Tải bản đầy đủ

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM DỆT MAY XUẤT KHẨU VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM DỆT MAY
XUẤT KHẨU VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

GV hướng dẫn: Hà Văn Hội
SV nghiên cứu: Hoàng Thị Oanh

Hà Nội - Tháng 8 năm 2016
1


LỜI CẢM ƠN:
Trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã cung cấp và trang bị cho
chúng em những kiến thức, phương pháp nghiên cứu, cảm ơn nhà trường đã tạo
điều kiện để em hoàn thành niên luận này.
Đặc biệt, em xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới TS. Hà Văn Hội hiện đang
công tác tại Khoa Kinh Tế và Kinh Doanh Quốc Tế, trường ĐH Kinh Tế ĐHQGHN đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành niên luận này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian hạn chế và vốn kiến thức có
hạn nên bài niên luận sẽ không tránh những sai sót và hạn chế nhất định, em mong

nhận được ý kiến đóng góp, bổ sung để hoàn thiện hơn nữa bài niên luận của mình.
Xin chân thành cảm ơn!

i


MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT...........................................................................III
DANH MỤC HÌNH.................................................................................................V
DANH MỤC BẢNG..............................................................................................VI
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................VII
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA sản
phẩm DỆT MAY........................................................................................................................................... x
1.1.Một số khái niệm liên quan về cạnh tranh:......................................................................................... x
1.2.Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may:..................................................................................xv
1.2.1.Những vấn dề cơ bản về hàng dệt may:..................................................................................xv
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM DỆT MAY XUẤT KHẨU VIỆT
NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ............................................................................................................. xxxiv
2.1.Tổng quan ngành dệt may Việt Nam........................................................................................... xxxiv
2.1.1.Tình hình xuất nhập khẩu ngành dệt may: Kim ngạch xuất khẩu.......................................xxxviii
2.1.2.Cơ cấu ngành dệt may Việt Nam theo thị trường:....................................................................xli
2.1.3.Chủng loại hàng dệt may xuất khẩu:......................................................................................xliv
2.1.4.Nhập khẩu:.............................................................................................................................. xlv
2.4.Nhận xét chung: .............................................................................................................................. liv
2.4.1.Đánh giá cơ hội: ..................................................................................................................... liv
2.4.2.Những vấn đề tồn tại: .............................................................................................................. lvi
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH FTA............................................................................................................ lvi
3.1.Chiến lược xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030:.................lvi
3.2.Các giải pháp cho ngành dệt may Việt Nam:..................................................................................lxii
3.2.1.Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong thời gian tới:.................lxii
3.2.2.Giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.......................................lxiii
3.2.3.Các giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu dệt may....................................................lxv
3.2.4.Các giải pháp nhằm tranh thủ lợi thế, nâng cao giá trị cạnh tranh:........................................lxvi

KẾT LUẬN:..................................................................................................LXVIII
TÀI LIỆU THAM KHẢO:..............................................................................LXIX

ii



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tiếng Việt
STT
1
2
3
4
5
6
7
8

Chữ viết tắt
BCT
DN
DNNN
ĐTNN
KNXK
NK
TMTD
XK

Nghĩa tiếng Việt
Bộ công thương
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước
Đầu tư nước ngoài
Kim ngạch xuất khẩu
Nhập khẩu
Thương mại tự do
Xuất khẩu

Tiếng Anh
STT

Chữ viết

1

tắt
AFTA

2

ASEAN

3
4

CMT
EU

5

FDI

6
7
8

FOB
FTA
GDP

9

ILO

10

MFN

11

OBM

12

ODA

Nghĩa tiếng Anh

Nghĩa tiếng Việt

ASEAN Free Trade Area
Association of Southeast

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam

Asian Nations
Cut-Make-Trim
European Union
Foreign Direct

Á
Cắt, may, gia công
Liên minh châu Âu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Investment
Free on Board
Free Trade Agreement
Gross Domestic Products
International Labour

Giao lên tàu
Hiệp định thương mại tự do
Tổng sản phẩm quốc nội

Organization
Most favoured nation
Original Brand

Tối huệ quốc

Manufacturer
Official Development
Assistance
iii

Tổ chức lao động quốc tế

Nhà sản xuất thương hiệu gốc
Hỗ trợ phát triển chính thức


Original designed

13

ODM

14

OTEXA

15

SME

16

SOES

17

TBT

18

TPP

Economic Partnership

USD

Agreement
United State Dollar
The Vietnam National

VINATEX

Textile and Garment

19

20
21

VITAS

22

VJPA

23

WTO

Manufacturer
Office of Textiles and
Apparel
Small and medium
enterprise
State-Owned Enterprise
Technical Barriers to
Trade
Trans-Pacific Strategic

Group
Vietnam Textile and
Apparel Association

Nhà sản xuất thiết kế gốc
Phòng dệt may Mỹ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp nhà nước
Rào cản thương mại
Hiệp định đối tác kinh tế chiến
lược xuyên Thái Bình Dương
Đô la Mỹ
Tập đoàn Dệt may Việt Nam

Hiệp hội Dệt may Việt Nam
Hiệp định đối tác kinh tế Việt
Nam - Nhật Bản

World Trade
Organnization

iv

Tổ chức thương mại thế giới


DANH MỤC HÌNH

STT Số hiệu

Tên hình
Kim ngạch XK hàng hóa của Việt Nam với các nước

Trang

1

1.1

2

1.2

3

3.1

4

3.2

5

3.3

6

3.4

Nhập khẩu hàng may mặc của Hoa Kỳ năm 2013

40

7

3.5

Giá trị nhập khẩu dệt may ( triệu USD )

45

8

3.6

Nhập khẩu nguyên liệu với xuất khẩu dệt may VN

65

TPP năm 2012 ( triệu USD )
Kim ngạch XK hàng hóa của Việt Nam với các nước
TPP giai đoạn 2010 - 2012 ( triệu USD )
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may VN giai đoạn
2010-2014 ( đơn vị : tỉ đồng )
Giá trị XK doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong
nước ( tỉ USD )
Cơ cấu xuất khẩu vào các thị trường chính của dệt
may VN năm 2012 và 2013

v

18
19
36
38
39


DANH MỤC BẢNG

STT
1
2

Số hiệu
3.1
3.2

3

3.3

4

4.1

Tên bảng
Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam (2014)
Chủng loại dệt may Việt Nam xuất khẩu
Mô Hình SWOT của ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh TPP
Các mục tiêu cụ thể của ngành dệt may đến năm
2030

vi

Trang
33
44
56
70


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau 5 năm tích cực đàm phán, ngày 05/10/2015 đã trở thành thời khắc lịch
sử đối với 12 quốc gia thuộc vành đai Thái Bình Dương với tuyên bố chính thức
hoàn tất đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương
(TPP).
Với những tiêu chuẩn cao và có lưu ý tới trình độ phát triển khác nhau giữa
các nước tham gia, TPP sẽ là một hiệp định toàn diện, cân bằng, góp phần tăng
cường sự minh bạch, bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao đời
sống và xóa đói giảm nghèo; TPP sẽ hình thành một khu vực mậu dịch tự do chiếm
tới 40% kinh tế toàn cầu, và được dự báo sẽ bổ sung cho GDP thế giới thêm gần
300 tỷ USD mỗi năm; TPP cũng sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 33,5 tỷ
USD vào năm 2025.
Với tư duy mở cửa chưa từng có, TPP được 12 nước thống nhất sẽ mở ra cơ
hội tiếp cận thị trường, hỗ trợ phát triển sản xuất trong toàn khu vực và xác lập tiêu
chuẩn mới cho thương mại toàn cầu. Bộ trưởng Thương mại của 12 nước tham gia
đàm phán TPP đã thống nhất đạt một hiệp định với tiêu chuẩn cao, tham vọng, toàn
diện và cân bằng, qua đó giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ việc làm, thúc
đẩy sáng tạo, hiệu quả và tính cạnh tranh của các nền kinh tế. Các nước cũng kỳ
vọng thỏa thuận này sẽ giúp nâng cao mức sống của người dân, giảm nghèo,
khuyên khích sự minh bạch, hiệu quả điều hành cũng như cải thiện việc bảo vệ
người lao động, môi trường. TPP cũng được xem là bước quan trọng trong việc tiến
gần tới mục tiêu thúc đẩy thương mại tự do trong khu vực châu Á – Thái Bình
Dương.
Dệt may hẳn là ngành được quan tâm nhiều nhất trong TPP, khi mà 12 nước
thành viên đã đồng ý dành chương riêng cho ngành công nghiệp vốn được đánh giá
vii


là có vai trò rất quan trọng vào tăng trưởng kinh tế tại một số thị trường của các
nước TPP. Ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam là một ngành có truyền thống
lâu đời. Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ
nhu cầu thiết yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã
hội và đặc biệt nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế
phát triển, góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước. Trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành Dệt may càng chứng tỏ là một ngành mũi
nhọn trong nền kinh tế được thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng kể cả
trong những năm khủng hoảng, các thị trường luôn được rộng mở, số lao động
trong ngành ngày càng nhiều và chiếm tỷ trọng lớn trong các ngành công nghiệp,
giá trị đóng góp của ngành vào thu nhập quốc dân… Tuy nhiên đối mặt với những
biến động không ngừng của nền kinh tế thế giới, ngành Dệt may đang đứng trước
những cơ hội và thách thức rất lớn đặc biệt là trong bối cảnh các hiệp định thương
mại được ký kết trong đó có TPP. Được đánh giá là ngành được hưởng lợi nhiều
nhất từ TPP, vậy cơ hội và thách thức của ngành dệt may Việt Nam là gì? Dệt may
Việt Nam cần phải chuẩn bị gì trước khi TPP có hiệu lực chính thức và cần có
những giải pháp gì trước những cơ hội và thách thức này? Đây cũng chính là lý do
em chọn đề tài nghiên cứu: “Cơ hội và thách thức đối với ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hiệp định TPP”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may
xuất khẩu của Việt Nam so với một số đối thủ khác trên thị trường Mỹ để thấy
được những lợi thế và hạn chế về sức cạnh tranh của hàng dệt may so với các đối
thủ, từ đó đề xuất những biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1) Đối tượng nghiên cứu
viii


Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào năng lực cạnh tranh của sanre
phẩm dệt may xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Mỹ.
3.2) Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Việt Nam, Mỹ và các nước xuất khẩu dệt may vào Mỹ
Phạm vi thời gian: Từ năm 2008 đến nay.
Phạm vi nội dung: Sản phẩm dệt may Việt Nam vào Mỹ
4. Kết cấu chuyên đề
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo thì nội dung chính của
chuyên đề gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của
sản phẩm dệt may xuất khẩu.
Chương 2: Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trên
thị trường Mỹ
Chương 3: Một giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt
may xuất khẩu Việt Nam trên thị trường quốc tế.

ix


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM DỆT MAY

1.1.

Một số khái niệm liên quan về cạnh tranh:

1.1.1. Khái niệm cạnh tranh:
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường.
Hoạt động của cạnh tranh không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Đồng
thời, cạnh tranh cũng động lực phát triển của nền kinh tế.
Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển. Thông qua cạnh
tranh, kích thích các doanh nghiệp nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật, công
nghệ mới vào sản xuất để tạo ra được những sản phẩm tốt hơn, giá cả rẻ hơn, dịch
vụ

tốt hơn. Cũng thông qua cạnh tranh, thị trường sẽ loại bỏ những doanh nghiệp

kinh doanh kém hiệu quả. Để không bị đào thải, buộc các doanh nghiệp phải luôn
đổi mới, nâng cao sự sáng tạo trong hoạt động kinh doanh của mình. Nhờ vậy, hàng
hóa trên thị trường luôn phong phú, đa dạng với chất lượng ngày càng tốt hơn.
Trong điều kiện cơ chế thị trường, doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát
triển, doanh nghiệp đó phải bán được sản phẩm của mình để thu về lợi nhuận. Vì
thế, các doanh nghiệp phải không ngừng nỗ lực cải tiến nhằm thỏa mãn tốt nhất
nhu cầu của khách hàng thông qua nhiều biện pháp như nâng cao chất lượng sản
phẩm dịch vụ, định giá sản phẩm hợp lý, đổi mới phương thức bán hàng, tăng
cường quảng bá sản phẩm. Trong quá trình cạnh tranh, doanh nghiệp nào đáp ứng
tốt hơn nhu cầu của khách hàng với mức giá hợp lý, sẽ tiêu thụ được nhiều sản
phẩm, thu được nhiều lợi nhuận, sẽ trở thành người chiến thắng trong cuộc cạnh
tranh.

x


Hình thành và phát triển cùng nền kinh tế thị trường, cạnh tranh được xem là
cơ sở và động lực cho sự phát triển. Do đó, có rất nhiều học giả nghiên cứu cạnh
tranh và đưa ra những cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này.
Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các
nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng
hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. [13, tr.13] Với cách tiếp cận này, mục tiêu
cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận siêu ngạch của nhà tư bản thông qua việc đấu
tranh để tận dụng và khai thác các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ
hàng hóa.
Cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia cùng
sản xuất một loại hàng hóa, dịch vụ trên cùng một thị trường để giành được nhiều
khách hàng, nhằm tạo ra những điều kiện có lợi nhất trong việc sản xuất tiêu thụ
hàng hóa dịch vụ với lợi nhuận cao nhất. Do vậy, nhà kinh tế học P.Samuelson lại
cho rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành
khách hàng, thị trường”. [13, tr.14]
Nhìn ở góc độ thị trường, theo Tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm: “Cạnh tranh
trong thị trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại
cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn và mới lạ hơn để khách hàng lựa
chọn mình chứ không phải đối thủ cạnh tranh của mình. Trong cuộc tranh tài giữa
các doanh nghiệp để phục vụ khách hàng mỗi ngày tốt hơn, doanh nghiệp nào hài
lòng với vị thế trên thị trường sẽ rơi vào tình trạng tụt hậu và sẽ bị đào thải với
một vận tốc nhanh không thể ngờ trong một thị trường thế giới càng ngày càng
nhiều biến động.” [14, tr.118].
Theo từ điển Thuật ngữ kinh tế học ( Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa, Hà
Nội, 2001, trang 42 ) :“Cạnh tranh sự đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc
gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không
phải ai cũng giành được.”
xi


Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố
kích thích sản xuất kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát
triển, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội.
Như vậy, cạnh tranh là qui luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá vận
động theo cơ chế thị trường. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra
càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết
quả cạnh tranh sẽ có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường
trong khi một số doanh nghiệp khác tồn tại và phát triển hơn nữa. Cạnh tranh sẽ
làm cho doanh nghiệp năng động hơn, nhạy bén hơn trong việc nghiên cứu, nâng
cao chất lượng sản phẩm giá cả và các dịch vụ sau bán hàng nhằm tăng vị thế của
mình trên thương trường, tạo uy tín với khách hàng và mang lại nguồn lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
1.1.2. Năng lực cạnh tranh:
Theo quan điểm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren thì năng lực
cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường
trong và ngoài nước. Các chỉ số đánh giá là năng suất lao động, công nghệ, tổng
năng suất các yếu tố sản xuất, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng và
tính khác biệt của sản phẩm, chi phí đầu vào. Ngoài ra, theo lý thuyết tổ chức công
nghiệp xem xét năng lực cạnh tranh dựa trên khả năng sản xuất ra sản phẩm ở một
mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà không có trợ cấp, đảm bảo
đứng vững trước các đối thủ khác hay sản phẩm thay thế.
Theo Michael E. Porter, năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra sản phẩm
có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu
khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng nhanh lợi nhuận. [10, tr.17]
Như vậy, năng lực cạnh tranh có thể hiểu là khả năng khai thác, huy động,
quản lý và sử dụng các nguồn lực và các điều kiện khách quan một cách có hiệu
xii


quả nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh trước đối thủ, đảm bảo cho doanh nghiệp có thể
tồn tại và phát triển trên thị trường.
Kinh tế học thường xét năng lực cạnh tranh ở 3 loại chủ thể cũng là 3 cấp độ
như sau: năng lực cạnh tranh của quốc gia; năng lực cạnh tranh của ngành/doanh
nghiệp; năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ.
Việc phân chia cấp độ năng lực cạnh tranh như trên chỉ có tính tương đối. Mỗi
một cấp độ đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ví dụ, bất cứ một doanh nghiệp
nào cũng đều sản xuất hoặc kinh doanh một loại hàng hóa dịch vụ nhất định. Chỉ
khi hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp có sức cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có
sức cạnh tranh trên thị trường. Do vậy, cần phải nghiên cứu năng lực cạnh tranh
trên mối quan hệ giữa các cấp độ.
Các cấp độ của năng lực cạnh tranh:
• Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia:
Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng
trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời
sống người dân.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh quốc gia được
định nghĩa là “ năng lực của một nền kinh tế có thể tạo ra tăng trưởng kinh tế bền
vững trong môi trường và thị trường thế giới”.
Các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo tiêu chí của diễn đàn
kinh tế thế giới (WEF) có 8 nhóm tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia
bao gồm: độ mở cửa của nền kinh tế; vai trò và hiệu lực của chính phủ; sự phát
triển của hệ thống tài chính, tiền tệ; trình độ phát triển công nghệ; trình độ phát
triển cơ sở hạ tầng; trình độ quản lý doanh nghiệp; số lượng và chất lượng lao
động; trình độ phát triển thể chế.
xiii


• Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp:
Theo Michael E. Porter, năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra sản phẩm
có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu
khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng nhanh lợi nhuận .
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng vượt qua các đối thủ cạnh
tranh để duy trì và phát triển chính bản thân doanh nghiệp . Như vậy, năng lực
cạnh tranh có thể hiểu là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng các
nguồn lực và các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả nhằm tạo ra lợi thế
cạnh tranh trước đối thủ, đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trên
thị trường.
Thông thường người ta đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông
qua các yếu tố nội tại như quy mô, khả năng tham gia cạnh tranh và rút khỏi thị
trường, sản phẩm, năng lực quản lý, năng suất lao động, trình độ công nghệ. Tuy
nhiên, khả năng này lại bị tác động bởi nhiều yếu tố bên ngoài (Nhà Nước và các
thể chế trung gian). Doanh nghiệp nào có khả năng đổi mới và sáng tạo lớn thì
doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh cao .
Ngoài ra, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn được thể hiện ở chiến
lược kinh doanh thích hợp và hiệu quả kinh doanh từ khâu nắm bắt thông tin đến
khâu tổ chức sản xuất, từ đổi mới công nghệ đến phương pháp quản lý phục vụ, từ
đổi mới mặt hàng, các loại hình dịch vụ đến công việc tiếp thị, quảng cáo…
• Năng lực cạnh tranh sản phẩm, hàng hóa:
Một sản phẩm hàng hoá được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng
được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc
đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì… hơn hẳn so với những sản phẩm hàng
hoá cùng loại. Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại được định
đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sẽ không có năng lực cạnh tranh
xiv


của sản phẩm hàng hoá cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất,
kinh doanh sản phẩm đó thấp.
Cùng với sự tăng trưởng và phát triển của mỗi nền kinh tế thì các quan hệ
thương mại cũng phát triển theo, theo đó diễn ra sự mở rộng thị trường trao đổi
hàng hóa. Sự trao đổi thương mại tác động ngược trở lại quá trình sản xuất của mỗi
nước theo cả hai chiều: kích thích gia tăng khối lượng hàng hóa được thị trường
chấp nhận và hạn chế sản xuất những hàng hóa mà thị trường không chấp nhận.
Như vậy mỗi loại hàng hóa mà nhà sản xuất đưa ra thị trường sẽ được người tiêu
dùng phản ứng ở mức độ cao thấp khác nhau thể hiện qua quyết điịnh mua hay
không mua sản phẩm đó. Đây là buổi hiện tổng quát về sức mạnh cạnh tranh của
sản phẩm đó. Nói cách khác, năng lực cạnh tranh sản phẩm, hàng hóa trên một thị
trường là khả năng hấp dẫn tiêu dùng của sản phẩm đối với khách hàng trên một thị
trường cụ thể và trong một thời gian nhất định.
Trong bài niên luận này sẽ tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp độ
hàng hóa, dịch vụ cụ thể là năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may xuất khẩu.
1.2.

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may:

1.2.1. Những vấn dề cơ bản về hàng dệt may:
 Khái niệm về hàng dệt may:
Hàng dệt may là sản phẩm của các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất dệt
may. Sản phẩm dệt may được tạo nên từ nhiều nguyên liệu khác nhau như vải,
bông, xơ, sợi vải và trải qua hai công đoạn: công đoạn thứ nhất của các doanh
nghiệp dệt, sản xuất tạo ra nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp may, và công
đoạn thứ hai, các doanh nghiệp may tiến hành sản xuất ra các sản phẩm may mặc.
Do vậy có thẻ thấy, các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt và may là các doanh
nghiệp hỗ trợ nhau trong quá trình sản xuất. Sự phong phú, đa dạng của các sản
phẩm may phụ thuộc vào sự đa dạng của các chủng loại sản phẩm do các doanh
xv


nghiệp dệt tạo ra. Ngày nay, khi xét đến các sản phẩm dệt và may, người ta đồng
nhất và gọi chung là sản phẩm dệt may. Nhưng trên thực tế, snar phẩm dệt và may
là hai loại sản phẩm riêng biệt. Chúng có đặc điểm khác nhau và là những sản
phẩm bổ trợ cho nhau. Sản phẩm Ngành dệt may bao gồm các loại quần áo, vải vóc
cho đến các vật dụng sinh hoạt quen thuộc như khăn mặt, chăn màn, ô dù, mũ
nón...trong đó, các sản phẩm may mặc phổ biến thường được xuất khaaursang các
thị trường chính của Việt Nam như quần dài, quần short, áo jacket, áo sơ mi, áo
bông, áo thun...
 Đặc điểm của hàng dệt may:
 Đặc điểm về nhu cầu và tiêu thụ:
Khác với loại hàng hóa khác, hàng dệt may được sử dụng một cách thường
xuyên, liên tục và là loại hàng hóa có tính toàn cầu cao. Nó được sử dụng ở mọi
châu lục, mọi quốc gia, góp phần giải quyết nhu cầu sinh hoạt cho hơn 7 tỉ người
trên trái đất mà không phân biệt tầng lớp, giai cấp, giàu nghèo, không phân biệt
giới tính, độ tuổi. Người tiêu dùng quan tâm đến sản phẩm dệt may phụ thuộc vào
hoàn cảnh, địa điểm hay thời gian khác nhau. Tuy nhiên trong bất kỳ hoàn cảnh nào
người tiêu dùng vẫn phải sử dụng sản phẩm dệt may trong sinh hoạt, trong công
việc, học tập cũng như các hoạt động khác.
Sản phẩm dệt may không có hàng hóa thay thế, thể hiện qua việc không có
hàng hóa cạnh tranh trong nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng mà chỉ có các
nguyên liệu đầu vào tạo ra hàng dệt may được sử dụng thay thế cho nhau. Hay nói
cách khác, cạnh tranh giữa các hàng dệt may chính là cạnh tranh trong việc sử dụng
các nguyên liệu đầu vào và cách thức tạo ra sản phẩm khác nhau. Sự cạnh tranh
giữa các sản phẩm dệt may chủ yếu là cạnh tranh về kiểu dáng, mẫu mã, thiết kế...
chứ không có yếu tố cạnh tranh của hàng hóa thay thế. Đây là một đặc điểm rất
quan trọng của sản phẩm dệt may, nhờ có nó mà doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh
xvi


sẽ biết tìm ra những biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh qua con đường đa
dạng hóa mẫu mã, kiểu dáng, thiết kế...
Sản phẩm dệt may là loại sản phẩm có yêu cầu rất phong phú, đa dạng tùy
thuộc vào đối tượng tiêu dùng. Người tiêu dùng trên thế giới khác nhau về văn hóa,
phong tục tập quán, tôn giáo, hay khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu, về giới
tính, tuổi tác... sẽ có nhu cầu khác nhau về trang phục. Điều đó tác động đến việc
nghiên cứu thị trường để nắm vững nhu cầu của các nhóm tiêu dùng nhằm đẩy
mạnh việc tiêu thụ sản phẩm.
Sản phẩm dệt may có tính thời trang cao, nó phải thường xuyên được thay
đổi về mẫu mã, kiểu dáng, thiết kế, màu sắc, chất liệu... để đáp ứng nhu cầu thích
đổi mới, độc đáo và gây ấn tượng của người tiêu dùng. Do đó để đẩy mạnh việc
tiêu thụ sản phẩm, cần có cái nhìn toàn diện và am hiểu xu hướng thời trang trên
thế giới.
Ngoài ra khi tiến hành sản xuất kinh doanhcasc sản phẩm dệt may cần chú
trọng đến yếu tố thời vụ. Phải căn cứ vào chu kỳ thay đổi thời tiết trong năm ở từng
khu vực thị trường mà cung cấp hàng hóa phù hợp. Điều này liên quan đến khâu
phân phối sản phẩm. Nếu như không muốn bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu thì hơn bao giờ
hết, hàng dệt may cần được giao đúngthời hạn để cung cấp cho kịp thời vụ.
 Đặc điểm về sản xuất:
Sản phẩm dệt may là sản phẩm sử dụng nhiều lao động giản đơn, phát huy
được lợi thế của những nước có nguồn lao động dồi dào với giá nhân công rẻ. Đặc
biệt kinh doanh sản xuất các sản phẩm dệt may đòi hỏi vốn đầu tư ít nhưng tỉ lệ lãi
khá cao. Chính vì vậy sản phẩm dệt may thường là mặt hàng được chú trọng và đầu
tư đối với các quốc gia đang phát triển và đang ở giai đoạn đầu của quá trình công
nghiệp hóa. Khi một quốc gia trở thành nước công nghiệp phát triển với trình độ
cao, giá lao động cao, sức cạnh tranh trong sản xuất hàng dệt may giảm thì họ lại
xvii


vươn tới những ngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao hơn, sử dụng ít lao
động và mang lại lợi nhuận cao. Và do đó, sản phẩm dệt may lại được chú trọng
đầu tư, sản xuất ở các nước kém phát triển hơn. Như vậy, vòng đời phát triển của
sản phẩm dệt may cũng chính là sự dịch chuyển của Ngành công nghiệp dệt may từ
khu vực phát triển sang khu vực kém phát triển hơn do có sự chuyển dịch về lợi thế
so sánh.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may xuất khẩu:
 Thị phần của các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may trên thị trường:
Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất,
kinh doanh hàng hóa đó chiếm lĩnh. Đây là một chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Nếu thị phần của doanh nghiệp trên thị
trường lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh thì cho thấy hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp có hiệu quả, chiếm một vị trí ổn định và vượt trội hơn so
với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Thị phần của mỗi doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu dệt may trên thị trường
được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu tiêu thụ hàng dệt may của bản thân
doanh nghiệp đó so với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh dệt
may trên thị trường đó. Mỗi một chủng loại sản phẩm dệt may thông thường sẽ
chiếm một thị phần nhất điịnh, những mảng thị trường đó chính là số lượng khách
hàng của doanh nghiệp.
Khi hàng dệt may có năng lực cạnh tranh cao bởi sự kết hợp các yếu tố bên
trong sản phẩm như chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá cả thấp, kiểu dáng, mẫu mã
đa dạng và những yếu tố bên ngoài như nhiều cơ hội kinh doanh, công tác xúc tiến
bán hàng, thương hiệu sản phẩm được duy trì và phát triển, doanh nghiệp mở rộng
kênh phân phối làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm và mức độ bao phủ thị
trường lớn hơn, khoảng thị phần tồn tại từ trước đến nay trở nên nhỏ bé so với sức
xviii


mạnh và khả năng của nó. Sức mạnh đó tạo nên khả năng cạnh tranh rất lớn trước
các đối thủ cạnh tranh, buộc hàng dệt may của đối thủ cạnh tranh nhường lại từng
phần thị trường đã chiếm, khi đó thị phần của doanh nghiệp sẽ tăng lên và phần thị
trường doanh nghiệp có được là rất lớn, tạo cho doanh nghiệp có năng lực cạnh
tranh cao trên thị trường.
Thị phần của hàng dệt may được tính theo công thức:

MS: Thị phần của doanh nghiệp.
R : Doanh thu bán sản phẩm của doanh nghiệp trong thời gian nhất định
(tháng, quý, năm)
TR : Tổng doanh thu của các doanh nghiệp trên thị trường bán loại sản
phẩm đó trong một thời gian nhất định (tháng, quý, năm)
Công thức trên tính thị phần tuyệt đối của doanh nghiệp so với toàn bộ thị
trường.
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường ngày nay, cùng với việc mở rộng hợp
tác kinh tế quốc tế, sản phẩm dệt may của doanh nghiệp nào có sức mạnh tốt
thường chiếm được mảng thị trường lớn hơn, và ngược lại sản phẩm của doanh
nghiệp nào có sức cạnh tranh yếu thì chiếm được mảng thị trường nhỏ.
 Doanh thu tiêu thụ hàng dệt may:
Doanh thu của hàng dệt may được tính theo công thức sau:
n

TR =

∑ PixQi
i=1

TR

: Doanh thu
xix


Pi

: Giá cả của một đơn vị sản phẩm i

Qi

: Số lượng sản phẩm i được tiêu thụ

n

: Số sản phẩm được tiêu thụ

Doanh thu của hàng dệt may đạt ở mức cao trên thị trường chứng tỏ sản phẩm
được thị trường chấp nhận, được khách hàng ưa chuộng. Sự chấp nhận của khách
hàng thể hiện sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Trong môi trường cạnh
tranh bình đẳng, khách hàng tự do lựa chọn sản phẩm hợp sở thích, nếu cơ hội lựa
chọn sản phẩm là như nhau, thì doanh thu là chỉ tiêu phản ánh chính xác mức độ
thỏa mãn nhu cầu khác nhau của khách hàng đối với sản phẩm. Như vậy, doanh thu
của hàng dệt may là một tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của
hàng dệt may. Hàng dệt may có khả năng cạnh tranh càng lớn sẽ dễ bán được và
bán chạy, làm tăng doanh thu hơn những hàng dệt may có khả năng cạnh tranh yếu,
dẫn đến doanh thu nhỏ.
Có nhiều biện pháp để tăng doanh thu tiêu thụ hàng dệt may của doanh
nghiệp. Thứ nhất, doanh nghiệp có thế tiến hành tăng giá bán, trong khi giữ nguyên
số lượng hàng dệt may cung ứng trên thị trường. Tuy nhiên, đây không phải là cách
được áp dụng đối với những sản phẩm của doanh nghiệp mà chưa có thương hiệu
nổi tiếng trên thị trường. Hơn nữa, với việc tự do hóa thương mại đang diễn ra
mạnh mẽ như ngày nay, xu thế chung của hàng dệt may trên thế giưới đều giảm
giá. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm bằng cách hạ
giá sản phẩm nhưng lại tăng số lượng hàng dệt may đưa ra thị trường, đẩy mạnh
các hoạt động xúc tiến thương mại. Đây là xu thế chung của các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh hàng dệt may trên thế giới nhằm tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm
dệt may, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
 Giá cả sản phẩm dệt may:

xx


Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng trong chiến lược cạnh tranh của
doanh nghiệp. Cạnh tranh bằng giá đồng nghĩa với việc sản xuất với chi phí thấp để
bán hàng hóa ra với mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Giá
cả khác nhau của hàng dệt may làm gia tăng sự lựa chọn của khách hàng, chênh
lệch về giá sẽ khiến cho khách hàng đưa các quyết định khác nhau khi mua hàng.
Thông thường, khách hàng sẽ chọn những sản phẩm cùng loại, cùng chất lượng,
các dịch vụ khách hàng được cung cấp như nhau nhưng có giá rẻ hơn, đó là tâm lý
chung của khách hàng. Hàng dệt may có giá rẻ hơn sẽ thu hút được khách hàng
nhiều hơn. Nhìn chung, những sản phẩm tiêu dùng thông dụng có chất lượng, các
tính năng, tác dụng tương tự thì giá cả là sự phân biệt rất lớn. Giá cả càng được cân
nhắc kỹ lưỡng khi môi trường xã hội có nhiều biến động như bất ổn về kinh tế như
giai đoạn hiện nay hay bất ổn về chính trị sẽ làm cho người tiêu dùng quan tâm đến
giá cả nhiều hơn. Đây là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
của hàng dệt may, nó tạo điều kiện cho sản phẩm dệt may của doanh nghiệp ngày
càng có chỗ đứng trên thị trường, tức là sản phẩm của doanh nghiệp có vị trí cạnh
tranh cao.
Giá cả sản phẩm bị ảnh hưởng rất nhiều yếu tố như nguyên vật liệu, chi phí
vận chuyển, xếp dỡ, kho bãi, nhà xưởng, khấu hao máy móc thiết bị, lương nhân
công và các chi phí hoạt động khác. Ngoài ra, kênh phân phối càng lớn thì chi phí
của sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng sẽ càng cao.
Tuy giá cả sản phẩm không quyết định hoàn toàn tới năng lực cạnh tranh của
sản phẩm nhưng nó là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của
người tiêu dùng. Vì thế, doanh nghiệp cần phải tiết kiệm các nguồn lực đầu vào, sử
dụng hợp lý các nhân tố trong quá trình sản xuất kinh doanh và phải xác định cho
mình một chiến lược giá phù hợp.
 Chất lượng sản phẩm dệt may:
xxi


Cũng như nhiều sản phẩm khác, bên cạnh giá thì chất lượng sản phẩm dệt may
là yếu tố quan trọng hàng đầu để quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên
thị trường. Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người càng cao. Chất
lượng của sản phẩm dệt may không chỉ là chất lương sản phẩm riêng biệt mà là
toàn bộ các nhân tố tác động đến quá trình tiêu dùng, sự hài lòng của khách hàng
đối với sản phẩm. Chất lượng sản phẩm bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó có
thể kể đến các yếu tố đầu vào ( như nguyên phụ liệu, vật liệu... ), mức độ hiện đại
của máy móc, thiết bị, trình độ tay nghề của đội ngũ lao động. Một sản phẩm được
coi là có năng lực cạnh tranh tốt là sản phẩm không chỉ kết hợp được các nhân tố
trên mà quan trọng phải thõa mãn được thị hiếu tiêu dùng của khách hàng.
“Chất lượng tăng lên và giá cả giảm xuống” đang trở thành xu hướng trong
sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh hàng dệt may trên thị trường. Chất lượng sản
phẩm thường được xem xét, đánh giá qua hệ thống thiêu chuẩn chất lượng quốc tế
mà doanh nghiệp có được như ISO 9000, ISO 14000, SA 8000 hay GB (rào cản
thương mại xanh). Để có được những chứng chỉ tiêu chuẩn chất lượng trên, đòi hỏi
các doanh nghiệp phải luôn tuân thủ chặt chẽ những yêu cầu ngặt nghèo trong tất cả
các khâu của quá trình sản xuất.
 Mức độ đa dạng của sản phẩm dệt may thông qua mẫu mã, kiểu dáng, chủng
loại hay khả năng hấp dẫn của hàng dệt may:
Mẫu mã của sản phẩm là hình thức bên ngoài của sản phẩm đó. Nó được thể
hiện bởi các yếu tố như hình dáng, màu sắc, kích thước,... của sản phẩm. Mẫu mã
sản phẩm có vai trò lớn trong quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Sản phẩm
dệt may càng thu hút được nhiều sự quan tâm của hàng, sản phẩm đó càng có khả
năng cạnh tranh cao hơn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Trong cuộc
sống hiện đại, hàng dệt may không dừng ở mức cung cấp cho người sử dụng những
công năng sử dụng thuần tuý, mà còn đáp ứng những yêu cầu cao hơn, đó là mỗi
sản phẩm phải thể hiện những giá trị về thẩm mỹ, giá trị về cái đẹp, nét sinh động
xxii


trong cuộc sống, thể hiện được tính cách, tâm hồn, tình cảm, uy quyền và mục đích
của người sử dụng thông qua kiểu dáng, mầu sắc, mẫu mã, chất liệu, phụ liệu, đa
dạng về chủng loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Không chỉ
vậy, độ hấp dẫn của sản phẩm dệt may đối với khách hàng còn được thể hiện rõ nét
ở sự thay đổi kiểu dáng, mẫu mã, chất liệu, màu sắc, phụ liệu. Đặc biệt, đối với
những sản phẩm có tính thời vụ cao như quần áo, giày dép, nội thất... thì mẫu mã
vô cùng quan trọng. Do đó, nó tác động không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của sản
phẩm dệt may.
 Thương hiệu của sản phẩm dệt may:
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, thương hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký hiệu,
biểu tượng hoặc hình vẽ thiết kế... hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định và
phân biệt hàng hóa dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hoá
và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh. Hay nói một cách khác, thương hiệu thường
được quan niệm theo nghĩa rộng nhằm để phân biệt và thể hiện sự khác biệt giữa
sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với sản phẩm và dịch vụ của doanh
nghiệp khác.
Thương hiệu giúp cho hàng dệt may có khả năng cạnh tranh cao, là tiêu chí để
đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp không
nên quan niệm chỉ cần đăng ký bản quyền dưới một cái tên, hình vẽ hoặc đặt một
biểu tượng cho sản phẩm dệt may là sản phẩm đó có năng lực cạnh tranh cao hơn
so với các sản phẩm khác mà nó chỉ giúp cho người tiêu dùng phân biệt được sản
phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh
nghiệp khác. Sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao khi thương hiệu của sản phẩm
đó được định hình trong tâm trí, suy nghĩ của khách hàng. Sản phẩm này phải
chứng minh cho khách hàng những giá trị mà nó mang lại lớn hơn sản phẩm của
các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Khi hình ảnh của sản phẩm nằm trong tâm trí
của khách hàng, họ luôn tin tưởng vào sản phẩm thì lúc đó thương hiệu sẽ là yếu tố
xxiii


lôi kéo khách hàng, giúp sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, khẳng định vị thế
của mình khi cạnh tranh trên thị trường chứ không chỉ nhờ yếu tố giá cả hay chất
lượng lôi kéo khách hàng mua sản phẩm dệt may của doanh nghiệp. Chính giá trị
vô hình của thương hiệu đã tạo ra sự khác biệt của sản phẩm đối với người tiêu
dùng và đối với cả sản phẩm, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh..
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may xuất
khẩu:
 Nhóm các nhân tố vĩ mô:
 Các nhân tố thuộc môi trường kinh tế
Bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế ( GDP ), thu nhập bình
quân đầu người, lạm phát, thất nghiệp, các chính sách của Chính phủ về kinh tế,
các thị trường tài chính tiền tệ, chứng khoán, lao động, khoa học công nghệ, xu
hướng đầu tư, tiết kiệm, thuế khóa, tỷ giá hối đoái... tác động xuất nhập khẩu hàng
dệt may của một quốc gia.
Một doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may phải dựa vào các yếu tố kinh tế xã
hội, các chính sách kinh tế, trong đó cần chú ý đến các chính sách ngoại thương,
các quy định về thuế làm cơ sở cho hoạt động của doanh nghiệp mình. Một biến
động về chính sách kinh tế của Nhà nước sẽ làm thay đổi mọi đường lối, chiến
lược, mục tiêu của doanh nghiệp. Chính sách ngoại thương ảnh hưởng nhiều nhất
tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc, nhất là các quy
định về hạn ngạch, thủ tục hải quan, tuế xuất nhập khẩu và các quy định hành chính
khác. Vấn đề lạm phát, tỷ giá hối đoái cũng cần doanh nghiệp xuất khẩu dệt may
quan tâm vì nó ảnh hưởng đến doanh thu cũng như lợi nhuận thực tế của doanh
nghiệp.
 Các nhân tố thuộc môi trường chính trị, pháp luật
xxiv


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×