép.
Qúa trình tách nước thực chất là cho tinh bột gạo được bọc vào túi để ráo nước lấy
bột. Quá trình này còn được gọi là "bồng con". Mỗi túi bột chứa nước nặng 70-80 kg.
Sau khi nước ráo bớt, máy ép sẽ làm công việc ép hết nước ra và giữ lại bột tinh để sẵn
sàng cho quá trình tiếp theo.
Giai đoạn tiếp theo là quá trình hồ hóa. Để tạo được khối bột nhào có khả năng liên
kết tốt từ bột gạo, cần phải có sự tham gia của tinh bột. Quá trình đánh bột không cần
hồ tăng độ kết dính mà chỉ cần cho một hai mẻ bún thành phẩm vào máy đánh bột
cùng.
Sau khi hồ hóa, bột trở thành dạng sệt, được đổ vào máy nấu bún.Những sợi bún
trắng tinh được nấu ra sau đó chưa tới vài phút.
Cuối cùng là công đoạn làm lạnh. Bún sau khi nấu sẽ được nhúng qua nước làm lạnh
rồi đem bán ra thị trường.
2. Nguyên liệu và nguồn thải
Bảng 1: Nguyên liệu đầu vào, đầu ra để sản xuất được 1 tấn bún
Đầu vào
TT

1

2

Đầu ra

Các công
đoạn
Nguyên liệu

Lượng

- Gạo

450 kg

Đãi gạo

Ngâm

Lượng thải

Sản
phẩm

Lượng

Nước thải

Gạo
sạch

450 kg

3m3

- Nước

3 m3

- Gạo sạch

450 kg Gạo ướt 500 kg

7

0,95 m3

Chất
thải


gạo

3

- Nước

1 m3

- Gạo ướt

500 kg

Xay bột
- Nước, điện

4

Ủ chua

5

Tách
nước
chua

6

Nấu bột

-Bột
chua

3

3m

lắng

-Bột
(W=50%)

850 kg
3

7

- Nước sôi

0,25m

- Bột sơ chín

1100
kg

Làm chín - Than
- Nước sôi

- Bún chín
8

Rửa bún
- Nước

9

Rửa thiết
- Nước
bị, sàn

5,2 kg

Bột
lỏng

0

Bột có
850kg
W=50%

2,6 m3

Bột sơ 1100
chín
kg

0

0,5 m3
Bún
chín

1000
kg

Xỉ than
(mang
theo 11 kg
bột hòa tan)

0,5 m3

1000
kg

Bún
nguội

1,5 m3
1000kg

1,5 m3

(bột hòa tan)

1 m3

1 m3

Như vậy để chế biến được 1 tấn bún cần có 450 kg gạo, 10,25 m3 nước, 52 kg than
và điện năng, và sẽ thải ra môi trường 9,55 m3 nước thải, 11 kg xỉ than
3. Quy mô sản xuất:
8


Với quy mô sản xuất chủ yếu là quy mô hộ gia đình, làng bún Phú Đô hiện có 206
hộ làm nghề sản xuất bún trong đó có 50 hộ sản xuất bằng máy móc, trang thiết bị hiện
đại. Ngoài ra còn có hơn 200 hộ kinh doanh bún. Người làm cho biết, một xưởng làm
bún lớn ở Phú Đô mỗi ngày xuất ra thị trường từ 1 đến 2 tấn bún. Mỗi ngày các hộ
trong làng sản xuất ra thị trường khoảng 60 - 70 tấn bún, hàng năm là khoảng 5.000 tấn
bún (chiếm 50-60% thị trường Hà Nội).
4. Công nghệ sản xuất:
Trước năm 2000, trên địa bàn có tới hơn 400 hộ làm nghề sản xuất bún nhưng do sự
phát triển của cơ chế thị trường, nhiều hộ đã chuyển sang hình thức sản xuất khác.
Công nghệ làm bún của Phú Đô vẫn duy trì công nghệ cổ truyền, sử dụng nhiều đến
sức người như ở các khâu vo gạo, ngâm gạo, làm lạnh cho ra bún thành phẩm. Tuy
nhiên để thích ứng với xu thế phát triển của tình hình mới, bên cạnh những kinh
nghiệm và bí quyết làm bún gia truyền, hiện nay hầu như các hộ đã áp dụng máy móc,
khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Các hộ đã sử dụng thiết bị, máy móc không rỉ và cơ
giới hóa khâu xay bột, đánh bột, ép bún, các hộ đầu tư máy vo gạo, máy xay bột và sử
dụng những thiết bị, dụng cụ hiện đại như máy liên hoàn

9


CHƢƠNG Đ NH GI HIỆN TRẠNG VÀ DỰ
I. Liệt kê các vấn đề môi trƣờng

O DI N IẾN TÀI NGUYÊN MÔI TRƢỜNG

Vấn đề

Hiện trạng

Dự báo

Đánh giá

Dân số

Dân số tại phường Phú Đô là
13.856 người năm 2013

Dân số trong phường có xu
hướng không ổn định do
chủ yếu là dân nhập cư đến
thuê trọ

Kiểm soát dân số chưa thật sự
tốt

Nhu cầu sử dụng nước
ngày càng gia tăng do dân
số ngày càng tăng cũng như
quy mô sản xuất ngày càng
được mở rộng

Kiểm soát tốt vấn đề nước cấp
cho hộ gia đình và các hộ sản
xuất bún

Mật độ 5797 người/km2
Tỉ lệ gia tăng dân số cơ học cao
Cấp nước

Mỗi ngày mỗi hộ sản xuất sử dụng
50m3 cho sản xuất bún
Nước cấp sử dụng trong làng bún
Phú Đô gồm 2 nguồn. Thứ nhất là
nước máy do công ty Nước sạch
Hà Nội bán và thứ hai là từ nước
giếng khoan, nước mưa

100% người dân sử dụng
nước sạch

Nguồn nước mặt và nước ngầm ở
đây đã bị ô nhiễm từ lâu do đặc
tính chứa nhiều chất hữu cơ. Tại
ao, hồ của làng, nước đã bị ô
nhiễm, bốc mùi nồng nặc và
10

Khắc phụ được tình trạng thiếu
nước sạch của dân cư trong
vùng


không thể sử dụng được nữa

Nước thải

Làng bún Phú Đô đã có hệ thống
thoát nước nhưng chưa tách riêng
hộ gia đình và hộ sản xuất
Do lưu lượng nước thải lớn lại
không được thường xuyên bảo
dưỡng nên có nhiều đoạn mương
rãnh vốn làm nhiệm vụ tiêu thoát
nước thải và nước mưa bị bồi lắng
dẫn đến dòng chảy không được
lưu thông
Rác thải rơi xuống hệ thống cống
rãnh gây tắc cục bộ
Lưu lượng nước thải tại làng bún
Phú Đô là 920m3/ngày với tải
lượng ô nhiễm của các thông số:
-

BOD5: 621mg/l
COD: 1376mg/l
Nts: 85,24mg/l

Lượng nước thải càng ngày
càng tăng do nhu cầu tiêu
thụ tăng dẫn đến sản xuất
cũng tăng thêm
Hàm lượng chất thải trong
dòng nước có xu hướng
ngày càng tăng nên mức độ
ô nhiễm ngày càng lớn
Áp dụng nhiều hơn máy
móc vào quá trình sản xuất
Áp dụng các biện pháp tiết
kiệm nước cũng như sản
xuất sạch hơn
Tách riêng các đường ống
nước thải cho sản xuất và
cho sinh hoạt

Nước thải sản xuất phát sinh chủ
yếu từ công đoạn vo gạo, ép bột,

11

Chất lượng nước thải
sẽ tồi tệ 1 cách không
thể kiểm soát khi
không có hệ thống
thu gom và xử lý
nước thải riêng biệt


cắt bún
Nước thải sản xuất, nước thải sinh
hoạt và nước thải chăn nuôi không
được tách biệt, xử lý mà chỉ đưa ra
các cống rãnh chảy ra sông Nhuệ
và các ao hồ nhỏ trong làng

Tình trạng xử
lý nước thải

Nước thải từ các hoạt động sản
xuất, sinh hoạt, chăn nuôi không
được tách riêng mà được chảy
chung vào cống rãnh thoát nước
của địa phương
Hệ thống xử lý nước thải được xây
dựng từ năm 1996 nhưng chỉ hoạt
động được 1 năm và dừng hoạt
động

Tách khu sản xuất khỏi khu
sinh sống của người dân để
tiện thu gom và phân loại
nước thải
Đề xuất xây dựng hệ thống
xử lý nước thải

Nước thải từ hoạt động chăn nuôi
không được xử lý dưới bất kỳ một
hình thức nào (chẳng hạn như
biogas) nên các chất thải và nước
thải từ hoạt động chăn nuôi cũng
xả thẳng vào hệ thống tiêu thoát
nước trong làng và các ao hồ nhỏ
trong làng gây bồi lắng làm tắc
nghẽn dòng chảy và làm ô nhiễm
12

Khi áp dụng các biện pháp về
sản xuất sạch hơn và tiết kiệm
nước thì lượng nước thải sẽ
giảm xuống, hàm lượng chất
thải trong nước cũng sẽ dễ
kiểm soát và xử lý hơn


môi trường hệ thống ao hồ nhỏ và
khu vực xung quanh.
Nước thải không xử lý gây ô
nhiễm không chỉ đến nguồn nước
mặt mà còn có tác động đến nguồn
nước ngầm tại đây. Nguồn nước
chủ yếu là nước giếng khoan cũng
đang bị nhiễm bẩn do tác động của
nước thải ngấm xuống đất ảnh
hưởng đến chất lượng nước ngầm

Rác thải

Làng Phú Đô sử dụng 5250 tấn
than/năm. Ước tính mỗi tấn than
tạo ra 0,2 tấn xỉ thì làng nghề đã
tạo ra 1020 tấn xỉ và xả thải không
đúng quy định vào môi trường

Tốc độ tăng trưởng bình
quân của ngành sản xuất
bún là 8-9% thì hàm lượng
chất thải rắn ngày càng gia
tăng

Với nguyên liệu đầu vào là gạo,
rong, lá chuối dùng để lót bún thì
tại làng bún Phú Đô đã thải ra vỏ,

Bã gạo lẫn trong nước gạo được
đổ ra cống rãnh bị bồi lắng các
chất hữu cơ góp phần gây ra ô
nhiễm môi trường đất

13

Kiểm soát tốt vấn đề rác thải


Thành phần chủ yếu của rác thải là
rác thải sinh hoạt của người dân
trong địa phương

Công tác thu
gom xử lý rác
thải

Ô nhiễm
không khí

Công tác thu gom và vận chuyển
rác thải đã được xã hội hóa trong
khu vực.Khối lượng rác thải được
thu gom, vẫn chuyển xử lý đã
được quan tâm, không gây bức
xúc về rác thải sinh hoạt trên địa
bàn.Về cơ bản 86% lượng rác thải
sinh hoạt hàng ngày được thu gom
và vận chuyển đến bãi rác Thành
phố. Tuy nhiên còn 15% khối
lượng rác thải không được vận
chuyển mà còn chon lấp, về lâu
dài nó sẽ không phù hợp.

Nguồn gây ô nhiễm lớn nhất là từ
các chất hữu cơ dạng rắn và chất
hữu cơ tồn đọng trong nước thải bị
phân hủy yếm khí tạo ra các mùi
hôi nồng nặc, khó chịu. Các chất
khí ô nhiễm chủ yếu gồm: H2S,
CH4, NH3...
Làng nghề chế biến bún Phú Đô

Lượng rác thải sinh hoạt,
chất thải xây dựng,cặn bã
từ bún, chất thải chăn nuôi
ngày càng tăng cao dẫn đến
tần suất thu gom, xử lý rác
thải cũng tăng.

Có biện pháp thu gom để
xử lý và tái chế phù hợp sẽ
tạo điều kiện cho các quá
trình phân hủy sinh học gây
ra mùi hôi khó chịu, hàm
lượng các khí H2S, CH4,
NH3... giảm.
Do hoạt động sản xuất của
các hộ gia đình đã sử dụng
các loại máy móc tân tiến
14

Dự đoán tăng lượng rác thải,
dẫn đến tăng tần xuất thu gom
và phương tiện thu gom thì
lượng chất thải được thu gom
kịp thời sẽ tăng lên, giải quyết
được vấn đề tồn đọng chất
thải.

Chất lượng không khí được cải
thiện hơn


cũng sử dụng nhiên liệu chất đốt
chủ yếu là than, củi cho các công
đoạn đun, nấu các sản phẩm, do đó
thải vào không khí các chất như
CO, CO2, SO2, NO2… Do khí thải
được phát tán nên hầu hết các chỉ
tiêu này tại các làng nghề đều thấp
hơn tiêu chuẩn cho phép, song vẫn
có ảnh hưởng tới sức khỏe của
người dân trong khu vực

hơn nên việc sử dụng than
cũng giảm bớt đi vì thế đã
làm giảm tải lượng ô nhiễm
trong không khí
Việc tăng dân cư do sự nhập
cư làm tăng các loại phương
tiện tham gia giao thông làm
nồng độ ô nhiễm gia tăng
trong không khí

Do các phương tiện giao thông
vận tải đi lại thải ra 1 lượng lớn
khí thải, đặc biệt làng bún Phú Đô
là thuộc vùng nội thành Hà Nội,
nơi có mật độ giao thông lớn

Ô nhiễm môi
trường đất

Nước thải ô nhiễm không qua xử lý
ngấm xuống đất gây ô nhiễm môi
trường đất

Tình trạng ô nhiễm sẽ được
giảm thiểu khi áp dụng các
biện pháp làm sạch nước
thải

Phân tích các mẫu đất tại các vị trí
khác nhau trong phường Phú Đô
(khu vực ảnh hưởng nhiều của nước
thải và khu vực không bị ảnh hưởng
của nước thải) cho thấy : đất có
phản ứng chua, Hàm lượng Mùn,
Lân, Kali tổng số đều cao hơn 2-3
lần và Lân, Kali dễ tiêu cao hơn 56 lần so với mẫu đất không bị ảnh
15

Nếu không có các biện pháp
xử lý, cải tạo đất sẽ rất khó
kiểm soát


hưởng nước thải

Hạ tầng kỹ
thuật

Chưa tách riêng khu sản xuất với
khu chăn nuôi, khu sinh hoạt, tận
dụng các khoảng sân trong nhà để
đặt máy móc và các phương tiện
sản xuất

Điều kiện sản xuất được
nâng cao, quy hoạch sản
xuất tập trung
Nâng cao chất lượng các
loại máy móc

Chất lượng môi trường được
cải thiện hơn

Đầu tư các máy móc thiết bị nhưng
hoạt động của máy móc mặc dù
giảm thiểu lượng nước đầu vào
nhưng lại cho ra sợi bún không dài,
không vừa lòng khách hàng
Vấn đề sức
khỏe

Làng bún Phú Đô, Hà Nội: Có đến
50% mắc các chứng bệnh do nghề
nghiệp và chủ yếu là do bỏng
nước. Bên cạnh đó còn có các
bệnh về mắt (12%), hô hấp (15%),
tai mũi họng (45%), phụ khoa
(20%), thần kinh (5%), tiêu hóa
(8%)
Tuổi thọ trung bình của người dân
trong xã là 55 đến 60 tuổi, đây là
mức tuổi thọ thấp

Hiện trạng sử

Phường Phú Đô có diện tích đất tự

Tuổi thọ trung bình của
người dân trong làng vẫn ở
mức thấp vào giai đoạn
năm 2020 là hệ lụy của ô
nhiễm môi trường làng
nghề giai đoạn trước gây
ra

Tuổi thọ người dân ở mức thấp
do chịu ảnh hưởng

Các bệnh phổ biến là bệnh
ngoài da, tai mũi họng và
các bệnh phụ khoa

Diện tích đất nông nghiệp
16

Múc đích sử dụng đất thay đổi


dụng đất

nhiên là 239 ha
Trong đó diện tích đất nông
nghiệp là 86,04 ha, chủ yếu là
trồng rau

ngày càng bị thu hẹp và đất
phi nông nghiệp ngày càng
tăng

theo hướng phi nông nghiệp

Các chính sách sẽ được
thực thi trong tương lai sẽ
đem lại chất lượng môi
trường tốt hơn

Chính sách quản lý phù hợp

Diện tích đất phi nông nghiệp là
152,96 ha bao gồm nhà cửa,
đường xá giao thông và các công
trình quốc gia

Các chính
sách môi
trường

Đang đề xuất xây dựng “Đề án để
xây dựng làng nghề bún Phú Đô
trở thành làng nghề vững mạnh”
Đang triển khai xây dựng nhà máy
xử lý nước thải Phú Đô công suất
84000m3/ngày
Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo
vệ môi trường của người dân
thông qua các loa phát thanh của
làng
Chưa thường xuyên tổ chức vệ
sinh đường làng ngõ xóm

17


II.

Các vấn đề môi trƣờng cấp bách:

1. Ô nhiễm môi trƣờng nƣớc:
Chế biến bún là một ngành có nhu cầu nước rất lớn và thải ra một lượng nước thải
không nhỏ, giàu chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường. Tùy theo nguyên liệu đầu vào có
thể có BOD lên đến gần 5.500 mg/l, COD có thể lên đến 8.000 mg/l. Hầu hết nước thải
có pH thấp, chất rắn lơ lửng khá cao, bên cạnh đó nếu vào mùa hè thời tiết nóng nước
thải có mùi hôi thối gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân.
Nước thải sản xuất phát sinh chủ yếu từ các công đoạn vo gạo, ép bột và từ công
đoạn cắt bún. Nước thải sản xuất cùng với nước thải sinh hoạt và chất thải chăn nuôi
(chất thải chăn nuôi không được xử lý được bơm rửa, xả ra rãnh thoát nước) được tiêu
thoát chung ra mương rãnh quanh làng rồi đổ ra ao hồ, đồng ruộng và sông ngòi gây
tác động xấu tới sản lượng nuôi trồng thủy sản cũng như sản lượng hoa màu. Do nước
thải với lưu lượng lớn lại không được bảo dưỡng thường xuyên nên có nhiều đoạn
mương rãnh vốn làm nhiệm vụ tiêu thoát nước thải và nước mưa bị bồi lắng do hàm
lượng chất rắn lơ lửng trong nước thải cao, dòng chảy không lưu thông được bốc lên
mùi hôi thối nồng nặc, đây là kết quả của quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong
nước thải do nước thải lâu ngày, gây ô nhiễm môi trường không khí của làng nghề.
Đây cũng là nguy cơ tiềm ẩn gây ra dịch bệnh cho người dân sinh sống ở đây.
Mặt khác, nước thải từ hoạt động chăn nuôi không được xử lý dưới bất kỳ một hình
thức nào (chẳng hạn như biogas) nên các chất thải và nước thải từ hoạt động chăn nuôi
cũng xả thẳng vào hệ thống tiêu thoát nước trong làng và các ao hồ nhỏ trong làng gây
bồi lắng làm tắc nghẽn dòng chảy và làm ô nhiễm môi trường hệ thống ao hồ nhỏ và
khu vực xung quanh.
Nước thải không xử lý gây ô nhiễm không chỉ đến nguồn nước mặt mà còn có tác
động đến nguồn nước ngầm tại đây. Nguồn nước chủ yếu là nước giếng khoan cũng
đang bị nhiễm bẩn do tác động của nước thải ngấm xuống đất ảnh hưởng đến chất
lượng nước ngầm.
2. Hạ tầng kỹ thuật:
Làng nghề Phú Đô là làng nghề truyền thống với hầu hết các cơ sở sản xuất đều là
quy mô hộ gia đình. Các hộ gia đình thường tận dụng diện tích đất ở để thực hiện sản
xuất. Các quá trình ngâm gạo hay lên men được thực hiện ở những khoảng sân, những
góc nhà. Các chất thải trong quá trình sản xuất cũng không được chú tâm xử lý mà
được coi như rác thải sinh hoạt. Do quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ nên đặt nặng mục tiêu
kinh tế, chính vì thế các hộ sản xuất là những người đầu tiên chịu ảnh hưởng từ các
chất thải trong quá trình sản xuất

18


Ảnh hưởng đầu tiên đó là mùi hôi thối do quá trình lên men gạo. Mùi hôi thối so
với QCVN 40:2011 là mùi không khó chịu. Cùng với đó là bã gạo được giữ lại cho lợn
ăn, nhưng đây chính là nơi ở của muỗi và những mầm bệnh. Chính vì thế tuổi thọ ở
đây không cao và bị nhiều loại bệnh về hô hấp
Việc sử dụng các phương tiện máy móc thô sơ và dùng than để đun cũng là 1
nguyên nhân khác gây ảnh hưởng về sức khỏe. Tuy nhiên, có những hộ đầu tư máy
móc với giá 40-50 triệu đồng tuy nhiên sợi bún cho ra không dai và không đáp ứng
được nhu cầu của thị trường nên các hộ sản xuất lại quay trở về với các thiết bị thô sơ
và chủ yếu bằng tay
3. Hiện trạng quản lý môi trƣờng làng nghề
Trong rất nhiều năm qua, vấn đề ô nhiễm tại làng nghề Phú Đô là 1 vấn đề nhức
nhối. Mặc dù bún thành phẩm vẫn đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
nhưng các chất thải mà nó mang lại đã gây ra ô nhiễm. Các nhà quản lý đã nắm bắt
được điều này, đã cho xây dựng hệ thống xử lý nước thải vào khoảng thời gian 1995,
1996 và đi vào hoạt động năm 1997 nhưng chỉ chưa đầy 1 năm thì bị hỏng và từ đó
dừng hẳn việc vận hành hệ thống xử lý
Cùng với đặc tính nước thải chứa nhiều chất hữu cơ, lại thải trực tiếp qua các cống
xả gây ra hiện tượng bồi lắng và làm ngập úng, các cán bộ xã cũng không đưa ra các
chương trình nạo vét, tu bổ nên hệ thống thoát nước cũng ngày càng xuống cấp. Cho
đến nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định riêng đối với vấn đề BVMT
làng nghề theo loại hình sản xuất. Các văn bản hướng dẫn hiện hành đều quy định
chung cho tất cả các loại hình sản xuất kinh doanh, do đó, để áp dụng vào làng nghề
nhiều khi không phù hợp hoặc khó áp dụng.
Hiện nay, các nhà quản lý đã chú trọng hơn tới vấn đề môi trường, đó là các đề án
thành lập khu sản xuất tách rời khu dân cư, dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải
với công suất 84000m3/ngày đêm đang làm người dân rất mong chờ. Đây là những
bước đi thể hiện phần nào sự quan tâm và hành động đúng mực để phát triển bền vững
làng nghề

19


CHƢƠNG 3 ĐỀ XUẤT QUY HOẠCH, GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
2016-2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 3
A. Mục tiêu chung:
Phát triển làng nghề theo hướng phát triển bền vững, nâng cao kinh tế nhưng vẫn đặt
vấn đề bảo vệ môi trường lên trên hết
Giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường và sức khỏe con người do hoạt động
sản xuất mang lại bằng cách đề ra các dự án, chương trình hành động cho trước mắt
cũng như trong tương lai
Nâng cao trình độ lao động có tay nghề và chuyên môn kỹ thuật cao. Duy trì tính ổn
định của hoạt động sản xuất để tăng cao thu nhập cho lao động
Hình thành các khu sản xuất tập trung, các hợp tác xã làng nghề
Hình thành đội ngũ doanh nhân có trình độ quản lý, trình độ tổ chức kinh doanh,
tiếp thị sản phẩm, tạo mẫu mã sản phẩm tại các làng nghề
. Các giải pháp cho vấn đề môi trƣờng cấp bách
3.1. Nâng cao hạ tầng kỹ thuật
3.1.1. Mục tiêu chung
Nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc, tiết kiệm nguyên liệu
Đối với cơ sở sản xuất nhỏ trong hộ gia đình, xây dựng cơ sở một cách hợp lý, thông
thoáng, đảm bảo vệ sinh trong môi trường sản xuất
Đối với cơ sở sản xuất lớn, cần tách riêng khỏi nhà ở để giảm các tác động của ô
nhiễm môi trường đến sức khỏe người dân
3.1.2.Nội dung thực hiện:
Áp dụng sản xuất sạch hơn trong quá trình sản xuất
Quy hoạch về không gian sản xuất
Quy hoạch cụm sản xuất
3.2.3. Các biện pháp, chương trình, dự án hành động
A. Các biện pháp cần thực hiện trước mắt giai đoạn 2016-2017
20


3.1.3.1. Điều tra công nghệ sản xuất trong làng để đề xuất giải pháp sản xuất sạch
hơn
a. Điều tra công nghệ sản xuất trong làng.
Thời gian thực hiện: từ 10/2016- 12/2016
Phương pháp thực hiện: khảo sát thực tế và phỏng vân người dân.
Đối tượng điều tra: các hộ sản xuất bún trong làng Phú Đô
b. Đề xuất một số giải pháp sản xuất sạch hơn
Trong công đoạn ngâm gạo, thay toàn bộ các thùng đựng gạo ngâm có hiện tượng
cáu bẩn, đóng vẩy. Trong lúc sản xuất, cuối mỗi ngày công nhân dọn dẹp và cọ sạch
các thùng đựng nguyên liệu để tránh gây mùi và ảnh hưởng đến chất lượng gạo ngâm
Tại công đoạn ép bột, bột ép phải để nơi khô ráo, thoáng mát, có hệ thống thu nước
tách ra từ bột và đặc biệt phải thiết kế các biện pháp để đuổi ruồi, gián… Các biện
pháp cần áp dụng là để máy đuổi côn trùng tại khu ép bột, vừa không sử dụng hóa chất
ảnh hưởng đến bột ép, vừa đuổi được gián, ruồi và các loại côn trùng khác
Tận thu bột ở công đoạn xay bột, vệ sinh máy móc sau khi xay bột vì bột để lâu sẽ
gây ra mùi chua và gây mốc cho máy móc
3.1.3.2. Xây dựng cơ sở sản xuất nhỏ trong hộ gia đình một cách hợp lý, đảm bảo
sự thoáng mát, vệ sinh vào khu vực sản xuất


Thời gian thực hiện:từ 12/2016 đến 12/2017

Tại làng bún Phú Đô, các hộ sản xuất bún đều tận dụng khoảng sân, góc nhà làm nơi
sản xuất. Hơn nữa, do đặc thù ngành sản xuất bún có hàm lượng hữu cơ trong chất thải
rất cao nên rất dễ gây ra mùi chua, hôi thối, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Vì vậy
cần thiết phải đưa ra một quy hoạch mang tính tổng thể cho các hộ sản xuất nhỏ

21


Hình 2: Mô hình nhà ở hộ sản xuất bún
Kho đựng gạo được thiết kế riêng để tiện bảo quản
Công đoạn ngâm, ủ chua, tách nước là những công đoạn phát sinh nhiều mùi chua, hôi
thối nhất nên được đặt cuối hướng gió và những nơi này đảm bảo thoáng mát
Khu vực đặt máy móc cũng cần được tách riêng để tiện lau dọn khi sản xuất xong
Nơi chứa bún thành phẩm là nơi cao ráo, thoáng mát, tránh bụi bẩn. Được đặt gần cổng
chính để thuận tiện cho việc chuyên chở
3.1.3.3: Nâng cao hiệu quả việc thu gom chất thải tại khu vực sản xuất:


Thời gian thực hiện: từ 10/2016-11/2016

Với việc quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, các loại chất thải ngày một tăng
nhưng ý thức bảo vệ môi trường của công nhân không tốt thì việc thu gom chất thải tại
khu vực sản xuất được thực hiện chưa hiệu quả


Đề xuất biện pháp:

- Với chất thải rắn: đặt 4 thùng rác tại khu vực sản xuất, gần máy móc với thể tích
thùng là 20 lít và thực hiện 1 ngày đổ 2 lần
-

Thực hiện vệ sinh nhà ở và vệ sinh khu vực sản xuất hàng ngày
22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×