Tải bản đầy đủ

Đánh giá sự vận động của cơ lưng và cột sống ở người lao động khi nâng nhấc vật nặng bằng tay (luận văn thạc sĩ)

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Bùi Thị Kim Hƣơng

ĐÁNH GIÁ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CƠ LƢNG
VÀ CỘT SỐNG Ở NGƢỜI LAO ĐỘNG
KHI NÂNG NHẤC VẬT NẶNG BẰNG TAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hà Nội – Năm 2014


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU ....................................................................................................................3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................5
1.1. MỘT SỐ NÉT VỀ GIẢI PHẪU-SINH LÝ CỘT SỐNG THẮT LƢNG ...5
1.1.1.Vài nét tổng quát về cột sống ..................................................................... 5
1.1.2. Một số nét về đặc điểm giải phẫu-sinh lý cột sống thắt lưng .................. 6
1.2. GIỚI THIỆU VỀ ECGÔNÔMI ..................................................................15
1.3. SƠ LƢỢC VỀ MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC .18
1.3.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài ................................................................ 18
1.3.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam ................................................................... 21
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................24
2.1. ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU ................................................24
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...............................................................24
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu và nội dung nghiên cứu chính .............................. 24
2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu nghiên cứu ................................................. 24
2.2.2.1. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu phỏng vấn theo bộ phiếu .......................24
2.2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu cho quan sát, mô tả, phân tích về Ecgônômi ..25
2.2.2.3. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu sử dụng thiết bị giám sát sự vận động của
lƣng (LMM) và đo điện cơ bề mặt (EMG) ....................................................25
2.2.3. Các kỹ thuật nghiên cứu được áp dụng ................................................. 25
2.2.3.1. Điều tra qua phỏng vấn .....................................................................25
2.2.3.2. Quan sát, mô tả..................................................................................26
2.2.3.3. Đo, đánh giá sự vận động của lƣng ...................................................26
2.2.3.4. Đo, đánh giá điện cơ bề mặt .............................................................30
2.2.4. Xử lý số liệu ............................................................................................. 32


Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN .....................................36
3.1. ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ THAO TÁC NÂNG NHẤC VẬT NẶNG
TỚI CƠ LƢNG VÀ CỘT SỐNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG ........................36
3.1.1. Một số thông tin chung về đối tượng được phỏng vấn.......................... 36
3.1.2. Quá trình làm việc, đặc điểm công việc và môi trường lao động.......... 36
3.1.3. Tình trạng rối loạn cơ xương ................................................................. 40
3.2. KẾT QUẢ PHÂN T CH, ĐÁNH GIÁ ECGONOMI VÀ GIÁM SÁT
HOẠT ĐỘNG CỦA LƢNG TẠI CÁC VỊ TR LÀM VIỆC ...........................45
3.2.1. ết quả ph n tích đánh giá tại cơ sở sản xuất gạch tuynel .................. 45
3.2.2. ết quả ph n tích đánh giá tại cơ sở sản xuất gạch ốp lát granite....... 54
3.2.3. ết quả ph n tích đánh giá tại cơ sở sản xuất sứ vệ sinh .................... 60
3.2.4. Nhận xét chung về mô hình nguy cơ rối loạn cơ xương cột sống thắt
lưng ở công nh n sản xuất sứ vệ sinh, gạch granit và gạch tuynel ............... 68
3.3. MỨC ĐỘ NGUY CƠ QUA ĐÁNH GIÁ BẰNG ĐO ĐIỆN CƠ (EMG) .71

3.3.1. So sánh giá trị do EMG của điện cực bên trái với điện cực bên phải .. 71
3.3.2. So sánh giá trị do EMG của điện cực ở các vị trí khác nhau ............... 72
3.3.3. So sánh giá trị đo EMG của điện cực theo trọng lượng vật n ng ........ 73
3.3.4. So sánh giá trị đo EMG trên các đối tượng ở các ngành nghề khác
nhau ................................................................................................................... 76
3.4. MỐI LIÊN QUAN GIỮA NÂNG NHẤC VẬT NẶNG VỚI ĐAU THẮT
LƢNG ...................................................................................................................76
3.4.1. Ảnh hưởng của n ng nhấc đối với cơ lưng và cột sống........................ 76
3.4.2. Ảnh hưởng của trọng lượng n ng nhấc đối với thắt lưng .................... 79
3.4.3. Ảnh hưởng của khoảng cách ngang khi n ng nhấc đối với thắt lưng 81
3.4.4. Tương quan gi a kết quả đo EMG với t lệ đau thắt lưng ................... 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................89
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
Ngày nay, nhiều công việc nâng nhấc, vận chuyển các vật nặng đã đƣợc
cơ giới hóa nhờ sự trợ giúp của máy móc thiết bị chuyên dụng. Tuy nhiên, vẫn
không thể tránh khỏi việc nâng nhấc bằng tay ở nhiều công đoạn trong hầu hết
các ngành sản xuất. Việc nâng nhấc bằng tay các nguyên, nhiên, vật liệu, bán
thành phẩm, thành phẩm trong sản xuất vẫn diễn khá phổ biến trong ngành sản
xuất vật liệu xây dựng.
Nâng nhấc, vận chuyển các vật nặng quá sức mình hoặc tƣ thế nâng nhấc
không đúng có thể dẫn đến tai nạn, làm chấn thƣơng cơ, gân, khớp và thần kinh
vận động. Khi thƣờng xuyên nâng nhấc thủ công, ngƣời lao động còn phải đối
diện với những tổn thƣơng ở cơ, gân, thần kinh và các tổ chức nâng đỡ liên đốt
sống tích lũy theo thời gian, gây nên hội chứng rối loạn cơ xƣơng (RLCX).
Trƣớc thực trạng RLCX do nghề nghiệp nói chung và tổn thƣơng thắt
lƣng nói riêng khá cao và cao nhất trong số các tổn thƣơng nghề nghiệp. Nhiều
nghiên cứu đánh giá mức độ nguy cơ đối với lƣng trong các hoạt động lao động
nâng nhấc vật bằng tay ở các ngành công nghiệp khác nhau đã đƣợc các nhà
khoa học ở nhiều nƣớc quan tâm nghiên cứu. Kết quả của các công trình nghiên
cứu là cơ sở để xây dựng các tiêu chuẩn giới hạn nâng nhấc, hƣớng dẫn thực
hành lao động đối với nâng nhấc thủ công, thực hành áp dụng các biện pháp
bảo vệ…
Ở Việt Nam, chƣa có công trình nghiên cứu nào về mối liên quan giữa đau
mỏi lƣng với nâng nhấc vật nặng, chỉ có các điều tra, phỏng vấn đƣa ra tỷ lệ đau
mỏi cơ xƣơng khớp trong đó có thắt lƣng ở các công việc khác nhau. Một số
nghiên cứu đã kết hợp với phân tích tƣ thế, thao tác trong lao động rồi đề xuất,
kiến nghị các biện pháp dự phòng. Chúng ta còn thiếu các công trình nghiên cứu,
định lƣợng mức độ nguy cơ đối với cơ lƣng và cột sống của ngƣời lao động khi
thực hiện các hoạt động nâng nhấc thủ công qua giám sát sự vận động của cột
sống và sự thay đổi về điện cơ của các nhóm cơ lƣng tham gia trong quá trình
nâng nhấc.


Để đáp ứng yêu cầu này, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá
sự vận động của cơ lƣng và cột sống ở ngƣời lao động khi nâng nhấc vật nặng
bằng tay” với các mục tiêu sau:
1. Mô tả đƣợc đặc điểm lao động nâng nhấc và tình trạng đau mỏi cơ xƣơng
khớp và thắt lƣng của ngƣời lao động tại một số công đoạn trong sản xuất gạch
tuynel, gạch granit và sứ vệ sinh.
2. Phân tích đánh giá mức độ nguy cơ đối với cột sống và các cơ lƣng khi
ngƣời công nhân thực hiện các thao tác nâng nhấc vật tại một số công đoạn trong
sản xuất gạch tuynel, gạch granit và sứ vệ sinh.
Các số liệu trong luận văn này đƣợc trích một phần từ đề tài 209/10/TLĐ do
PGS.TS. Nguyễn Đức Hồng – Trung tâm Khoa học Con ngƣời và Sức khỏe Lao
động, Viện Nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Bảo hộ Lao động làm chủ nhiệm. Tác
giả luận văn đã trực tiếp tham gia thực hiện và đƣợc chủ nhiệm đề tài đồng ý cho
phép sử dụng một phần số liệu của nghiên cứu cho luận văn.


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. MỘT SỐ NÉT VỀ GIẢI PHẪU-SINH LÝ CỘT SỐNG THẮT LƢNG
1.1.1.Vài nét tổng quát về cột sống
Cột sống (columna vertebradis) của con ngƣời là trục trung tâm của cơ thể,
thuộc bộ xƣơng trục (skeleton axiale) bao gồm nhiều đốt sống tiếp khớp với nhau, giúp
cho thân mình vận động dễ dàng và nhịp nhàng. Cột sống bao bọc và bảo vệ cho tủy
sống - một phần của thần kinh trung ƣơng. Ở ngƣời, cột sống còn có tác dụng phần nào
nâng đỡ trọng lƣợng của cơ thể và truyền sức nặng cơ thể xuống hai chân [16].
Ở nữ giới, cột sống dài khoảng 60cm; ở nam giới, cột sống dài hơn, khoảng
70cm. Cột sống nằm chính giữa thành sau của thân, chạy dài từ mặt dƣới xƣơng
chẩm và tận hết bởi xƣơng cụt, gồm 33-34 đốt sống, chia làm 5 đoạn (Hình 1.1):

Hình 1.1. Cột sống

- Đoạn sống cổ (vertebrae cervicales) gồm 7 đốt (C1-C7) tạo nên một đoạn
cột sống dài khoảng 12cm cong lõm ra sau.


- Đoạn sống ngực (vertebrae thoracicae) gồm 12 đốt (T1-T12) tạo thành một
đoạn cột sống dài khoảng 28cm cong lõm ra trƣớc.
- Đoạn sống thắt lƣng (vertebrae lumbales) gồm 5 đốt (L1-L5) tạo thành một
đoạn cột sống dài khoảng 18cm cong lõm ra sau.
- Xƣơng cùng (os sacrum) gồm 5 đốt (S1-S5) dính với nhau thành một khối.
- Xƣơng cụt (os coccygis) gồm từ 4-5 đốt dính với nhau tạo thành một khối
xƣơng. Đoạn cùng cụt bắt đầu từ khớp thắt lƣng cùng tới đỉnh xƣơng cụt dài khoảng
12cm cong lõm xuống dƣới và ra trƣớc.
Các đốt sống có những tính chất chung giống nhau và những đặc tính riêng
biệt cho từng loại đốt sống. Bốn đoạn cong sinh lý của cột sống đảm bảo cho cột
sống hoạt động đƣợc mềm dẻo, uyển chuyển và trọng tâm cơ thể rơi đúng mặt chân
đế giúp cho con ngƣời vững vàng trong tƣ thế đứng thẳng. Nhìn chung, cột sống
đƣợc chia làm hai phần:
- Phần trên gồm 24 đốt sống thuộc các đoạn cổ, ngực, thắt lƣng xếp chồng
lên nhau, cử động khá dễ dàng, trong đó đoạn cổ và thắt lƣng là linh hoạt nhất.
- Phần dƣới gồm các đốt sống thuộc đoạn cùng, cụt dính lại với nhau, ít hoặc
không cử động đƣợc.
1.1.2. Một số nét về đặc điểm giải phẫu-sinh lý cột sống thắt lƣng
* Đặc điểm các đốt sống thắt lƣng
Do phải chống đỡ toàn thân và cần chuyển động nhiều nên các đốt sống thắt
lƣng có các đặc điểm sau (Hình 1.2).
- Thân rất to, rộng chiều ngang hơn chiều trƣớc sau.
- Lỗ đốt sống hình tam giác, rộng hơn lỗ đốt sống của các đốt sống ngực
nhƣng nhỏ hơn lỗ đốt sống cổ.
- Cuống ngắn nhƣng rất dày và dính vào thân đốt sống ở 3/5 trên. Khuyết đốt
sống dƣới sâu hơn khuyết đốt sống trên.
- Cung đốt sống có chiều cao hơn chiều rộng.
- Mỏm gai hình chữ nhật, chạy ngang ra sau.
- Mặt khớp của mỏm khớp trên hơi lõm hƣớng vào trong, ra sau. Trên bờ sau
của mỏm xƣơng nhô lên tạo nên mỏm vú (processus mammilaris). Mỏm khớp dƣới
có mặt khớp hơi lồi, nhìn ra ngoài và ra trƣớc.


- Mỏm ngang dài và mỏng đƣợc coi nhƣ xƣơng sƣờn thoái hóa. Trên mặt sau
mỏm ngang có một lồi củ gọi là mỏm phụ (processus accesorius).
* Đặc điểm của lỗ liên đốt sống (lỗ gian liên đốt)
Ở cột sống đoạn thắt lƣng, sự liên quan về vị trí các đĩa đệm và các lỗ liên
đốt với dễ thần kinh tủy sống có vai trò đặc biệt quan trọng. Nói chung, các lỗ liên
đốt sống này nằm ngang mức với các đĩa đệm. Cỡ của các rễ thần kinh vùng cột
sống thắt lƣng lớn dần từ trên xuống dƣới và rễ L5 lớn nhất.
Bình thƣờng đƣờng kính của lỗ liên đốt sống to gấp 5-6 lần đƣờng kính của
rễ thần kinh chui qua lỗ. Các tƣ thế duỗi cột sống và nghiêng về hai bên làm giảm
đƣờng kính lỗ. Khi đĩa đệm bị lồi hoặc thoát vị về phía bên sẽ làm hẹp lỗ liên đốt,
chèn ép vào rễ thần kinh gây đau. Riêng lỗ liên đốt thắt lƣng cùng là đặc biệt nhỏ do
tƣ thế của khe khớp đốt sống ở đây lại nằm ở mặt phẳng đứng ngang. Vì vậy, những
biến đổi ở diện khớp và tƣ thế của khớp đốt sống dễ gây hẹp lỗ liên đốt.

Hình 1.2. Các đốt sống thắt lƣng


* Các khớp ở vùng cột sống đoạn thắt lƣng
Các khớp ở vùng cột sống đoạn thắt lƣng gồm: các khớp giữa các thân đốt
sống (symphysis intervertebralis), khớp giữa các mỏm khớp của đốt sống
(articulationes zygapophysiales), khớp thắt lƣng cùng (articulatio lumbosacralis).
Khớp giữa thân các đốt sống là khớp quan trọng nhất và có nhiều ý nghĩa
hơn cả. Khớp giữa thân các đốt sống là một khớp bán động sụn. Diện khớp là mặt
trên và mặt dƣới của thân hai đốt sống kề nhau. Vì hai mặt này lõm nên giữa hai
mặt khớp có đĩa gian đốt sống. Đĩa gian đốt sống (discus intervertebralis) còn gọi là
đĩa đệm cấu tạo bằng sơ sụn có hình thấu kính hai mặt lồi tƣơng ứng với các mặt
lõm của thân các đốt sống. Độ dày của đĩa tùy thuộc vào từng vùng của cột sống
cũng nhƣ từng phần của đĩa (Hình 1.2). Đĩa gian đốt sống thắt lƣng dày nhất. Ở
đoạn cột sống thắt lƣng, phần đĩa trƣớc dày hơn phần sau, góp phần làm cho cột
sống thắt lƣng lồi ra trƣớc. Có tất cả 23 đĩa nằm chen giữa thân các đốt sống từ C1
tới S1. Mỗi đĩa đệm gồm có hai phần: phần chu vi gọi là vòng sợi (anulus fibrosus)
đƣợc cấu tạo bởi những vòng sơ sụn đồng tâm và rất đàn hồi; phần trung tâm gọi là
nhân nhầy/tủy (nucleus pulposus). Nhân nhầy đƣợc cấu tạo bởi một chất rất đàn hồi
và có thể di chuyển trong vòng sợi tùy theo vị trí của các đốt sống. Thƣờng thì nhân
nhầy nằm gần bờ sau hơn bờ trƣớc của đĩa gian đốt.
Ở tƣ thế nghỉ, khi có áp lực ép lên cột sống, đĩa đệm phản ứng lại bằng sự
căng của các vòng sợi và sự tăng áp lực trong nhân nhầy. Khi cột sống vận động về
một phía (gấp, duỗi, nghiêng…) thì nhân nhầy chuyển về phía đối diện, đồng thời
vòng sợi cũng bị giãn ra. Trong động tác xoay cột sống một cách quá mức hay đột
ngột, các vòng sợi ở phía trực tiếp sẽ bị căng ra, trong khi các vòng sợi ở bên đối
diện sẽ chun lại. Những mô hình toán học dựa trên mô phỏng của đĩa đệm vùng thắt
lƣng đã mô tả rằng, sự xoắn vặn sẽ gây sang chấn tập trung ở những vòng sợi bên,
làm rạn nứt các vòng sợi, đây là vị trí dễ bị thoát vị đĩa đệm [1]. Khi gấp mạnh thân
ngƣời ra phía trƣớc có thể gây thoát vị đĩa đệm ra sau đẩy lồi vào trong ống sống.
Nhƣ vậy, đĩa đệm tham gia vào vận động của cột sống bằng khả năng biến
dạng và tính chịu ép của nó, kết hợp với khả năng chuyển trƣợt của các khớp đốt


sống đã tạo nên cho cột sống có một trƣờng vận động nhất định [26]. Ngoài ra, đĩa
đệm còn đảm bảo chức năng giảm xóc cho cơ thể, làm giảm nhẹ các chấn động dọc
theo trục cột sống do trọng tải. Nhân nhầy đảm nhiệm chức năng chuyển tiếp các
lực dọc trục để trải đều và cân đối tới mâm sụn và vòng sợi [25].
Các đốt sống đƣợc liên kết với nhau bởi các dây chằng nhƣ dây chằng dọc
trƣớc, dây chằng dọc sau, dây chằng vàng, dây chằng trên gai, dây chằng gian gai,
dây chằng gian ngang. Dây chằng dọc trƣớc, dây chằng dọc sau, dây chằng liên gai,
dây chằng vàng có liên quan trực tiếp đến bệnh thoát vị đĩa đệm. Dây chằng dọc sau
phủ phần sau của vòng sợi đĩa đệm nhƣng không phủ kín, để hở phần sau bên của
vòng sợi nên thoát vị đĩa đệm thƣờng xuất hiện ở đây. Dây chằng vàng phủ phần sau
của ống sống, góp phần che trở cho ống sống và các rễ thần kinh. Vì vậy, sự phì đại
của dây chằng vàng cũng gây đau rễ thắt lƣng có thể nhầm với thoát vị đĩa đệm.
* Mối liên quan giữa đĩa đệm và khớp liên cuống đốt sống
Các khớp liên cuống đốt sống là các khớp thực thụ, chúng là các khớp bản lề
chêm. Tùy theo tƣ thế của khớp trong không gian mà nó có những hƣớng vận động
hoàn toàn xác định. Khi trọng tải đè lên trục cột sống thay đổi sẽ dẫn đến sự chuyển
dịch các diện khớp nhƣng các diện khớp luôn luôn đối diện với nhau.
Các khớp liên cuống vùng cột sống thắt lƣng chuyển động trong mặt phẳng
đứng. Nếu tải trọng nén ép theo trục dọc của cột sống sẽ làm giảm chiều cao của
khoang gian đốt và làm dịch chuyển các diện khớp. Khi chịu tải cũng nhƣ trong tác
động duỗi lƣng, bao khớp liên cuống đốt sống phải chịu một lực căng mạnh và thể
tích của khớp bị giảm xuống. Động tác gấp lƣng nhẹ, kéo giãn và duỗi lƣng khiến
cho đĩa đệm đƣợc giải phóng khỏi sự nén ép, do đó làm giảm trọng lực cho các bao
khớp. Nhƣ vậy đĩa đệm và khớp liên cuống đốt sống tạo nên một đơn vị chức năng
thống nhất, nhờ khả năng đàn hồi của đĩa đệm, có thể chống lại các tác động cơ học
mạnh. Các khớp liên cuống đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chống lại lực
xoắn, lực gấp và cũng có vai trò đối với lực nén ép. Thông thƣờng các khớp liên
cuống và cuống đốt sống cùng nhau chia sẻ khoảng 80% lực chống đỡ với tải trọng
xoắn, trong đó các khớp chịu đựng khoảng một nửa [19].


* Mối liên quan giữa đĩa đệm với rễ thần kinh trong ống sống thắt lƣng
Dây thần kinh tủy sống là một dây hỗn hợp, bao gồm nhánh vận động, cảm
giác và giao cảm. Sau khi chui ra khỏi lỗ gian đốt, nó chia nhánh trƣớc và nhánh
sau. Nhánh trƣớc phân bố vào phần trƣớc cơ thể và tứ chi. Nhánh sau phân bố cho
các vùng da tƣơng ứng, các cơ vùng lƣng và có những nhánh tận cùng đi tới bao
khớp và diện khớp ngoài của khớp liên cuống sống, qua các cân cơ để chi phối cho
vùng da tƣơng ứng. Đĩa đệm của ngƣời không có các sợi thần kinh. Ngƣời ta chỉ
phát hiện đƣợc những tận cùng của rễ thần kinh giao cảm nằm ở những lớp ngoài
cùng của vòng sợi, sau dây chằng dọc sau.
Ống sống thắt lƣng đƣợc giới hạn ở phía trƣớc bởi thân đốt sống và đĩa đệm,
phía sau bởi dây chằng vàng, các mảnh sống và nền mỏm gai, phía bên là các cuống
đốt sống và lỗ gian đốt. Hình dạng và thể tích của ống sống có thể thay đổi theo tƣ
thế và vận động của cột sống. Đây là một khoang rất quan trọng vì bên trong có
chứa tủy sống, rễ thần kinh và dịch não tủy.
Sở dĩ phần lớn hội chứng rễ vùng thắt lƣng hay xảy ra ở hai đoạn vận động
L4-L5 và L5-S1 là do sự tiếp xúc hẹp giữa rễ thần kinh với đĩa đệm và tác động cơ
học đặc biệt của cột sống thắt lƣng. Tủy sống dừng lại ở đốt sống thắt lƣng 2 nhƣng
các rễ thần kinh vẫn tiếp tục chạy xuống dƣới và đi ra ngoài ống sống qua lỗ gian
đốt sống tƣơng ứng, nó phải đi qua một đoạn dài trong khoang dƣới nhện. Hƣớng đi
của rễ thần kinh sau khi ra khỏi bao màng cứng tùy thuộc vào chiều cao của đoạn
tủy tƣơng ứng. Do đó, ở đoạn cột sống thắt lƣng rễ thần kinh và đĩa đệm có liên
quan định khu không tƣơng ứng (Hình 1.3), cụ thể:
- Chỗ tách ra của rễ L4 ở độ cao thân đốt L3
- Rễ L5 rời bao cứng ở ngang mức bờ dƣới của thân đốt L4
- Rễ S1 ở bờ dƣới của thân đốt L5.
Trƣờng hợp thoát vị đĩa đệm L4-L5 trƣớc hết sẽ chèn rễ L5, còn rễ L4 chỉ
bị chèn ép khi khối thoát vị rất lớn và đẩy sang hai bên, vì rễ L4 đi qua lỗ ghép ở
phía trên ngoài của đĩa đệm này.


Trƣờng hợp thoát vị đĩa đệm L5-S1 thì chỉ cần một thoát vị sau bên nhỏ, cả
rễ L5 và S1 đều đồng thời bị chèn ép vì rễ S1 thoát ra khỏi bao cứng ở mức này,
còn rễ L5 đi qua lỗ ghép L5-S1 thì nằm ngay trên vòng sợi phía sau đĩa đệm. Rễ L5
lớn nhất nhƣng khoảng rỗng tự do dành cho rễ L5 hoạt động ở lỗ ghép đốt L5-S1 lại
rất nhỏ. Ảnh hƣởng của thoát vị đĩa đệm lên các rễ thần kinh còn liên quan trực tiếp
đến độ rộng của ống sống. Hẹp ống sống sẽ gây chèn ép rễ thần kinh mặc dù đĩa
đệm chỉ bị lồi nhỏ.

Hình 1.3. Liên hệ của rễ thần kinh gai sống với đốt sống


* Hệ thống cơ
Cột sống chuyển động đƣợc là nhờ có sự hoạt động của hệ thống cơ. Cột
sống không thể vận động đƣợc khi không có hệ thống cơ, mặc dù các cấu trúc khác
còn nguyên vẹn, nó sẽ bị oằn xuống dƣới tác động của lực ép dù rất nhỏ. Hệ thống
cơ quyết định tƣ thế của cột sống, làm cho cột sống vững chắc ngay cả trong điều
kiện không thuận lợi và cung cấp lực cần thiết cho các thao tác khuân vác và nâng
hạ. Những thay đổi về cơ lực hoặc thay đổi về sự thăng bằng hệ thống các cơ cột
sống có thể dẫn đến nguy cơ đau thắt lƣng.
Các cơ ở lƣng gồm các cơ thành sau ngực và thắt lƣng đƣợc xếp làm hai lớp:
lớp nông và lớp sâu.
- Các cơ nông: Các cơ nông đƣợc xếp thành 3 lớp từ nông đến sâu nhƣ sau:
+ Lớp thứ nhất gồm cơ thang và cơ lƣng rộng:
Cơ thang là một cơ rộng, hình tam giác, dẹt và mỏng; xuất phát ở đƣờng gáy
trên, ụ chẩm ngoài, mỏm gai các đốt sống từ C1 đến T12 và dây chằng gian gai ở
đoạn này, các thớ cơ đi ra ngoài và khép dần vào phần giữa; bám tận ở 1/3 ngoài bờ
sau xƣơng đòn, bờ trong và mặt trên mỏm cùng xƣơng vai, mép trên bờ sau gai vai.
Cơ thang có tác động xoay xƣơng vai vào gần cột sống, nâng và khép xƣơng vai.
Cơ lƣng rộng là một cơ rộng, dẹt, phủ gần hết phần dƣới lƣng; xuất phát từ
nhiều nơi (mỏm gai các đốt sống từ T6 đến xƣơng cùng, dây chằng gian gai, 1/3 sau
mào chậu, bốn xƣơng sƣờn cuối cùng…); bám tận ở rãnh gian củ xƣơng cánh tay;
Cơ lƣng rộng có tác động duỗi, khép và xoay trong xƣơng cánh tay.
+ Lớp thứ hai gồm cơ nâng vai và cơ trám:
Cơ nâng vai xuất phát từ mỏm ngang các đốt sống từ C1 đến C4; bám tận ở
bờ trong xƣơng vai; có tác động nâng và xoay xƣơng vai, nghiêng cổ (khi xƣơng vai
cố định).
Cơ trám xuất phát từ mỏm gai các đốt sống từ C7 đến T5, dây chằng gian gai
ở đoạn này và dây chằng gáy; bám tận ở bờ trong xƣơng vai; có tác động nâng và
kéo xƣơng vai vào trong.


+ Lớp thứ ba gồm cơ răng sau trên và dƣới:
Cơ răng sau trên xuất phát từ dây chằng gáy, mỏm gai các đốt sống từ C7
đến T2 và dây chằng gian gai ở đoạn này; bám tận mặt ngoài 4 xƣơng sƣờn trên; có
tác động nâng các xƣơng sƣờn khi hít vào.
Cơ răng sau dƣới xuất phát từ mỏm gai các đốt sống từ T11 đến L3 và dây
chằng gian gai tƣơng ứng; bám tận ở mặt ngoài 4 xƣơng sƣờn cuối; có tác động hạ
các xƣơng sƣờn.
- Các cơ lớp sâu gồm các cơ cạnh cột sống và các cơ gáy. Các cơ cạnh cột
sống (Hình 1.4) gồm nhiều cơ dính vào nhau tạo nên một khối cơ chung phức tạp và
cũng đƣợc sắp xếp theo 3 lớp từ nông đến sâu.
+ Lớp thứ nhất: là cơ dựng sống hay còn gọi là cơ lƣng thẳng (m. erector
spinae) gồm các cơ chậu sƣờn, cơ dài và cơ gai. Vì các cơ này chạy dọc từ xƣơng
chẩm tới xƣơng cùng nên ở mỗi đoạn, các cơ còn đƣợc gọi tên là: cơ chậu sƣờn thắt
lƣng, cơ chậu sƣờn ngực, cơ chậu sƣờn cổ, cơ dài ngực, cơ dài cổ, cơ dài đầu, cơ gai
ngực, cơ gai cổ, cơ gai đầu… các cơ ở lớp sâu hơn cũng đƣợc gọi tên theo cách
tƣơng tự. Chức năng chủ yếu của cơ dựng sống là duỗi cột sống và nghiêng cột
sống (khi một bên co).
+ Lớp thứ hai là cơ ngang gai (m. transversospinalis). Cơ bám từ mỏm ngang
sang mỏm gai của các đốt sống. Cơ này gồm các cơ bán gai, cơ nhiều chân và cơ
xoay. Chức năng của các cơ này chủ yếu là xoay cột sống.
+ Lớp thứ ba gồm các cơ gian gai (m. interspinales) bám giữa các mỏm gai
và các cơ gian ngang (m. intertransversarii) bám vào giữa các mỏm ngang. Cơ gian
gai có tác dụng duỗi cột sống. Cơ gian ngang có tác dụng duỗi và nghiêng cột sống.


Hình 1.4. Các cơ lƣng-lớp giữa

* Một số bệnh lý liên quan đến cột sống
Với cấu trúc phức tạp và vai trò quan trọng nêu trên, cột sống là cơ quan rất
năng động đáp ứng nhu cầu của con ngƣời trong sinh hoạt, lao động và vui chơi giải


trí. Tuy nhiên, bất cứ một thay đổi nhỏ đến lớn của mỗi bộ phần của cột sống, bất
cứ một sự bất thƣờng hay bất đồng bộ trong các tƣ thế, động tác trong lao động,
sinh hoạt hay vui chơi giải trí của con ngƣời cũng có thể ảnh hƣởng lên cột sống và
gây nên những bất thƣờng hay bệnh lý từ đơn giản đến phức tạp tại cột sống nhƣ:
+ Đau lƣng, đau thắt lƣng
+ Thoái hóa cột sống và đĩa đệm
+ Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, lƣng, thắt lƣng
+ Viêm cột sống dính khớp…
Biểu hiện ban đầu của các bệnh lý này thƣờng là triệu chứng đau tại cột
sống, đặc biệt là vùng cột sống thắt lƣng, vì đây là vùng hoạt động nhiều nhất của
cột sống hay còn gọi là bản lề của cột sống [16].
Do đó, chúng ta cần hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của cột sống,
từ đó luôn xây dựng và duy trì một lối sống tích cực, an toàn, bảo vệ cho hệ thống
xƣơng khớp đặc biệt là cột sống.
1.2. GIỚI THIỆU VỀ ECGÔNÔMI
Thuật ngữ Ergonomics (theo tiếng Anh) xuất phát từ gốc tiếng Hy Lạp:
“ergo” - nghĩa là công việc, lao động và “Nomos” - nghĩa là qui luật. Xuất xứ đó đã
cho chúng ta thấy ý nghĩa của Ergonomics - mà theo cách dịch ra tiếng Việt đã
đƣợc công nhận trong các tiêu chuẩn và từ điển ở nƣớc ta là Ecgônômi - là khoa học
nghiên cứu về những qui luật của lao động, hay nói một cách khác là nghiên cứu
mối quan hệ giữa con ngƣời và lao động [8].
Theo định nghĩa của Hội Ergonomics quốc tế thì “Ecgônômi là khoa học liên
ngành, đƣợc cấu thành từ các khoa học về con ngƣời để làm phù hợp công việc, hệ
thống máy móc, thiết bị, sản phẩm và môi trƣờng với khả năng về thể lực, trí tuệ và
cả những hạn chế của con ngƣời” [8], [14]. Hay nói một cách khác là nghiên cứu
mối quan hệ giữa con ngƣời và lao động.
Nói về con ngƣời, chúng ta hiểu bao gồm các vấn đề về hình dáng, kích
thƣớc, sự cấu tạo đƣợc gọi chung là các đặc điểm giải phẫu; các quá trình sinh học ở
bên trong duy trì sự tồn tại của cơ thể gọi chung là các đặc điểm sinh lý, cơ sinh; và


các đặc điểm về sự đáp ứng của cơ thể đối với môi trƣờng xung quanh gọi là các
đặc điểm tâm lý.
Nói về lao động, chúng ta hiểu bao gồm các nhiệm vụ phải hoàn thành, các
động tác, thao tác, các bƣớc công việc phải làm, các phƣơng pháp trong lao động,
các dụng cụ, thiết bị, máy móc, bố trí chỗ làm việc và môi trƣờng nơi làm việc [11].
Trong mọi hoạt động, Ecgônômi luôn theo đuổi các mục tiêu nhằm tối ƣu
hiệu quả hoạt động của hệ thống Con ngƣời – Đối tƣợng kỹ thuật – Môi trƣờng lao
động, mà ta có thể gọi tắt là hệ thống Ngƣời – Máy – Môi trƣờng. Ecgônômi làm
thích ứng lao động với các khả năng của con ngƣời về giải phẫu, sinh lý và tâm lý,
đảm bảo cho lao động đƣợc tiến hành với hiệu quả cao nhất, với tổn hao sinh học
thấp và đảm bảo an toàn cho con ngƣời. Mục tiêu của Ecgônômi là:
- Hƣớng tới việc loại trừ mọi nguy hại cho sức khỏe của con ngƣời.
- Hƣớng tới sự tiện nghi cho con ngƣời, tức là là cho các đối tƣợng kỹ thuật
phù hợp với các khả năng hữu hạn của con ngƣời, có tác dụng động viên các quá
trình tâm lý, sinh lý, hạn chế mệt mỏi và thúc đẩy khả năng lao động lâu dài mà
không làm ảnh hƣởng đến sức khỏe của con ngƣời.
- Hƣớng tới tối ƣu các tổn hao sinh học trong quá trình lao động.
- Làm cho lao động có hiệu quả cao (tăng năng suất và chất lƣợng của lao động).
Vậy, mục tiêu chính của Ecgônômi là làm cho công cụ, thiết bị, công việc
phù hợp với con ngƣời chứ không phải là làm cho con ngƣời phù hợp với công việc,
công cụ, thiết bị.
Để đạt đƣợc mục tiêu chính nói trên, một số yêu cầu và nguyên tắc chính của
Ecgônômi đối với hệ thống lao động là:
- Đối với không gian làm việc và phƣơng tiện lao động: Cấu trúc không gian
vị trí làm việc phải đảm bảo an toàn, tiện nghi cho 90% ngƣời sử dụng. Tƣ thế, lực
cơ, chuyển động của cơ thể; khả năng tiếp nhận thông tin từ các phƣơng tiện phản
ánh thông tin, đặc tính chuyển động của cơ thể phải đảm bảo an toàn và tiện nghi.
- Đối với môi trƣờng lao động: Đảm bảo kích thƣớc không gian di chuyển,
thao tác. Trao đổi không khí, cân bằng nhiệt, màu sắc, âm thanh, rung động, bức xạ
phải đảm bảo nằm trong giới hạn cho phép.


- Đối với quá trình lao động: Bảo đảm an toàn, sức khỏe, tiện nghi để thực
hiện mục tiêu lao động. Loại trừ quá tải và dƣới tải – giới hạn trên và giới hạn dƣới
của chức năng sinh lý, tâm lý.
Để đạt đƣợc mục đích, đối tƣợng nghiên cứu của Ecgônômi không đơn thuần
chỉ là con ngƣời trong hoạt động lao động, mà ở mọi nơi, mọi chỗ làm việc hay sinh
hoạt, vui chơi giả trí, con ngƣời đều chịu tác động của rất nhiều yếu tố xung quanh.
Nếu trong điều kiện sản xuất, đó là sự tác động của thiết bị, máy móc, của chính quá
trình công nghệ, của việc tổ chức vị trí lao động đó và môi trƣờng lao động do
chính quá trình sản xuất đó tạo nên. Những yếu tố điều kiện lao động này không
ngừng tác động trực tiếp đến ngƣời lao động. Bởi vậy, nghiên cứu tác động tƣơng
hỗ giữa con ngƣời với điều kiện lao động và từng yếu tố của điều kiện này hay mối
tác động tƣơng hỗ giữa các yếu tố Ngƣời – Máy – Môi trƣờng là đối tƣợng nghiên
cứu của Ecgônômi.
Ecgônômi có thể tham gia tích cực trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho mọi
đối tƣợng, đồng thời hạn chế các tác hại do môi trƣờng và điều kiện lao động không
thuận lợi. Thiết kế một qui trình công nghệ, một công cụ phải dựa trên sự hiểu biết
về Ecgônômi, nghĩa là thấy rõ sự hạn chế của khả năng con ngƣời, biết tôn trọng
những đặc điểm hình thái, sinh lý, tâm lý của ngƣời lao động thì không những tăng
đƣợc năng suất mà còn tránh đƣợc cho ngƣời lao động các tai nạn và bệnh tật
không muốn có. Ecgônômi phải đƣợc đƣa vào ngay từ giai đoạn thiết kế. Thiết kế
phải giảm gánh nặng thể lực, tâm thần và gánh nặng do môi trƣờng, đề xuất các
cải tiến để thích nghi gánh nặng lao động và gánh nặng môi trƣờng đối với khả
năng chịu đựng của con ngƣời. Muốn làm đƣợc điều đó, ngay từ giai đoạn thiết kế
mỗi sản phẩm phải tính đến các đặc điểm liên quan đến ngƣời sử dụng nhƣ; tuổi,
giới, đặc điểm nhân trắc, thể lực, trình độ học vấn, phong tục tập quán...
Ecgônômi làm nhiệm vụ cung cấp các thông tin trên, đồng thời giám sát việc thực
hiện các yêu cầu đó [11].


1.3. SƠ LƢỢC VỀ MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC
1.3.1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Một trong những nguyên nhân chủ yếu gây đau thắt lƣng là do nâng nhấc các
vật nặng, đặc biệt là khi tải trọng của vật nặng vƣợt quá khả năng cho phép hoặc tƣ
thế thao tác không đúng. Những nghiên cứu dịch tễ học của các nhà khoa học Nhật
Bản đã minh chứng rằng những yếu tố gây đau thắt lƣng nơi làm việc không chỉ do
nâng nhấc vật nặng bằng tay mà còn do tƣ thế không tự nhiên, những di chuyển đột
ngột, bất ngờ và các đặc điểm cá nhân của công nhân [31].
Ở Mỹ, để đánh giá mức độ nguy cơ đối với lƣng trong các hoạt động lao
động nâng nhấc, vận chuyển vật bằng tay, ngƣời ta thƣờng dùng 4 mô hình đánh giá
là: mô hình giám sát sự vận động của lƣng, phƣơng trình nâng nhấc của NIOSH
đƣợc sửa chữa lại năm 1991, chƣơng trình dự đoán sức mạnh tĩnh 3DSSPP và bảng
kiểm đánh giá các nguy cơ của nâng, hạ, đẩy, kéo…
Thiết bị giám sát sự vận động của lƣng nhƣ một bộ xƣơng sống bên ngoài.
Nó có thể đo vị trí, tốc độ và sự gia tăng của cột sống trong mặt phẳng dọc giữa,
mặt phẳng bên và sự xoắn vặn. Cùng với thiết bị đo là phần mềm để phân tích đƣa
ra mức độ nguy cơ trung bình chung cho cơ xƣơng cột sống và riêng cho từng yếu
tố: Tần số nâng, tốc độ xoay thân trung bình, mô men tối đa, góc cúi tối đa theo mặt
dọc giữa, tốc độ nghiêng thân tối đa. Trên cơ sở phân tích mức độ nguy cơ trung
bình chung đối với cơ xƣơng cột sống và riêng cho từng yếu tố, ngƣời nghiên cứu
có thể đƣa ra các đề xuất hƣớng dẫn thiết kế cho các công việc nâng nhấc cụ thể
nhằm giảm nhẹ mức độ nguy cơ đối với cơ xƣơng cột sống.
Thiết bị giám sát sự vận động của lƣng đã đƣợc sử dụng trong khá nhiều nghiên
cứu để đánh giá mức độ nguy cơ đối với lƣng ở Mỹ. Lavender và cộng sự đã phân tích
53 công việc ở 7 trung tâm phân phối phụ tùng ô tô thuộc miền Bắc nƣớc Mỹ bằng
thiết bị giám sát sự vận động của lƣng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trung bình các
công việc ở trung tâm phân phối phụ tùng ô tô có mức nguy cơ cao là 56% ±11% [28].
Thiết bị giám sát sự vận động của lƣng cũng đã đƣợc sử dụng để đánh giá
mức độ nguy cơ đối với lƣng của nhân viên dọn phòng trong một số khách sạn ở


Chicago, Philadelphia; y tá và điều dƣỡng viên ở bệnh viện khi làm công việc nâng
nhấc và vận chuyển bệnh nhân; công nhân lắp ráp ô tô; nhân viên sắp xếp và phân
phối ở các cửa hàng tạp phẩm, cửa hàng đồ gia dụng, kho hàng quần áo…Trên cơ
sở phân tích mức độ nguy cơ trung bình chung đối với cơ xƣơng cột sống và riêng
cho từng yếu tố, ngƣời nghiên cứu có thể đƣa ra các đề xuất hƣớng dẫn thiết kế
ecgônômi cho các công việc nâng nhấc cụ thể nhằm giảm nhẹ mức độ nguy cơ đối
với cơ xƣơng cột sống thắt lƣng.
Phƣơng trình nâng nhấc đã đƣợc Viện Quốc gia về An toàn lao động và Sức
khỏe nghề nghiệp Hoa Kỳ (NIOSH) xây dựng năm 1981 và đƣợc sửa chữa bổ sung
lại vào năm 1991. Phƣơng trình nâng nhấc là một công cụ để đánh giá công việc nâng
nhấc bằng tay. Phƣơng trình nâng nhấc của NIOSH 1991 cho phép ngƣời sử dụng
tính đƣợc giới hạn trọng lƣợng nâng nhấc khuyến nghị tùy thuộc vào điều kiện nâng
nhấc cụ thể. Dựa vào kết quả phân tích và tính toán theo phƣơng trình này, ngƣời
nghiên cứu có thể đƣa ra các đề xuất hƣớng dẫn thiết kế ecgônômi cho các công việc
nâng nhấc nhằm giảm nhẹ tác hại đối với lƣng và tay của ngƣời lao động [30].
Các nhà nghiên cứu của Trung tâm Egonomy thuộc trƣờng Đại học tổng hợp
Michigan (Mỹ) trên cơ sở hơn 30 năm nghiên cứu đã xây dựng thành công phần
mềm 3DSSPP (3D static strenght prediction program) [22]. Phần mềm này dự báo
các yêu cầu của sức mạnh tĩnh cho các công việc nâng, hạ, đẩy và kéo. Chƣơng
trình đƣa ra một công việc đƣợc mô phỏng gần đúng với các thông số cần đƣa vào
là các số liệu về tƣ thế (đứng trên hai chân, đứng trên chân phải, đứng trên chân
trái…, ngồi có vật để chân, ngồi không có vật để chân, ngồi có tựa lƣng, ngồi không
tựa lƣng…); kích thƣớc nhân trắc của nam/nữ (chiều cao, cân nặng); các thông số
lực thông qua trọng lƣợng vật cầm nắm, nâng hạ…[22,24,26]. Đầu ra (kết quả thu
đƣợc) bao gồm tỷ lệ phần trăm sức mạnh của nam và nữ cần phải có để thực hiện
công việc đƣợc mô tả, lực nén lên cột sống và những số liệu đó đƣợc so sánh với
hƣớng dẫn/tiêu chuẩn của NIOSH. Ngƣời sử dụng chƣơng trình phần mềm còn có
thể phân tích mức độ xoắn vặn của thân mình, độ cong của thân và ƣớc tính tổ hợp
các lực ở tay đã sử dụng. Việc phân tích đƣợc thực hiện tự động và đƣợc minh họa
bằng các hình ảnh/sơ đồ hình ngƣời 3 chiều.


Các nhà nghiên cứu Trung Quốc nhƣ Chen, Lei, Dinh và Wang [23] còn sử
dụng điện cơ bề mặt trong việc đánh giá các yếu tố nguy cơ ecgônômi liên quan với
công việc nâng nhấc bằng tay. Các yếu tố nguy cơ ecgônômi liên quan với công
việc nâng nhấc bằng tay đã đƣợc các tác giả đánh giá bởi việc so sánh biên độ điện
cơ trung bình của các tín hiệu điện cơ thu đƣợc từ các cơ dựng sống. Kết quả nghiên
cứu cho thấy: Trọng lƣợng của vật nâng, kích thƣớc của hộp, khoảng cách theo
phƣơng nâng ngang, tƣ thế nâng, vị trí của cột sống để phát huy lực, tốc độ nâng là
các yếu tố ảnh hƣởng tới biên độ điện cơ trung bình. Yếu tố đáng kể nhất về mặt
nguy cơ là trọng lƣợng của vật nâng theo vị trí của cột sống để phát huy lực và tốc
độ nâng. Tƣ thế nửa ngồi là tƣ thế tốt nhất đối với công việc nâng nhấc.
Đo điện cơ là một kỹ thuật ghi lại hoạt động điện của cơ. Khi cơ hoạt động
sẽ sinh ra dòng điện. Dòng điện này thƣờng tỉ lệ với mức độ hoạt động của cơ. Đo
điện cơ còn đƣợc gọi là điện cơ đồ. Điện cơ đồ (EMG), dựa trên những thay đổi về
biên độ và tần số, có thể định lƣợng và thƣờng để phân loại mức độ hoạt động điện
đo đƣợc khi có sự căng cơ nhất định. Sự thay đổi này trong tín hiệu điện cơ là dựa
trên sự tập hợp và sự đốt cháy các đơn vị vận động trong cơ đó. Nhìn chung, càng
cần nhiều lực thì càng nhiều đơn vị vận động đƣợc huy động, và các đơn vị vận
động này đã từng đốt cháy làm gia tăng tần số đốt cháy của chúng. Tuy nhiên, phản
ứng này không hoàn toàn giống nhau đối với tất cả các cơ. Sự thể hiện những thay
đổi trong sự tập hợp và những thay đổi trong tỉ lệ đốt cháy có thể cung cấp thông tin
liên quan tới mức độ của lực cơ hoặc là mức độ mệt mỏi của cơ.
Có 2 kiểu đo điện cơ là đo điện bên trong cơ và đo điện ở bề mặt da. Đo điện
bên trong cơ là cách cắm một kim điện cực xuyên qua da vào bên trong cơ để đo
hoạt động điện. Đo điện cơ ở bề mặt bằng cách đặt một điện cực lên bề mặt da (mà
không cắm điện cực vào sâu bên trong cơ) để đo hoạt động điện của cơ. Đo điện
bên trong cơ có thể đƣợc coi là quá xâm lấn hoặc không cần thiết trong một số
trƣờng hợp. Thay vào đó, một điện cực trên bề mặt có thể đƣợc sử dụng để giám sát
các bức tranh chung về kích hoạt cơ, nhƣ trái ngƣợc với hoạt động chỉ có một vài sợi
nhƣ quan sát thấy bằng cách sử dụng đo điện bên trong cơ. Quá trình này cũng không


gây đau đớn cho ngƣời đo điện cơ. Biểu đồ hoạt động của cơ bắp đƣợc thực hiện bởi
một máy tính và phần mềm đƣợc sử dụng để giải thích các tín hiệu từ các cơ.
Giải pháp phòng tránh tổn thƣơng lƣng và tay trong nâng nhấc, kéo, đẩy,
mang vác các vật nặng đƣợc khuyến cáo nhiều nhất là các giải pháp Ecgônômi, bao
gồm thiết kế lại hệ thống lao động, thiết kế lại từng công việc và đào tạo, huấn
luyện cho ngƣời lao động.
Trung tâm An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp Canada (CCOHS) đã đƣa ra
những quy trình chung cho công việc nâng nhấc thủ công [20]. Các bài tập thể dục
đề phòng chống đau lƣng cũng đã đƣợc CCOHS phổ biến [21].
Cuốn “Hƣớng dẫn ecgônômi cho công việc nâng nhấc thủ công” [29] đã
đƣợc khoa Quan hệ công nghiệp California xuất bản năm 2007. Cuốn sách đƣợc
viết cho các nhà quản lý, các giám sát viên trong các ngành công nghiệp có nâng
nhấc vật nặng bằng tay. Nó đƣa ra các gợi ý cải tiến việc cầm nắm những thùng,
hộp, gói hình chữ nhật, hình vuông và hình trụ. Mục đầu tiên của cuốn sách là “cải
thiện việc nâng nhấc vật liệu bằng tay ở chỗ làm việc của ngƣời lao động” trong đó
liệt kê các lợi ích của việc cải thiện công việc cho ngƣời lao động. Nó cũng bao hàm
các thông tin về các yếu tố nguy cơ, các biện pháp cải thiện ecgônômi, hiệu quả của
tập huấn và đƣa ra kế hoạch hành động bốn bƣớc. Kế hoạch đó giúp cho ngƣời lao
động xác định đƣợc những khó khăn, đƣa ra những ƣu tiên, tiến hành các thay đổi
và tiếp tục hoàn thiện. Các phần “lựa chọn cải tiến” đƣa ra các cách để cải tiến việc
nâng, hạ thùng đầy hoặc rỗng hoặc mang vác bởi thay đổi cách thực hành hoặc sử
dụng công cụ bao gồm cả cách thực hành an toàn.
1.3.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, chƣa có công trình nghiên cứu nào xây dựng trọng lƣợng nâng
nhấc cho phép tối đa và nghiên cứu về mối liên quan giữa đau mỏi lƣng với nâng
nhấc vật nặng, chỉ có các điều tra, phỏng vấn đƣa ra tỷ lệ đau mỏi cơ xƣơng khớp
trong đó có thắt lƣng ở các công việc khác nhau. Có thể kể ra các công trình nghiên
cứu điều tra, phỏng vấn đƣa ra tỷ lệ đau mỏi cơ xƣơng khớp dƣới đây:
Trong nghiên cứu của mình, Nguyễn Bạch Ngọc [15] cho rằng, mức độ căng
thẳng và mệt mỏi cơ phụ thuộc rất rõ vào vị trí của tay và đầu, đặc biệt là góc dạng,


gấp cánh tay do gánh nặng vận cơ tĩnh để duy trì tƣ thế của tay tập trung chủ yếu
vào 2 cơ denta và cơ thang. Góc gấp và dạng cánh tay > 600 sẽ làm tăng gánh nặng
đối với các cơ vùng đai vai và gáy. Vị trí căng thẳng nhất và mệt mỏi nhất đối với
các cơ đai vai và cánh tay là khi duy trì tay ở ngang tầm vai ở vùng xa mép bàn nhất
(50cm). Nguyên nhân trực tiếp gây đau mỏi cơ ở đây liên quan tới vấn đề tuần hoàn
máu không đầy đủ đến các cơ quan chủ đạo trong trạng thái tĩnh.
Theo Tạ Tuyết Bình và CS (1996), khi phỏng vấn trực tiếp 98 nữ công nhân
sản xuất gạch tuynen cho thấy: 72% công nhân đau thắt lƣng, 20-38% đau mỏi chi
trên, 34-36% đau mỏi vai, 43% đau mỏi cổ. Nghiên cứu cũng đƣa ra tỷ lệ phải nghỉ
việc, điều trị do đau cấp. Đồng thời phân tích những nguyên nhân, đề xuất phƣơng
pháp cải thiện [2].
Nguyễn Thê Công và CS (2001) phân tích 100 phiếu điều tra cá nhân tại
Liên doanh lắp ráp ô tô ACC cho thấy mức độ phàn nàn về các triệu chứng đau
nhức tại các vị trí trên cơ thể của công nhân ở cả 3 phân xƣởng (PX Hàn, PX Sơn,
PX Lắp ráp) đều ở mức cao và phổ biến. Tỷ lệ tƣơng ứng ở các phân xƣởng lần lƣợt
là 59,38-90,63%, 33,3-72,22%, 21,87-75%. Đặc biệt tỷ lệ công nhân đau nhức vùng
thắt lƣng khá cao: PX Sơn 50%, PX Hàn 34,38%, PX Lắp ráp 28,33% [3].
Dƣơng Khánh Vân (1998) điều tra công nhân hái chè thấy 90,4% đau lƣng,
55-58% đau vai, 54-56% đau đầu gối, 45-48% đau tay và 31-34% đau cổ tay [18].
Nguyễn Ngọc Ngà (2001) điều tra 240 nữ công nhân lao động trên dây chuyền gò
giầy thấy tỷ lệ than phiền đau mỏi cao là thắt lƣng 55%, cổ tay 37%, bàn tay 23%,
cánh tay 10,4%, khuỷu tay 9,6%, cẳng tay 7,5%, lƣng 10,4%, chân 22,1%. Tỷ lệ
đau mỏi cơ xƣơng ở từng vị trí phụ thuộc rất rõ rệt vào tính chất công việc và thiết
kế vị trí lao động của các nhóm công nhân [13].
Nguyễn Thế Công và CS (1998-2000) phỏng vấn 1813 công nhân thuộc 13
cơ sở sản xuất giày thấy: 56,7% nữ công nhân bị đau lƣng, 51,4% đau cổ, 35,7%
đau vai, 39,3% đau thắt lƣng và đau ở tay là 45,7%. Điều tra 1167 công nhân chế
biến thủy sản tại 16 doanh nghiệp toàn quốc thấy tỷ lệ nữ công nhân có triệu chứng
đau mỏi ở các bộ phận cơ thể lớn hơn nam có ý nghĩa thống kê, trong đó: đau thắt
lƣng: 55,0%, lƣng: 57,4%, cổ: 66,9%, vai: 55,6%, ngón tay: 37,3% [4].


Nguyễn Sỹ và CS (1999), phỏng vấn trên 300 công nhân tại 3 mỏ than ở
Quảng Ninh thấy: 41,0% công nhân bị đau cổ tay, 80,1% đau vai, 6,4% đau khuỷu
tay, 35,5% đau ở vùng hông-thắt lƣng. Nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố nguy
cơ và đề xuất biện pháp làm giảm thiểu tình trạng tổn thƣơng xƣơng khớp [17].
Trong những năm gần đây, Trung tâm Y tế Dệt May Việt Nam đã tiến hành
khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho công nhân may toàn
ngành và thấy: tỷ lệ công nhân bị bệnh về cơ xƣơng khớp chiếm 10-20%, trong đó
số công nhân bị đau thắt lƣng chiếm khoảng 70-80% [6].
Phan Hạnh Dung, Nguyễn Đức Trọng (2006) nghiên cứu tình trạng đau mỏi
cơ xƣơng của công nhân một số công ty cơ khí cho thấy đối với công nhân cơ khí
có tới 27 vị trí đau mỏi trên cơ thể ngƣời lao động, trong đó 7 vị trí có tỷ lệ đau mỏi
cao hơn so với những vị trí khác đó là cổ (42,8%), bả vai trái (36,9%), bả vai phải
(41,7%), lƣng (51,8%), thắt lƣng (53,5%), đầu gối trái (46,2%), đầu gối phải
(50,4%). Qua nghiên cứu cũng cho thấy mối liên hệ giữa tƣ thế làm việc với tình
trạng đau mỏi cơ xƣơng của công nhân: đối với công nhân hàn do tƣ thế ngồi để hàn
vì đầu phải cúi nhiều nên tỷ lệ đau mỏi cổ và vùng thắt lƣng khá cao (62,8% và
81,8%) [5].
Nguyễn Đức Hồng và CS [10] đã tiến hành nghiên cứu tại các phân xƣởng
hoàn thành của 5 cơ sở sản xuất giầy ở Hải Phòng. Thông qua phỏng vấn trực tiếp
855 công nhân cho thấy: Hơn 90% vị trí lao động trên dây chuyền hoàn thành có
tính đơn điệu ở mức độ cao; nhịp độ làm việc nhanh, cƣờng độ lao động căng thẳng,
ngày làm việc kéo dài và liên tục. Tỷ lệ đối tƣợng đƣợc khảo sát bị đau mỏi vùng
thắt lƣng trong vòng một năm trƣớc thời điểm điều tra cao nhất (50,6%), tiếp đến là
vùng cổ (47,3%, vùng vai (44,5%). Thâm niên làm việc có ảnh hƣởng đến tình
trạng đau mỏi thắt lƣng, cổ vai, khuỷu tay và bàn/cổ tay theo xu hƣớng thâm niên
làm việc càng nhiều thì tỷ lệ có tổn thƣơng các cơ xƣơng khớp càng cao.


Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- 311 ngƣời lao động nâng nhấc vật nặng bằng tay trong ngành sản xuất vật liệu
xây dựng, nhƣ sản xuất gạch tuynel, gạch men, gạch granit, đồ sứ vệ sinh.
- Các điều kiện liên quan đến hoạt động nâng nhấc nhƣ vật nâng nhấc, thiết
bị sản xuất, không gian làm việc.
- Khảo sát về môi trƣờng lao động, hoạt động lao động, phỏng vấn ngƣời lao
động về tình trạng sức khỏe, đo các chỉ số nhân trắc của ngƣời lao động…
- Thực tế, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tại 4 cơ sở sản xuất gạch tuynel là
công ty gạch Thạch Bàn 2 và Nhà máy gạch tuynel Nam Sách – Hải Dƣơng; Công
ty gạch granit Thạch Bàn; và công ty sứ Thanh Trì.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu và nội dung nghiên cứu chính
Chúng tôi đã áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu mô tả, điều tra cắt ngang.
Bên cạnh việc điều tra phỏng vấn, quan sát, phân tích các thao tác nâng nhấc vật
nặng bằng tay nhƣ công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam đã tiến hành; đề
tài còn sử dụng thiết bị đo EMG bề mặt để đo EMG của nhóm cơ lƣng thẳng, hệ
thiết bị giám sát sự vận động của lƣng (LMM) để đánh giá mức độ nguy cơ tổn
thƣơng lƣng trong các thao tác nâng/hạ khác nhau.
2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu nghiên cứu
2.2.2.1. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu phỏng vấn theo bộ phiếu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ngẫu nhiên đơn theo công thức:
Z2 (1 / 2). p(1-p)
n =
d2
Trong đó:

n là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×