Tải bản đầy đủ

bài tiểu luận nhạn thưc về quyen bình đẳng hôn nhân đồng tính

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC & CÔNG TÁC XÃ HỘI
.......................

BÀI TIỂU LUẬN
NHẬN THỨC VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG HÔN NHÂN ĐỒNG
TÍNH CỦA HSTHPT TRẦN CAO VÂN THÀNH PHỐ QUY
NHƠN

Họ và tên

: Hồ Thị Kim Luyến

Lớp

: Tâm lý giáo dục K37

Khoa

: Tâm lý – Giáo dục & Công tác xã hội


Quy Nhơn, tháng 12 năm 2016
1


MỤC LỤC

Phần 1 : Những vấn đề chung...................................................................1
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.

Lý do chọn đề tài...........................................................................................1
Mục đích nghiên cứu...................................................................................2
Nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................................2
Đối tượng và khách thể nghiên cứu......................................................2
Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.............................................................2
Phương pháp nghiên cứu..........................................................................2
Giả thuyết nghiên cứu.................................................................................3

Phần 2 : Nội dung nghiên cứu........................................................................4
Chương 1 : Lý luận về thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở
thành phố Quy Nhơn.
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề :.....................................................................4
1.1.1
1.1.2

Những nghiên cứu nước ngoài về vấn đề giáo dục giới tính :
.......................................................................................................................4
Một số công trình nghiên cứu trong nước về GDGT :.................6

1.2 Cơ sở lý luận về thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT:.......7
1.2.1 Giới :.............................................................................................................7
1.2.2 Giới tính :....................................................................................................8
1.2.3 Giáo dục giới tính :..................................................................................9
1.2.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi HSTHPT :.........................................11
1.2.4.1 Một số đặc điểm :.................................................................................11

1.2.4.2 Điều kiện sống và hoạt động :.........................................................12
Chương 2 :Tổ chức và phương pháp nghiên cứu.
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu :....................................13
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu :..........................................................13
2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu :......................................................13


2.2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu :................................................13


Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi :............................................13

Chương 3 : Kết quả nghiên cứu thực tiễn.
3.1 Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh THPT ở thành phố
Quy Nhơn :............................................................................................................16
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng giáo dục giới tính :...........16
3.3 Kết quả nghiên cứu thực tiễn :...............................................................16
3.4 Đề xuất một số biện pháp :......................................................................19


Tài liệu tham khảo..................................................................................20


PHẦN 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Lý do chọn đề tài :
Hiện nay, tỷ lệ giáo dục giới tính trong trường THPT tại Việt Nam rất
thấp (chỉ khoảng 0.3% trường THPT có đưa giáo dục giới tính vào giảng
dạy cho học sinh).Sự thiếu hụt kiến thức về giới tính và kỹ năng sống là
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc kém hiểu biết về kiến thức giới tính và số
lượng mang thai ở tuổi vị thành niên ngày càng tăng cao. Điều này ảnh
hưởng không tốt tới sức khỏe và khả năng học tập của thanh thiếu niên.
Theo Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, bình quân mỗi năm có khoảng
300.000 ca nạo phá thai ở độ tuổi 15-19, trong đó 80-90% là học sinh, sinh
viên cao nhất so với các nước Đông Nam Á và thứ 5 thế giới, và tỷ lệ vị
thành niên có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các
năm.
Giáo dục giới tính tính dường như vẫn là một khái niệm mới trong xã hội
Việt Nam. Giáo dục giới tính, hiểu một cách đầy đủ là sự giáo dục về sinh lý
cơ thể, vệ sinh thân thể, sức khỏe sinh sản và tình dục.Thế nhưng ở nhiều
gia đình, các bà mẹ không giải thích được cho con những điều cơ bản nhất
về giới tính. Cha mẹ cũng chưa hiểu được rằng nhu cầu tìm hiểu về giới
tính của con cái là điều tự nhiên và thiết yếu nên họ không giáo dục cho con
về vấn đề này, nhiều người hiểu vấn đề nhưng vì ngại nên không muốn nói
ra.
Ở nước ta, giáo dục giới tính không được hiểu theo đúng nghĩa của nó.
Gia đình Việt Nam ngày nay còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng
phong kiến và bởi vậy, việc giáo dục giới tính còn hạn chế trong những lời
răn dạy về đạo đức. Hoạt động giáo dục giới tính phổ biến trong các gia
đình chỉ dừng lại ở góc độ dạy vệ sinh thân thể ở tuổi dậy thì.Với nhiều bậc
phụ huynh, giáo dục tình dục hầu như chưa bao giờ được đặt ra.
Trên thực tế đã có nhiều trường hợp các em nam phạm tội hiếp dâm, các
em nữ có thai ở tuổi vị thành niên. Nhiều trẻ ở lứa tuổi 14-15, còn cắp sách
đến trường, chưa có kinh nghiệm về cuộc sống gia đình nhưng đã phải làm
cha mẹ do thiếu hiểu biết về tình dục. Đây là vấn đề làm đau đầu người lớn
và người ta cho rằng nguyên nhân là do tác động từ kinh tế thị trường, sự
du nhập của văn hóa ngoại lai, chạy theo lối sống ăn chơi, suy đồi về mặt
đạo đức.
1.

4


Rõ ràng giáo dục giới tính là vấn đề đang được quan tâm, và có tầm
quan trọng đối với lứa tuổi học sinh, sinh viên hiện nay. Xuất phát từ những
lý do trên, đề tài nghiên cứu “ Thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở
thành phố Quy Nhơn ” được xác lập.
2. Mục đích nghiên cứu :
Đề tài tìm hiểu thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở thành phố
Quy Nhơn và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này.Trên cơ sở đó đề
xuất và thử nghiệm một số biện pháp nhằm kiểm soát thực trạng này.
Nhiệm vụ nghiên cứu :
Tổng hợp hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến thực trạng giáo dục
giới tính cho HSTHPT ở thành phố Quy Nhơn : thực trạng, giới, giới tính,
giáo dục giới tính, đặc điểm tâm sinh lý tuổi học sinh THPT, thực trạng giáo
dục giới tính, thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT.
Xác định thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở thành phố Quy
Nhơn.
Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp nhằm kiểm soát thực trạng
này.
3.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu : thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở
thành phố Quy Nhơn.
Khách thể nghiên cứu :
- Khách thể nghiên cứu chính : HSTHPT thành phố Quy Nhơn.
- Khách thể nghiên cứu bổ trợ : gia đình, bạn bè, thầy cô.
4.

Giới hạn và phạm vi nghiên cứu :
Vì một số lý do và điều kiện hạn chế mà tôi xin phép được giới hạn phạm
vi để thu hẹp vấn đề nghiên cứu :
- Về địa bàn nghiên cứu : để thuận lợi cho người nghiên cứu, khách thể
nghiên cứu được thu hẹp là học sinh THPT Trần Cao Vân.
- Về khách thể nghiên cứu : trường THPT Trần Cao Vân có ba khối lớp
10, 11, 12. Tôi chỉ khảo sát ngẫu nhiên trên 100 em học sinh cả 3 khối
lớp.
- Về nội dung nghiên cứu : thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở
thành phố Quy Nhơn bao gồm thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến
thực trạng này, nguyên nhân, biểu hiện, … vì điều kiện có hạn nên tôi
chỉ nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng
này.
5.

5


-

6.

Thời gian nghiên cứu : ngày 20 tháng 10 năm 2016 đến ngày 10
tháng 12 năm 2016.

Phương pháp nghiên cứu :
Đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu sau:
 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.

Giả thuyết nghiên cứu :
Thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT vẫn còn nhiều sự thiếu xót,
không đáp ứng được nhu cầu cho HSTHPT, có sự chênh lệch giữa nam và
nữ, học sinh giữa các khối 10, 11 và 12, các nơi sinh sống. Có các yếu tố ảnh
hưởng đến thực trạng này :
- Yếu tố chủ quan : tố chất tâm lý cá nhân.
- Yếu tố khách quan : bạn bè, gia đình, nhà trường.
Trong đó, yếu tố chủ quan là quyết định.
Nếu đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp thích hợp thì sẽ đáp ứng
được nhu cầu cần được giáo dục giới tính cho HSTHPT.
7.

6


PHẦN 2 : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
CHO HSTHPT Ở THÀNH PHỐ QIY NHƠN
Lịch sử nghiên cứu vấn đề :
1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài về vấn đề giáo dục giới tính :
Từ xa xưa trong các nền văn minh nhân loại, giới tính đã được đề cập
đến thông qua các thảo luận về tình yêu như Kinh “Kamasutra” của Ấn Độ,
“Nghệ thuật yêu” của Ovidius, “Bữa tiệc” của Platon. Khi nhân loại bước
vào “Đêm trường trung cổ”, việc tìm hiểu các vấn đề tính dục cũng được
quan tâm ít nhiều, nhưng chỉ để phục cụ cho sự ăn chơi của các vua quan
phong kiến. Việc nghiên cứu khách quan các vấn đề giới tính – tính dục chỉ
thực sự được tiến hành ở thời kỳ Phục hung, khi bộ môn giải phẩu sinh lí
bắt đầu phát triển. Trong thời gian này, khía cạnh của tính dục xét về
phương diện đạo đức và giáo dục được người ta hướng tới.
Cuối thế kỉ XIX, nhiều nhà khoa học ở Châu Âu đã bắt đầu tiến hành
công tác nghiên cứu khách quan về tính dục của con người. Họ miêu tả
hang loạy bất thường trong tâm lý tính dục và tán thành việc xúc tiến công
tác giáo dục tính dục một cách khoa học, và có thể coi cuốn “ Rối loạn tình
dục” của Kraphta Ebing – 1886 là mốc đánh dấu đầu tiên. Trong tác phẩm
này, Ebing đã tranh luận rằng hoạt động tình dục vì bất kì mục đích gì
ngoài mục đích sinh sản đều là sai lầm. Ông nghiên cứu tập trung vào
những hành vi tình dục kì dị xảy ra với bệnh nhân của mình.
Đầu thế kỉ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, sự phổ
biến của các phương tiện truyền thông đại chúng trong xã hội và nhất là sự
gia tang dân số, vì vậy vấn đề GDGT được nhấn mạnh và đề cập nhiều hơn.
Công trình nghiên cứu của P.P.Blonxki, B.E.Raicop đã chỉ ra sự hiện hữu
của một số biểu hiện tình dục sớm của trẻ em khỏe mạnh hoặc trẻ em có
nhiều bệnh và mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục giới tính và các loại hình
hoạt động cá nhân của trẻ. Theo các tác giả, GDGT được coi là toàn bộ các
tác động sư phạm có tổ chức đến dự phát triển nhân cách của trẻ nhằm
hình thành các thái độ và hành vi tự giác, lành mạnh về giới tính. Các tác
giả cũng đưa ra một số biện pháp GDGT trong nhà trường, với khối lượng
thông tin cần thiết cho mỗi độ tuổi, ví dụ : Mẫu giáo và học sinh cấp I tìm
hiểu về người mẹ, học sinh cấp II tìm hiểu về người cha, học sinh cấp III tìm
hiểu về giới tính.
1.1.

7


Các công trình nghiên cứu của S.Freud như là :’ “Ba bài thảo luận về lí
thuyết tính dục ” đến nay vẫn còn giá trị khoa học. Ông đã tập trung chú ý
vào mối quan hệ giữa các vấn đề tâm lí nhân cách với ccá dạng tình dục
khá nhau.Và ông cho rằng, bất kì dạng tình dục bất thường nào cũng đều là
sự định hình những giai đoạn phát triển nhất định của tâm lí tính dục của
con người.Tuy nhiên, những tác phẩm của ông đã quá đề cao yếu tố sinh
dục trong đời sống con người.
Năm 1926, T.Vande Velde đã cho ra đời cuốn “ Hôn nhân hiện đại ”
,cuốn sách khoa học hiện đại đầu tiên về sinh lí học và kĩ thuật trong hôn
nhân, trong đó người phụ nữ được coi là người bạn đời có vai trò và chức
năng tính dục tương đương với người chồng.
Vào những năm 40 của thế kỉ XX, A.Kisney đã đánh dấu một bước nhảy
vọt trong lĩnh vực nghiên cứu tính dục.Ông là người đầu tiên nghiên cứu
tính dục dưới góc độ xã hội, kết quả được công bố trong cuốn “Ứng xử tình
dục của đàn ông” (1948) – cuốn sách như một trái bom làm rạn nứt nhiều
định kiến của xã hội. Ông đã xua tan đi những chuyện hoang đường về tình
dục thông qua việc làm rõ những vấn đề về thủ dâm, tình dục đồng giới và
tình dục ngoài hôn nhân.
Công trình của W.Masters và V.Johnson vào năm 1954 đã tập trung vào
việc phát hiện các chuẩn mực trong tính dục và cung cấp những tham số
đáng tin cậy về đời sống tình dục của con người như : nam giới và nữ giới
làm gì để phản ứng lại những kích thích tình dục có hiệu quả và nguyên
nhân dẫn đến hành động của họ, biểu hiện của tình dục đồng giới…
Năm 1974, Hội nghị Quốc tế về tính dục ở Giơnevơ đã thảo luận đến sự
cần thiết phải đưa tình dục vào giảng dạy tại các cơ sở của ngành giáo dục
và y tế.
Năm 1983, hội nghị giáo dục giới tính ở Thụy Điển được thành lập.
Trong những ănm 1984 – 1986, nhiều hoạt động của UNESCO đã làm
sang tỏ yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình, đồng thời đã biên soạn nội
dung chương trình và tài liệu giảng dạy về giáo dục đời sống gia đình cho
gia đình thực nghiệm (1988-1991). Tùy theo phong tục tập quán và sự định
hướng giá trị mà mỗi nước áp dụng một cách khác nhau nội dung chương
trình thực nghiệm này, nhưng tất cả đều thấy sự cần thiết phải giáo dục
giới tính cho thế hệ trẻ.
Nghiên cứu của hai tác giả Tôn Vân Hiểu – Trương Dẫn Mặc (20022003) trong cuốn “Hoa hồng giấu trong cặp sách” đã tiến hành phỏng vấn
trực tiếp mười ba em nam nữ thanh niên. Nghiên cứu đã phát hiện thấy
một số “sự thật” như sau : trong số các em đã có quan hệ tình dục ở tuổi
8


học trò thì có quá nửa em được thầy cô giáo công nhận là học sinh ngoan,
100% các em không sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ lần đầu tiên,
các em đã trải qua quan hệ tình dục mà cha mẹ và thầy cô giáo không hề
biết, 100% các em không hài lòng với chương trinh GDGT trong trường học
và gia đình. Qua đó, cho thấy một cái nhìn bao quát về đời sống giới tính và
tình dục của lứa tuổi học trò, cũng như vấn đề GDGT cho lứa tuổi vị thành
niên ở Trung Quốc.
Một số công trình nghiên cứu trong nước về giáo dục giới
tính :
Do chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, nên vấn đề giáo dục giới
tính ở nước ta vẫn còn tâm lý “ né tránh ”, chính vì thế mà việc bàn luận
một cách công khai vấn đề giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên bắt đầu
khá muộn và chậm chạp.
Trong chỉ thị số 176A ngày 24/12/1984 do Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng Phạm Văn Đồng kí, đã nêu rõ : “ Bộ giáo dục, Bộ đại học và trung
học chuyên nghiệp, tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên
quan, xây dựng chương trình khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học
sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi
dạy con cái”.
Từ năm 1985,các công trình nghiên cứu của các tác giả như : Đặng
Xuân Hoài, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Bùi Ngọc Oánh,…đã nghiên
cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tết của giới tính và giáo dục giới
tính.Những nghiên cứu này đã làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thế
hệ trẻ nước ta.
Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo
dục gia đình và giới tính cho học sinh có kí hiệu VIE/80/P09 (do Trần
Trọng Thủy chủ nhiệm đề tài) đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ giáo dục và
đào tao, Viện khoa học giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện
với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực. Đề án đã tiến hành rất thận
trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như : quan niệm
tình bạn, tình yêu, hôn nhân và nhận thức về giới tính và GDGT của giáo
viên, học sinh và phụ huynh ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến
hành giáo dục giới tính cho học sinh THPT.
Cuốn “Giáo dục giới tính ở nhà trường phổ thông cấp II ” của Giáo sư
Trần Trọng Thủy (1993) đã chỉ ra kết quả một số vấn đề cơ bản của GDGT
cho học sinh cấp II và đề xuất việc đưa GDGT vào bậc tiểu học. Theo tác giả,
nội dung GDGT là được lồng ghép trong các môn cơ bản của tất cả các bậc
1.1.2

9


học và trong một chừng mực nhất định, tác giả cũng đề cập GDGT cho trẻ
tiền học đường : “Các em chưa đến tuổi đi học cần phải được giáo dục thái
độ thiện ý tự nhiên với bạn bè cùng giới, khác giới và có kỹ năng vui chơi
thân ái với bạn”.
Tác giả Nguyễn Khắc Viện đã dày công nghiên cứu về trẻ em – lứa tuổi
tiền học đường, cũng đã có nhiều đóng góp đáng kể trong lĩnh vực GDGT
cho trẻ em.Theo ông, đến tuổi mẫu giáo, khi trẻ tò mò muốn biết về mọi thứ
xung quanh, chúng muốn biết về sự khác biệt của thế giới xung quanh, thì
sự khác biệt về giới tính cũng nằm trong tầm mắt của chúng.Vì vậy, giáo
dục giới tính có thể bắt đầu ngay tư khi trẻ có ý thức về bản thân mình và
người khác.
Năm 1991, Bùi Ngọc Oánh đã nghiên cứu “ những yếu tố tâm lý trong
sự chấp nhận giáo dục giới tính của thanh thiếu niên học sinh” khẳng định
tầm quan trọng của giáo dục giới tính, nêu lên một số biện pháp để nâng
cao sự chấp nhận việc giáo dục giới tính của học sinh THPT.
Năm 1998, Lê Ngọc Lan đã nghiên cứu “ nhận thức của sinh viên về
tình yêu và giới tính”, đã được công bố ở Tạp chí Tâm lý học số 3/1998 đã
có kết luận nhận thức của sinh viên về tình yêu.
Năm 2007, Đỗ Hà Thế Bình đã nghiên cứu “ Thực trạng việc quản lý
giáo dục giới tính cho học sinh các trường THCS tại Huyện Thuận An, tỉnh
Bình Dương và một số giải pháp”.
Trên đây là những tác phẩm, công trình nghiên cứu tiêu biểu nói về
vấn đề giáo dục giới tính ở Việt Nam.
Cơ sở lý luận về thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở
thành phố Quy Nhơn :
1.2.1 Giới :
Giới xuất phát từ “ gender” trong tiếng Anh.
Giới là một khái niệm rất phức tạp, được hiểu theo nhiều nghĩa.
Theo góc độ sinh học, giới được hiểu là một tập hợp những đặc điểm sinh lý
cơ thể đặc trưng ở con người. Những đặc điểm sinh lí cơ thể thường bao
gồm những đặc điểm di truyền, những hệ cơ quan sinh lí cơ thể, điển hình
và quan trọng nhất là hệ cơ quan sinh dục. Ở con người có hai hệ cơ quan
sinh dục chính là hệ cơ quan sinh dục nam và nữ, vì vậy loài người có hai
giới nam và giới nữ. Giới theo nghĩa này được hiểu là giới sinh học, giới di
truyền.
Theo góc độ xã hội, giới là những đặc điểm mà xã hội tạo nên ở người nam
và người nữ, là quy định của xã hội về người nam và người nữ, là
nhữngđặc trưng xã hội ở nam và nữ. Đó là giới xã hội. Giới xã hội thường
1.2

-

-

10


-

-

bao gồm nhiều vấn đề như : vai trò, vị trí của mỗi giới, đặc điểm và nhiệm
vụ của mỗi giới trong xã hội….
Xét về mặt sinh lý cơ thể, giới là những đặc điểm bẩm sinh, có tính di
truyền. Yếu tố quan trọng và điển hình của giới ở đây là hệ cơ quan sinh
dục. Và dưới ảnh hưởng chủ yếu của hoạt động của hệ cơ quan sinh dục, cơ
thể con ngừoi còn có những biến đổi khác, tạo nên những đặc trưng của
giới về hệ xương và hệ cơ, chiều cao và cân nặng, tỉ lệ giữa cơ và mỡ, hình
dáng đặc trưng của cơ thể nam và nữ, sức lực của từng giới và nhiều đặc
điểm sinh lí khác nhau, như nữ giới có khả năng thụ thai, sinh nở, có hiện
tượng kinh nguyệt…giới nam thì cao lớn khỏe mạnh hơn, có khả năng sản
xuất tinh trùng.
Xét về mặt xã hội, giới là những đặc điểm do xã hội tạo ra, do những quy
định , luật lệ, đòi hỏi…của xã hội đối với con người là nam hay nữ. Ban đầu
dưới ảnh hưởng của đặc tính về sinh lí cơ thể như chiều cao, tầm vóc, sức
mạnh… người nam và người nữ được phân công những công việc, những
vai trò khác nhau trong đời sống xã hội. Dần dần ở mỗi người, mỗi giới tạo
nên những đặc tính về mặt xã hội như vai trò của gia đình, địa vị xã hội,
nhu cầu về đời sống tình cảm… những yếu tố trên chịu sự tác động của xã
hội, của lịch sử tạo nên những đặc điểm, chức năng, vai trò xã hội khác
nhau. Giới được thể hiện ở vai trò, chức năng, nghĩa vụ xã hội. Giới là tập
hợp người có những vai trò chức năng xã hội nhất định.
Giới tính :
Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sử
sụng lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác như : giới, tình dục, tính dục, sinh
dục,… Nhiều người thường quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục
hoặc với tính dục. Đó là một quan niệm chưa thật sự đầy đủ, chỉ hiểu theo
một cách đơn giản hoặc hiểu về một mặt nào đó của giới tính.
Giới tính cần được hiểu một cách toàn diện hơn :
Trước hết, theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm của
giới. Những đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng. Vì giới vừa bao
gồm những thuộc tính về sinh học và những thuộc tính về tâm lí xã hội, nên
giới tính cũng bao gồm những đặc điểm về sinh lý cơ thể và tâm lý xã hội.
Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặc
trưng của giới, giúp cho chúng ta phân biệt giới này với giới kia.
Những đặc điểm trên thường mang tính đặc trưng của từng giới và tạo
nên sự khác biệt giữa hai giới.giới tính là những yếu tố xác định sự khác
biệt giũa giới này với giới kia.
1.2.2

-

-

11


Trong đời sống con người, hai giới không thể tồn tại độc lập mà luôn
tác động đến nhau, có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Mối quan hệ
này bị chi phối bởi nhiều đặc điểm về sinh lí, về tâm lí ở mỗi người, bởi
những đặc điểm về văn hóa, chính trị, phong tục tập quán của xã hội, trong
đó có các đặc điểm đặc trưng của mỗi giới. Từ đó lại hình thành nên nhiều
yếu tố mới, hiệnt ượng mới trong đời sống giới tính như : Sự giao tiếp giữa
hai giới, quan hệ bạn khác giới, quan hệ tình yêu, hôn nhân,…
Đời sống giới tính là toàn bộ những hiện tượng về mặt sinh lí cơ thể
xuất hiện trong con người có liên quan đến hệ cơ quan sinh dục (đời sống
tính dục), những hiện tượng tâm lí đặc trưng ở mỗi giới, những hiện tượng
tâm lí ngừoi trong mối quan hệ với người khác giới (tình bạn khác giới,
tình yêu,…), những hiện tượng trong đời sống xã hội như hôn nhân, gia
đình…Gần đây còn xuất hiện những biểu hiện phức tạp hơn của đời sống
giới tính như : các quan điểm yêu đương ngoài hôn nhân, tình dục ngoài
hôn nhân, tình bạn và sự giao tiếp giữa những người khác giới.
Như vậy, khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ, toàn
diện về nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình,
tình yêu và tình bạn,…
Giáo dục giới tính :
Giáo dục giới tính là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải
phẫu sinh dục, sinh sản, quan hệ tình dục, sức khỏe sinh sản, các quan hệ
tình cảm, quyền sinh sản và các trách nhiệm, tránh thai, và các khía cạnh
khác của thái độ tình dục của loài người. Những cách giáo dục giới tính
thông thường là thông qua cha mẹ, người chăm sóc, các chương trình
trường học và các chiến dịch sức khỏe cộng đồng.
Giáo dục giới tính là một lĩnh vực rất phức tạp.Có rất nhiều quan niệm,
nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này.
Có những ý kiến cho rằng chỉ nên tiến hành giáo dục giới tính khi các
em vào thời kỳ chín muồi giới tính.
Một số ý kiến nhầm lẫn giáo dục giới tính với giáo dục tính dục, hoặc
giáo dục tình dục, giáo dục tình yêu.Thực ra tính dục chỉ là một bộ phận
của giới tính. Sự thu hẹp phạm vi của giáo dục giới tính như vậy sẽ có thể
đưa đến tác dụng phản diện hoặc hạn chế hiệu quả của giáo dục giới tính.
Có một số người cho rằng, không nên giáo dục giới tính, vì như thế là
làm hoen ố tâm hồn thanh cao của các em, là thiếu tế nhị, không phù hợp
với môi trường sư phạm, là “vẽ đường cho hươu chạy”.
Nhiều ngành khoa học những năm gần đây đã xác nhận ý nghĩa đặc
biệt quan trọng của những năm tuổi thơ đối với một đời người. Cha mẹ nào
1.2.3

12


cũng vậy, đều có những phút bang hoàng nhận ra trước mắt mình đứa con
không còn là một cậu bé vụng dại nữa mà đã là một vị thành niên. Nhiều
khi cha mẹ chưa kịp nghĩ tới chuyện giáo dục con cái một cách nghiêm túc
thì những đặc tính cơ bản của tính cách con mình đã hình thành, kể cả đặc
tính tình dục.
Một sự phát triển lành mạnh hay những trục trặc, bệnh tật của đời
sống tình dục cá nhân đều liên hệ mật thiết với những biện pháp giáo dục
nhất định và những điều kiện sống nhất định.
Khoa học hiện đại đã khẳng định ý nghĩa của giáo dục, những chuẩn
mực đạo lý, những kinh nghiệm cá nhân thuộc những lĩnh vực khác trong
sự hình thành và phát triển của đời sống giới tính.Với cách xem xét biện
chứng như vậy, giáo dục giới tính là nhằm giáo dục cho con người đạt tới
mục đích xã hội chân chính với tư cách là con đường dẫn dắt tới sự nếm
trải trọn vẹn của hạnh phúc làm người.
Ở nhiều nước trên thế giới, hơn ba năm nay, các hình thức giáo dục
giới tính đã có vị trí của nó trong trường phổ thông. Nếu các hình thức đó
được tiến hành tốt đẹp thì trẻ em ở từng độ tuổi đều có được những thông
tin cần thiết và lĩnh hội được mọi vấn đề có liên quan đến đời sống tình cảm
của con người.
Theo A.G.Khrivcova, D.V.Kolexev, “Giáo dục giới tính là một quá trình
hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng
cũng như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội
cần thiết của con người đối với người khác”.
Giáo sư Trần Trọng Thủy, Giáo sư Đặng Xuân Hoài cho rằng, giáo dục
giới tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí, đạo đức
con người, “là hình thành tiêu chuẩn đạo đứ của hành vi có liên quan đến
lĩnh vực thầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm
đạo đức lành mạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo
dục những sự “kiềm chế có đạo đức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức
trong tình cảm của các em”.
Ngoài ra còn rất nhiều quan niệm của các nhà khoa học, nhà nghiên
cứu về tâm lí học giới tính.Có thể nói rằng, giáo dục giới tính phải gắn liền
với giáo dục đạo đức, tư tưởng và phải tiến hành trên cơ sở của giáo dục
đạo đức tư tưởng.Giáo dục giới tính cũng phải gắn bó mật thiết với các
mặt giáo dục khác trong nền giáo dục toàn diện.
1.2.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT :
1.2.4.1 Một số đặc điểm :
13


Về tuổi sinh học, học sinh THPT thuộc lứa tuổi thiếu niên từ 15 đến 17
tuổi.

Về phương diện xã hội, học sinh THPT thuộc nhóm người chưa ổn định,
còn phụ thuộc vào địa vị xã hội do chưa thực sự tham gia vào guồng máy
sản xuất của xã hội.
Tuổi thanh thiếu niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt
của hiện tượng, nó được giới hạn ở hai mặt : sinh lý và tâm lý. Đây là vấn
đề khó khăn và phức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn
của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành
về mặt xã hội. Do sự phát triển của xã hội nên sự phát triển của trẻ em ngày
càng có sự gia tốc, trẻ em lớn nhanh hơn và sự tăng trưởng đầy đủ diễn ra
sớm hơn so với các thế hệ trước, nên tuổi dậy thì cũng bắt đầu và kết thúc
sớm hơn khoảng 2 năm. Nhưng việc phát triển tâm lý của tuổi thanh thiếu
niên không chỉ phụ thuộc vào giới hạn lứa tuổi, mà trước hết là do điều
kiện xã hội (vị trí của thanh thiếu niên trong xã hội; khối lượng tri thức, kỹ
năng kỹ xảo mà họ nắm được và một loạt nhân tố khác…) có ảnh hưởng
đến sự phát triển lứa tuổi. Trong thời đại ngày nay, hoạt động lao động và
xã hội ngày càng phức tạp, thời gian học tập của các em kéo dài làm cho sự
trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến chậm. Do đó có sự kéo dài
của thời kì tuổi thanh thiếu niên và giới hạn lứa tuổi mang tính không xác
định (ở mặt này các em được coi là người lớn, nhưng mặt khác thì lại
không). Điều đó cho ta thấy rằng thanh thiếu niên là một hiện tượng tâm lý
xã hội.
Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể.
Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa,
cân đối. Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng
thành, nhưng sự phát triển của các em còn kém so với người lớn. Các em có
thể làm những công việc nặng của người lớn. Hoạt động trí tuệ của các em
có thể phát triển tới mức cao. Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não tăng
lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn.
Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh. Ở
tuổi này, các em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng giống như ở
tuổi thiếu niên. Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do
nguyên nhân sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá
nhân.
1.2.4.2

Điều kiện sống và hoạt động :
14


-

-

-

Vị trí trong gia đình : trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách
nhiệm như người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề
quan trọng trong gia đình. Các em cũng thấy được quyền hạn và trách
nhiệm của bản thân đối với gia đình. Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề
nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế chính trị của gia đình. Có thể nói
rằng cuộc sống của các em trong độ tuổi này là vùa học tập vừa lao động.
Vị trí trong nhà trường : Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo
nhưng tính chất và mức độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu
niên. Đòi hỏi các em tự giác, tích cực độc lập hơn, phải biết cách vận dụng
tri thức một cách sáng tạo. Nhà trường lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị tri thức và hoàn chỉnh
tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan
cho các em. Việc gia nhập Đoàn TNCS HCM trong nhà trường đòi hỏi các
em phải tích cực độc lập, sáng tạo, phải có tính nguyên tắc, có tinh thần
trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình.
Vị trí ngoài xã hội : xã hội giao cho lứa tuổi học sinh THPT quyền công dân,
quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng như người lớn. Tất cả các em đã
có suy nghĩ về việc chọn nghề. Khi tham gia vào hoạt động xã hội các em
được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở
rộng,các em có dịp hòa nhập và cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội
giúp các em tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập
sau này.
Tóm lại, ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có hình dáng người lớn, có
những nét của người lớn nhưng chưa phải là người lớn, còn phụ thuộc vào
người lớn. Thái độ đối xử của người lớn với các em thường thể hiện tính
chất hai mặt đó là : Một mặt người lớn luôn nhắc nhở rằng các em đã lớn
và đòi hỏi các em phải có tính độc lập, phải có ý thức trách nhiệm và thái độ
hợp lý. Nhưng mặt khác lại đòi hỏi các em phải thích ứng với những đòi hỏi
của người lớn…

15


CHƯƠNG 2 : TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu :
2.1.1 vài nét về địa bàn nghiên cứu :
Trường THPT Trần Cao Vân thuộc loại hình trường bán công, địa điểm
72A Trần Cao Vân, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, có vị trí thuận lợi
gần sân vận động, quảng trường và các trung tâm mua sắm của thành phố.
2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu :
Học sinh trường THPT Trần Cao Vân có sự đa dạng từ quê quán, giới
tính, tính cách suy nghĩ đến hoàn cảnh gia đình. Vì là trường bán công nên
học lực cũng như hạnh kiểm của các em có sự chênh lệch vô cùng lớn và
thường được phân theo lớp theo các khối ngành tự nhiên và xã hội khác
nhau. Trường khá thoáng vì vậy các em cũng không bị quản lý quá chặt chẽ
nên có phần cởi mở hơn các học sinh trường công khác.
2.2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu :
 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi :
- Mục đích: khảo sát “thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT thành
phố Quy Nhơn”, từ đó đề ra những biện pháp phù hợp nhằm giúp cải thiện
thực trạng này.
- Khách thể: ngẫu nhiên trên 100 học sinh THPT của cả ba khối 10,11 và
12.
- Thời gian thực hiện: từ ngày 28 tháng 11 năm 2016 đến ngày 03 tháng
12 năm 2016.
- Nội dung:
+ Mục đích thiết lập bảng hỏi
+ Thông tin người được điều tra.
+ Hệ thống các câu hỏi.
+ Lời cảm ơn.
- Kỹ thuật tiến hành:
+ Viết chỉ báo.
+ Lập bảng hỏi chi tiết và cụ thể.
16


+ Viết câu hỏi.
+ Chỉnh sửa bảng hỏi.
+ Thử bảng hỏi.
+ Khảo sát chính thức.
Sau đây là mẫu bảng hỏi khảo sát về thực trạng giáo dục giới tính cho
HSTHPT tại thành phố Quy Nhơn.
PHIẾU KHẢO SÁT
1.

Em biết ở mức độ nào đối với nội dung cụ thể về giáo dục giới tính :

Các nội dung
Biết rất
đầy đủ

Biết vừa
phải

Các mức độ
Biết chưa Biết rất ít
đầy đủ

Hoàn toàn
không biết

Những kiến
thức cơ bản
về giới tính
Các dấu hiệu
bước vào
tuổi dậy thì
Sức khỏe
sinh sản vị
thành niên
Các biện
pháp phòng
tránh thai
Vai trò và
ảnh hưởng
của việc giáo
dục giới tính

2.

Theo em, giáo dục giới tính (GDGT) có nghĩa là gì :
a. Là những kiến thức về cơ thể, về sinh lý học của sự sinh sản, để biết
làm chủ bản thân mình, biết cách đối xử với người khác phái, biết
kiểm soát sự sinh sản và biết phòng ngừa bệnh tật.
b. Là những kiến thức về tâm sinh lý vị thành niên, cách quan hệ giữa
người với người (tình yêu, tình bạn) và tình dục an toàn.
17


c.
d.

Là những kiến thức về tình yêu, giới tính lành mạnh.
Là những kiến thức về cấu tạo cơ thể nam nữ, sự sinh sản, tình dục
và các bệnh về tình dục.

3.

Em có thường xuyên tìm hiểu kiến thức GDGT không :
a. Rất thường xuyên.
b. Thường xuyên
c. Thỉnh thoảng
d. Hiếm khi
e. Không bao giờ

4.

Em đã từng tham gia vào buổi tuyên truyền, hội thảo hay lớp học nào
về GDGT chưa ?
a. Có
b. Không

5.

Khi nghe đến những vấn đề liên quan đến “tình dục, giới tính” em
cảm thấy như thế nào ?
a. Có hứng thú, những vấn đề đó là bình thường, không có gì phải
ngại.
b. Có hứng thú, nhưng có chút ngại ngùng khi nhắc đến.
c. Bình thường, không hứng thú cũng không ngại ngùng.
d. Cảm thấy ngại khi nghe hay nhắc đến.
e. Không muốn nghe bất cứ điều gì liên quan đến vấn đề đó.

6.

Theo em, những kiến thức về giới tính có vai trò như thế nào đối với
bản thân ?
a. Rất quan trọng, là những kiến thức bắt buộc có.
b. Quan trọng, nên có những kiến thức này.
c. Bình thường, có thì càng tốt, không có cũng chẳng sao.
d. Không có vai trò gì quan trọng cả.

7.

Theo em, hình thức và nội dung GDGT hiện nay trong nhà trường đã
phù hợp hay chưa?
a. Hoàn toàn phù hợp, không phải chỉnh sửa gì thêm.
b. Tạm phù hợp.
c. Sao cũng được, không quan tâm lắm.
d. Hoàn toàn chưa phù hợp, cần phải chỉnh sửa rất nhiều.
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
18


3.1 Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh THPT ở thành phố
Quy Nhơn :
Sau khi khảo sát thì thực trạng việc giáo dục giới tính cho HSTHPT ở
thành phố Quy Nhơn vẫn còn rất nhiều thiếu xót, hầu như không đáp ứng
được các nhu cầu tìm hiểu của các em, số lượng kiến thức được cung cấp
không đầy đủ và chưa bao quát.
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng giáo dục giới tính cho
HSTHPT ở thành phố Quy Nhơn :
- Yếu tố chủ quan : có một số em còn ngại ngùng khi tìm hiểu về kiến
thức giáo dục giới tính.
- Yếu tố khách quan :
+ Về gia đình : cha mẹ còn chưa chủ động trong việc GDGT cho con cái,
một số gia đình không gần gũi, thường xuyên tâm sự với con cái, và có suy
nghĩ rằng việc GDGT là trách nhiệm của nhà trường.
+ Về phía nhà trường : nhà trường chưa có sự phổ cập kiến thức một
cách chính xác và có hình thức tổ chức đúng . Việc GDGT chỉ gói gọn trong
một vài nội dung như : tuổi dậy thì, một số biện pháp tránh thai.
3.3 Kết quả thực nghiệm :
Sau khi khảo sát ngẫu nhiên trên 100 học sinh thì kết quả thu được như
sau :
1. Em biết ở mức độ nào đối với nội dung cụ thể về giáo dục giới tính :
Các nội dung
Những kiến
thức cơ bản
về giới tính
Các dấu hiệu
bước vào
tuổi dậy thì
Sức khỏe
sinh sản vị
thành niên
Các biện
pháp phòng

Các mức độ
Biết chưa Biết rất ít
đầy đủ
11
8

Biết rất
đầy đủ
33

Biết vừa
phải
48

22

49

23

6

15

27

48

10

18

27

47

8

19

Hoàn toàn
không biết


tránh thai
Vai trò và
ảnh hưởng
của việc giáo
dục giới tính

16

15

53

9

7

Dựa vào số liệu thống kê, ta có hiểu biết của các em học sinh ở mức độ
biết chưa đầy đủ là 36,4% chiếm tỉ lệ cao nhất; và ở mức độ hoàn toàn
không biết là 1,4% chiếm tỉ lệ thấp nhất; trong đó, ở các hạng mục như sức
khỏe sinh sản vị thành niên, dấu hiệu bước vào tuổi dậy thì được các em
quan tâm và tìm hiểu nhiều nhất. riêng hạng mục vai trò và ảnh hưởng của
việc GDGT có 1,4% số học sinh hoàn toàn không biết. điều này thể hiện việc
GDGT cho các em vẫn hoàn toàn chưa tổng quát được tất cả các mặt.
Theo em, giáo dục giới tính (GDGT) có nghĩa là gì :
Là những kiến thức về cơ thể, về sinh lý học của sự sinh sản, để biết
làm chủ bản thân mình, biết cách đối xử với người khác phái, biết
kiểm soát sự sinh sản và biết phòng ngừa bệnh tật.
b.
Là những kiến thức về tâm sinh lý vị thành niên, cách quan hệ giữa
người với người (tình yêu, tình bạn) và tình dục an toàn.
c.
Là những kiến thức về tình yêu, giới tính lành mạnh.
d.
Là những kiến thức về cấu tạo cơ thể nam nữ, sự sinh sản, tình dục
và các bệnh về tình dục.
Trong đó : có 33 học sinh chọn câu a, chiếm 33%; 27 học sinh chọn
câu b chiếm 27%; 40 học sinh chọn câu d chiếm 40%. Chỉ có 33% hiểu
một cách đầy đủ về GDGT. Số còn lại là 67% chưa hiểu một cách đầy đủ
hoặc chỉ mới có một khái niệm chung chung về vấn đề được đưa ra.
Qua đó ta thấy các học sinh phần lớn vẫn chưa có được sự hiểu biết
đúng nhất về GDGT.
2.
a.

3.

Em có thường xuyên tìm hiểu kiến thức GDGT không :
a. Rất thường xuyên.
b. Thường xuyên
c. Thỉnh thoảng
d. Hiếm khi
e. Không bao giờ
Trong đó : có 23 học sinh chọn câu a chiếm 23%; 31 học sinh chọn
câu b chiếm 31%; 38 học sinh chọn câu c chiếm 38%; 8 học sinh chọn
câu d chiếm 8%; không có học sinh nào chọn câu e, chiếm 0%. Rất

20


đáng mừng là không có học sinh nào không tìm hiểu về kiến thức
GDGT.
4.

Em đã từng tham gia vào buổi tuyên truyền, hội thảo hay lớp học nào
về GDGT chưa ?
a. Có
b. Không
Trong đó : có 59 học sinh chọn câu a chiếm 59%; 41 học sinh chọn
câu b chiếm 41%. Điều đáng quan tâm là có một số lượng không nhỏ
học sinh chưa từng tham gia buổi tuyên truyền hay một lớp học nào về
GDGT. Điều này cho thấy một số khía cạnh :
- Ở bậc THPT chưa có sự quan tâm đúng mức về việc giảng dạy kiến
thức về GDGT cho học sinh.
- Việc tổ chức có bất cập, hạn chế, không thu hút được học sinh tham
gia.

5.

Khi nghe đến những vấn đề liên quan đến “tình dục, giới tính” em
cảm thấy như thế nào ?
a. Có hứng thú, những vấn đề đó là bình thường, không có gì phải
ngại.
b. Có hứng thú, nhưng có chút ngại ngùng khi nhắc đến.
c. Bình thường, không hứng thú cũng không ngại ngùng.
d. Cảm thấy ngại khi nghe hay nhắc đến.
e. Không muốn nghe bất cứ điều gì liên quan đến vấn đề đó.
Trong đó : có 17 học sinh chọn câu a chiếm 17%; 31 học sinh chọn
câu b chiếm 31%; có 22 học sinh chọn câu c chiếm 22%; có 24 học sinh
chọn câu d chiếm 24%; có 6 học sinh chọn câu e chiếm 6%.

6.

Theo em, những kiến thức về giới tính có vai trò như thế nào đối với
bản thân ?
a. Rất quan trọng, là những kiến thức bắt buộc có.
b. Quan trọng, nên có những kiến thức này.
c. Bình thường, có thì càng tốt, không có cũng chẳng sao.
d. Không có vai trò gì quan trọng cả.
Trong đó : Có 21 học sinh chọn câu a chiếm 21%; 52 học sinh chọn
câu b chiếm 52%; 27 học sinh chọn câu c chiếm 27%; không có học
sinh nào chọn câu d chiếm 0%. Qua số liệu ta thấy được không có em
nào thấy việc GDGT là không quan trọng đối với bản thân.Tuy nhiên có
27% học sinh chọn câu c, điều này thể hiện có một bộ phận học sinh
cảm thấy hờ hững đối với việc được GDGT.
21


7.

Theo em, hình thức và nội dung GDGT hiện nay trong nhà trường đã
phù hợp hay chưa?
a. Hoàn toàn phù hợp, không phải chỉnh sửa gì thêm.
b. Tạm phù hợp.
c. Sao cũng được, không quan tâm lắm.
d. Hoàn toàn chưa phù hợp, cần phải chỉnh sửa rất nhiều.
Trong đó : Có 38 học sinh chọn câu b chiếm 38%; 6 học sinh chọn câu
c chiếm 6%; 56 học sinh chọn câu d chiếm 56%. Không có học sinh nào
chọn câu a, điều này thể hiện hình thức và nội dung GDGT ở nhà
trường hoàn toàn không đáp ứng được nhu cầu của các em.

3.4 Đề xuất biện pháp :
- Nhà trường cần tổ chức các buổi hoạt động ngoại khóa để giúp các
em học sinh có thể nắm rõ hơn về kiến thức GDGT, giúp các em vượt
qua tâm lý ngại ngùng.
- Có thể đưa tiết học GDGT hai tuần một lần và thường xuyên thay
đổi nội dung để tránh nhàm chán.

22


Tài liệu tham khảo
“ Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính cho học sinh các
trường THCS tại Huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương và một số giải
pháp” – Đỗ Hà Thế Bình - 2007

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×