Tải bản đầy đủ

CỘNG ĐỒNG VĂN HÓA XÃ HỘI ASEAN (ASCC)

CỘNG ĐỒNG VĂN HÓA- XÃ HỘI ASEAN (ASCC)
I.

Giới thiệu

Trong tuyên bố ASEAN ngay từ khi ra đời (năm 1967), các nước thành viên đã
thống nhất mục tiêu quan trọng: Hướng tới "thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiếnbộ xã
hội và phát triển văn hóa trong khu vực" và thúc đẩy hợp tác tích cực, hỗ trợ lẫn
nhau về các vấn đề cùng quan tâm trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, kỹ
thuật, và quản lý hành chính nhà nước."
Ngày 7 tháng 10 năm 2003, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua tuyên bố
hòa hợp ASEAN II (Bali Concord II) tại Bali, Indonexia, để thành lập cộng đồng
ASEAN với ba trụ cột chính : Cộng đồng an ninh, cộng đồng kinh tế, cộng đồng
văn hóa-xã hội. Việc xây dựng ASEAN mang tính xã hội, cộng đồng trước hết phải
bắt đầu từ việc xây dựng Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN. Trong tuyên bố Bali
II năm 2003, các quốc gia ASEAN đã khẳng định ba trụ cột của Cộng đồng
ASEAN có mối “quan hệ chặt chẽ và củng cố lẫn nhau” vì mục tiêu thúc đẩy hòa
bình, ổn định và thịnh vượng chung trong khu vực. ASEAN thống nhất trên cơ sở
sự liên kết chặt chẽ về kinh tế sẽ là nền tảng cho việc củng cố đoàn kết, ổn định và
gia tăng quyết tâm chính trị của ASEAN, thu hút các thành viên ASEAN tích cực
tham gia vào các cơ chế liên kết an ninh-chính trị của khu vực. Bên cạnh đó, ASCC

cũng có mối quan hệ với hai trụ cột còn lại. Việc xây dựng ASCC nếu như có tác
động tích cực trong đời sống của nhân dân các nước thành viên thì sẽ giúp ASEAN
tăng cường được vị thế của mình trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị. Chương trình
hành động ASCC cũng đặc biệt ghi nhân rằng “ Cộng đồng văn hóa-xã hội


ASEAN gắn kết một cách bền chặt không thể tách rời với trụ cột an ninh và kinh tế
của Cộng đồng ASEAN”.

II. Mục tiêu và vai trò
1. Mục tiêu
Mục tiêu cơ bản của Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN là góp phần xây
dựng một Cộng đồng ASEAN lấy con người làm trung tâm và có trách nhiệm xã
hội nhằm xây dựng tình đoàn kết, thống nhất bền lâu giữa các quốc gia và dân tộc
ASEAN bằng cách tiến tới một bản sắc chung, xây dựng một xã hội chia sẻ, đùm
bọc và rộng mở với mức sống và phúc lợi của người dân được nâng cao. Nhằm
thực hiện được mục tiêu này, các nhà lãnh đạo ASEAN đã phê duyệt kế hoạch tổng
thể Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN (ASCC) tại Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN lần thứ 14 tổ chức ngày 1/3/2009 tại Thái Lan. Kể từ đó đến nay, ASEAN
đã có nhiều nỗ lực hợp tác trong lĩnh vực Văn hóa-Xã hội nhằm hướng tới xây
dựng một cộng đồng thịnhvượng về kinh tế, đa dạng về văn hóa, ổn định về xã hội.
Đây là kim chỉ nam xuyên suốt tất cả các hoạt động chung của ASEAN trong 45
năm qua, đặc biệt trong các lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, văn hóa và nguồn
tài nguyên thiên nhiên hướng tới phát triển bền vững trong một Cộng đồng
ASEAN hài hòa, hướng tới con người.
2. Vai trò


Như vậy, nhận thức và thực tế chung là ASCC sẽ góp phần thúc đẩy sự ổn
định và phồn thịnh trong khu vực và có vai trò quan trọng trong việc xây dựng
ASEAN trở thành tổ chức mang tính xã hội, cộng đồng. Nhìn chung, có hai ý nghĩa
chính mà thành tố xã hội của việc xây dựng ASCC đóng góp vào việc hình thành
nên cộng đồng ASEAN. Trước hết ở cấp độ quốc gia, xây dựng ASCC sẽ mở rộng
hơn nữa mối quan hệ hợp tác trên lĩnh vực văn hóa-xã hội, đem lại phát triển và
tăng trưởng về phúc lợi xã hội, sự công bằng và thân thiện ở ngay chính tại từng
quốc gia và khu vực Đông Nam Á. Thứ hai là ở cấp độ liên quốc gia, sự hợp tác về
khía cạnh văn hóa-xã hội sẽ tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau một cách tích cực, làm cho
các quốc gia gắn bó với nhau hơn và tránh được những rắc rối tiềm ẩn giữa các
quốc gia vốn có biên giới và tài nguyên kề cận.
Theo cựu Tổng thư kí ASEAN Rodolfo Severino, nếu chúng ta coi Cộng

đồng văn hóa-xã hội như là phương tiện để nâng cao nhận thức về một Đông Nam
Á đồng thuận, để xây dựng nhận thức chung trong khu vực và để thúc đẩy sự hiểu
biết lẫn nhau giữa nhân dân các nước thành viên ASEAN thì phần cốt lõi của Cộng
đồng ASEAN phải là Cộng đồng văn hóa-xã hội. Theo ông, Đông Nam Á không
thể là Cộng đồng an ninh bền vững lâu dài, Cộng đồng kinh tế hiệu quả và cũng
không thể là Cộng đồng ASEAN theo nghĩa đúng nhất và sâu sắc nhất của từ này
nếu như không có Cộng đồng văn hóa-xã hội. Ông tin tưởng rằng đó là nguyên lí
và ở mức độ rộng hơn, sẽ không thể có ý thức về bản sắc khu vực nếu như ASEAN
không dựa trên những giá trị chung. Nếu không chấp nhận hệ thống những giá trị
chung này, ASEAN sẽ không thể giải quyết được vẫn đề rằng các quốc gia thành
viên sẽ tự do hành động, không theo chuẩn mực xử sự như đã thỏa thuận. Và


ASEAN cũng sẽ thấy rằng không thể nâng cao được nhận thức trong nhân dân
ASEAN rằng nó là một cộng đồng.
Với nhận thức về mối liên kết khu vực, các quốc gia thành viên ASEAN đã
nhất trí thông qua bản hiến chương ASEAN để thành lập cộng đồng ASEAN vào
năm 2015 trong đó có Cộng đồng văn hóa-xã hội. Cộng đồng này đóng vai trò là
một trong ba trụ cột hợp tác của ASEAN trong hiện tại và tương lại, cụ thể là:
Thứ nhất: Cộng đồng văn hóa-xã hội là hiện thực hóa Tầm nhìn ASEAN
2020 về hội nhập khu vực nhằm hình thành khu vực ASEAN hòa bình, ổn định,
hiểu biết lẫn nhau, kinh tế-xã hội phát triển đồng đều, giảm bớt khoảng cách giàu
nghèo và chênh lệch kinh tế.
Thứ hai: Cộng đồng văn hóa-xã hội dựa trên sự hội tụ lợi ích của các quốc
gia thành viên nhằm thúc đẩy các nỗ lực làm sâu sắc hơn hội nhập và là tiền đề để
mở rộng liên kết trong các lĩnh vực khác đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế để đưa
ASEAN trở thành khu vực có khả năng cạnh tranh về công nghệ, có nguồn nhân
lực được đào tạo, có mạng lưới các viện nghiên cứu khoa học và công nghệ.
Thư ba: Cộng đồng văn hóa-xã hội sẽ tạo ra cơ chế vẫn chắc cho sự phát
triển bền vững, bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như
nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tạo ra các quy tắc ứng xử và những
biện pháp hợp tác để đối phó và giải quyết ở cấp độ khu vực vẫn đề ma túy, buôn
bán phụ nữ và trẻ em, tội phạm xuyên quốc gia.
Thứ tư: Cộng đồng văn hóa-xã hội sẽ tạo ra cơ chế quản lí với sự tham gia
rộng rãi của nhân dân, trong đó nhân phẩm của con người và lợi ích của cộng đồng
được tôn trọng.


Thứ năm: Cộng đồng văn hóa-xã hội là sự rộng mở nhất quán đặc điểm của
mỗi dân tộc, là sự hòa hợp giữa văn hóa khu vực và văn hóa thế giới với những yêu
cầu mang tính khách quan cũng như những nhu cầu nội tại của chính các quốc gia
thành viên trong đó mọi người được tiếp cận một cách công bằng các cơ hội để
phát triển không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hoặc nguồn gốc
văn hóa-xã hội.
Thứ sáu: Cộng đồng văn hóa-xã hội coi gia đình vững mạnh là đơn vị cơ bản
của xã hội trong đó trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người tàn tật được đặc biệt quan
tâm.
Như vậy việc thành lập Cộng đồng ASEAN nói chung và Cộng đồng văn hóa-xã
hội nói riêng là một thích ứng của ASEAN trước tình hình quốc tế có nhiều biến
động, đó là việc làm cụ thể để hiện thực hóa Tầm nhìn ASEAN 2020. Không
những vậy việc hình thành Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN còn bắt nguồn từ
chính nhu cầu nội tại của các nước ASEAN bởi mỗi nước ngoài đặc điểm văn hóa,
xã hội mang tính truyền thống còn bị ảnh hưởng và bị chi phối bởi các yếu tố bên
ngoài có nguồn gốc văn hóa. Giao lưu văn hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi
ASEAN hơn lúc nào hết cần phải khẳng định bản sắc của riêng mình trong thế giới
đa dạng và luôn biến đổi.

III. CƠ CẤU CỘNG ĐỒNG VĂN HÓA-XÃ HỘI ASEAN
Hội đồng Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN họp ít nhất một năm hai lần và
sẽ do bộ trưởng về văn hóa –xã hội của quốc gia thành viên giữ cương vị chủ tịch
ASEAN chủ trì, mỗi quốc gia thành viên ASEAN sẽ chỉ định một đại diện quốc gia


tham dự cuộc họp của Hội đồng Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN. Hội đồng
Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN sẽ được hỗ trợ bởi các quan chức cao cấp có
liên quan. Trực thuộc Hội đồng Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN có các cơ quan
cấp bộ trưởng chuyên ngành. Theo phụ lục 1 Hiến chương ASEAN, các cơ quan
trực thuộc Hội đồng Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN bao gồm:
1.

Hội nghị Bộ trưởng ASEAN phụ trách Thông tin (AMRI)

• Hội nghị Quan chức cao cấp phụ trách Thông tin (SOMRI)
Các nước thành viên ASEAN tăng cường hợp tác thông tin để giúp xây dựng
một bản sắc ASEAN. Một trong các cơ quan chính của ASEAN hợp tác trong lĩnh
vực thông tin là Uỷ ban ASEAN về Văn hóa và Thông tin (COCI). Được thành lập
vào năm 1978, nhiệm vụ của mình là thúc đẩy hợp tác hiệu quả trong các lĩnh vực
thông tin, cũng như văn hóa, thông qua các dự án và các hoạt động khác nhau của
nó. COCI bao gồm đại diện từ các tổ chức quốc gia như Bộ Ngoại giao, Bộ Văn
hóa - Thông tin, đài phát thanh và mạng lưới truyền hình quốc gia, bảo tàng, lưu
trữ và thư viện, và một số những người khác. Họ gặp nhau mỗi năm một lần để xây
dựng và thông qua các dự án để hoàn thành nhiệm vụ của họ.Hoạt động trong lĩnh
vực thông tin liên quan đến sự phát triển hệ thống máy tính ASEAN và thực hiện
các sát hạch ASEAN ở cấp quốc gia và khu vực trong năm 2009. Nhận thức về
ASEAN cũng được nâng lên qua ASEAN-hành động-và chương trình truyền hình
Tin tức ASEAN, trong đó bao gồm việc trao đổi tin tức về khu vực giữa các đài
truyền hình phát thanh, truyền hình tương ứng trong 15 năm qua. ASEAN hợp tác
trong lĩnh vực phát thanh truyền hình kỹ thuật số, bao gồm cả làm việc hướng tới
một ngày chuyển đổi tương tự, là một hoạt động quan trọng của lĩnh vực thông


tin. Các chuyến thăm của các nhà báo ASEAN sang Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn
Quốc và ngược lại giúp để thiết lập mạng lưới giữa các hoạt động trong lĩnh vực
truyền thông.

2.

Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Văn hóa – Nghệ thuật (AMCA)
• Hội nghị Quan chức cao cấp về Văn hóa và nghệ thuật (SOMCA)

3.

Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục ASEAN (ASED)
• Hội nghị Quan chức cao cấp về Giáo dục (SOM-ED)Giáo dục là nền

tảng xây dựng cộng đồng ASEAN. Giáo dục là cốt lõi của quá trình phát triển của
ASEAN,để tạo ra một xã hội dựa trên tri thức và góp phần vào việc nâng cao khả
năng cạnh tranh của ASEAN. ASEAN cũng xem giáo dục như một phương tiện để
nâng cao nhận thức về ASEAN, truyền cảm hứng và tạo ra một cảm giác thuộc về
Cộng đồng ASEAN, sự hiểu biết về quá trình lịch sử, ngôn ngữ của ASEAN, văn
hóa và các giá trị chung khác.
Tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 11 trong tháng 12 năm 2005, các nhà Lãnh
đạo ASEAN thiết lập hướng đi mới cho sự hợp tác giáo dục trong khu vực khi họ
hoan nghênh quyết định của các Bộ trưởng Giáo dục ASEAN triệu tập cuộc họp
Bộ trưởng Giáo dục các nước ASEAN (ased) một cách thường xuyên. Các nhà lãnh
đạo cũng kêu gọi Bộ trưởng Giáo dục ASEAN tập trung vào việc tăng cường hợp
tác khu vực trong lĩnh vực giáo dục. Là ủy ban để tăng cường hợp tác khu vực
trong lĩnh vực giáo dục, Bộ trưởng giáo dục các nước ASEAN đã xác định được
bốn ưu tiên hợp tác ASEAN về giáo dục sẽ giải quyết, cụ thể là: Thúc đẩy , nâng


cao nhận thức của công dân giữa các nước ASEAN, đặc biệt là thanh niên; Tăng
cường xây dựng bản sắc ASEAN thông qua giáo dục; Xây dựng nguồn nhân lực
trong lĩnh vực giáo dục của ASEAN; và tăng cường mạng lưới trường đại học
ASEAN. Để đạt được kết quả này, các dự án và các hoạt động khác nhau đã và
đang được phát triển ,tổ chức thực hiện các chỉ thị.Trong văn bản của các Bộ
trưởng Đông Nam Á (SEAMEO) của Tổ chức Giáo dục để phát triển nguồn nhân
lực trong khu vực kể từ năm 1965, Bộ trưởng Giáo dục đồng ý rằng các nước
ASEAN trên diễn đàn SEAMEO về giáo dục nên lồng ghép các chương trình và
các hoạt động của mình một cách bổ sung. Các ưu tiên của ASEAN hợp tác về giáo
dục sẽ được thực hiện thông qua sự hợp tác với Trung tâm SEAMEO.ASEAN hợp
tác về giáo dục được giám sát bởi Bộ trưởng của Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục –
họp hằng năm và thực hiện các chương trình , các hoạt động về các vấn đề giáo dục
được thực hiện bởi các quan chức Cao cấp ASEAN về Giáo dục (SOM-ED), mà
báo cáo Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục. SOM-ED cũng giám sát hợp tác giáo dục
đại học, được điều phối bởi Mạng Đại học ASEAN (AUN). AUN đã được thành
lập để phục vụ như một cơ chế ASEAN Thúc đẩy hợp tác giữa các nước ASEAN
các học giả, viện sĩ hàn lâm, và các nhà khoa học trong khu vực, Phát triển học
thuật và nguồn nhân lực chuyên nghiệp trong khu vực, Tăng cường phổ biến thông
tin giữa các nước ASEAN học tập cộng đồng; Nâng cao nhận thức về bản sắc khu
vực và ý thức của cộng đồng ASEAN giữa các nước thành viên.
4.

Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Quản lý thiên tai (AMMDM)
• Ủy ban ASEAN về Quản lý thiên tai (ACDM)


Uỷ ban ASEAN về Quản lý thiên tai (ACDM) được thành lập vào đầu năm
2003 theo quyết định của Ủy ban Thường trực ASEAN (ASC). Cơ chế hoạt động
(theo hình thức của các chuyên gia nhóm) đã tồn tại từ những năm 70 nhưng chỉ
được tăng cường hướng tới năm 2003 với trình độ cao của nhóm các chuyên gia đã
trở thành một ủy ban chính thức. ACDM bao gồm người đứng đầu của các cơ quan
quốc gia chịu trách nhiệm về quản lý thiên tai của các nước thành viên
ASEAN. ACDM nhận trách nhiệm tổng thể trong việc phối hợp và thực hiện các
hoạt động trong khu vực. ACDM học đầu tiên vào tháng 11 năm 2003.
5.

Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Môi trường (AMME)
• Hội nghị Quan chức cao cấp ASEAN về Môi trường (ASOEN): Được
thành lập vào năm 1981
Môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên của ASEAN rất phong phú và

đa dạng. Nửa tỷ người ở các nước ASEAN phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn lực
tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Trong nhiều nước
ASEAN, tài nguyên đất và hệ sinh thái trên cạn dưới sự căng thẳng ngày càng tăng
do dân số ngày càng tăng và mở rộng đất nông nghiệp thành rừng và các khu vực
sinh thái nhạy cảm khác. Điều này càng phức tạp hơn bởi sự ô nhiễm do đẩy mạnh
công nghiệp hóa và đô thị hóa ở các nước thành viên ASEAN. Những vấn đề môi
trường rất phức tạp trong tự nhiên và vượt khỏi biên giới quốc gia kêu gọi hợp tác
khu vực và toàn cầu gia tăng.Các nhà lãnh đạo ASEAN xem bảo vệ môi trường và
việc sử dụng và quản lý bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên là điều cần
thiết để tăng trưởng kinh tế lâu dài và phát triển xã hội của các quốc gia và khu
vực. Tầm nhìn ASEAN 2020 kêu gọi cho "sạch và xanh ASEAN với cơ chế đầy đủ


thành lập để phát triển bền vững để đảm bảo việc bảo vệ môi trường của khu vực,
tính bền vững của các nguồn tài nguyên thiên nhiên của nó và chất lượng cao của
cuộc sống của các dân tộc".
ASEAN công nhận những lợi ích hiệp đồng trong việc giải quyết các vấn đề
chung về môi trường trên cơ sở khu vực và có từ năm 1977 đã phát triển một loạt
các tiểu vùng ASEAN, các chương trình môi trường (ASEP I, II, và III), tiếp theo
là Kế hoạch Hành động Chiến lược về Môi trường năm 1999 -2004 (SPAE). Tầm
nhìn ASEAN 2020 và Chương trình Hành động Viêng Chăn hiện đại 2004-2010
(VAP), sự kế thừa cho Hà Nội Kế hoạch hành động 1999 - 2004 (HPA), đã tiếp tục
xây dựng 12 chiến lược và 55 lĩnh vực chương trình và các biện pháp để đạt được
mục tiêu kép của việc thúc đẩy tính bền vững về môi trường và quản lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên bền vững.
Các Bộ trưởng ASEAN chịu trách nhiệm về môi trường trong tháng 11 năm
2002 đã đồng ý tiếp tục hợp tác khu vực môi trường bằng cách xác định 10 lĩnh
vực ưu tiên sau đây dựa vào Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Kế hoạch phát triển
bền vững thực hiện như sau:


Các vấn đề môi trường toàn cầu,



Đất và cháy rừng và ô nhiễm khói mù xuyên biên giới,



Môi trường biển và ven biển,



Quản lý rừng bền vững,



Quản lý bền vững của công viên tự nhiên và các khu vực được bảo vệ,



Nguồn lực nước ngọt,




Nhận thức công cộng và giáo dục môi trường,



Khuyến khích các công nghệ âm thanh môi trường và sản xuất sạch hơn,



Quản lý môi trường đô thị và quản trị



Phát triển bền vững, theo dõi và báo cáo cơ sở dữ liệu hài hòa.
Như các vấn đề môi trường liên ngành và không liên ngành trong tự nhiên và

có tác động ở cấp khu vực và toàn cầu, nỗ lực phối hợp đã được thực hiện để phối
hợp hoạt động với các cơ quan ngành có liên quan của ASEAN, và các tổ chức khu
vực và quốc tế khác. Vấn đề môi trường đã được đưa vào kế hoạch phát triển của
các ngành khác để đảm bảo rằng các mục tiêu phát triển bền vững thân thiện với
môi trường sẽ đạt được. Ban Thư ký ASEAN đóng một vai trò điều phối và cho
phép quan trọng trong việc lồng ghép các yếu tố môi trường vào các hoạt động phát
triển khác của ASEAN
6.

Hội thảo các bên tiến tới Hiệp định ASEAN về chống ô nhiễm

khói bụi xuyên biên giới (COP)
• Ủy ban dưới COP tiến tới Hiệp định ASEAN về ô nhiễm khói bụi
xuyên biên giới
Được thành lập vào năm 2003 và họp ít nhất mỗi năm một lần.

7.

Hội nghị Bộ trưởng Y tế ASEAN (AHMM)
• Hội nghị Quan chức cao cấp về Phát triển Y tế (AHMM)
Được thành lập vào năm 1980 và họp trong hai năm một lần.


8.

Hội nghị Bộ trưởng Lao động ASEAN (ALMM)
• Hội nghị Quan chức cao cấp về Lao động (SLOM)
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của ASEAN, con người giữ vai trò quan

trọng trong việc thúc đẩy sự chỉ đạo của nền kinh tế và tiến bộ xã hội. Với lực
lượng lao động lớn của ASEAN lên đến 285 triệu, ASEAN công nhận tầm quan
trọng của việc tạo công ăn việc làm, phát triển chất lượng của lực lượng lao động
và cung cấp an sinh xã hội cho người lao động.Từ năm 2000, công việc của
ASEAN về nguồn lao động và con người đã được hướng dẫn bởi chương trình làm
việc của Bộ trưởng Lao động ASEAN (ALM). Chương trình làm việc cung cấp
khuôn khổ để chuẩn bị lực lượng lao động của khu vực phải đối mặt với những
thách thức của toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại. Năm ưu tiên lớn ban đầu
được thiết lập trong Chương trình làm việc trong các lĩnh vực tạo việc làm, giám
sát thị trường lao động, di chuyển lao động, bảo trợ xã hội, và hợp tác ba
bên. Trong tháng năm 2006, các Bộ trưởng Lao động ASEAN đã nhất trí trong
Tuyên bố chung năm 2006 để thêm một lĩnh vực ưu tiên thứ sáu, cụ thể là an toàn
lao động và sức khỏe (OSH), Chương trình làm việc ALM.
Ngoài các ưu tiên trong Chương trình làm việc ALM, ASEAN đã thực hiện
một bước đột phá để giải quyết các vấn đề của người lao động di cư ngày 13 tháng
một năm 2007, khi các nhà lãnh đạo của nó đã ký kết Tuyên bố ASEAN về bảo vệ
và thúc đẩy quyền của lao động di cư. Tuyên bố nhiệm vụ các nước ASEAN để
thúc đẩy bảo vệ việc làm công bằng và thích hợp, trả lương, và truy cập đầy đủ để
làm việc tốt và điều kiện sống cho người lao động di cư. Là một Tuyên bố tiếp
theo, Ủy ban ASEAN về việc thực hiện Tuyên bố ASEAN về Bảo vệ và Thúc đẩy


quyền của lao động di cư (ACMW) triệu tập cuộc họp đầu tiên vào tháng 9 năm
2008. ACMW hiện đang trong quá trình soạn thảo các nhạc cụ ASEAN về bảo vệ
và thúc đẩy người lao động di cư và bắt đầu vòng đầu tiên của các cuộc thảo luận
trong tháng 4 năm 2009 tại Bangkok
• Ủy ban ASEAN triển khai Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy quyền
lợi của người lao động nhập cư.
9.

Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Phát triển nông thông và xóa đói giảm

nghèo (AMRDPE)
• Hội nghị quan chức cao cấp về Phát triển nông thôn và xóa đói giảm
nghèo (SOMRDPE)
ASEAN nỗ lực để đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs)
trong khu vực tiếp tục không suy giảm trong năm được thực hiện. Tại Hội nghị cấp
cao ASEAN lần thứ 14 được tổ chức tại Thái Lan tháng 3 năm 2009, các nhà lãnh
đạo ASEAN, tuyên bố chung về việc đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
trong ASEAN, kêu gọi cho sự phát triển của một lLộ trình các mục tiêu phát triển
thiên niên kỷ. Lộ trình sẽ phục vụ như là một khuôn khổ cho hành động tập thể
giữa các nước thành viên ASEAN để đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
tập trung vào năm lĩnh vực chính, cụ thể là vận động và các mối liên kết, kiến thức,
nguồn lực, chuyên môn và hợp tác khu vực ,các hàng hóa khu vực công cộng.
Để giải quyết các tác động xã hội của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu,
Diễn đàn cấp cao về Giảm dễ bị tổn thương trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng
đã được tổ chức vào tháng 2 năm 2009 tại Ban Thư ký ASEAN. Sự tham dự của
các quan chức chính phủ có liên quan từ các nước ASEAN+ 3 nước và đại diện từ


các tổ chức quốc tế khác nhau, diễn đàn đã đưa ra một số khuyến nghị được thực
hiện ở cả cấp độ quốc gia và khu vực. Là một diễn đàn theo dõi, đánh giá ASEAN
về tác động xã hội của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ được thực hiện
trong nửa cuối năm 2009 với sự hỗ trợ của AusAID.Trong việc giải quyết các vấn
đề liên quan đến phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo và thu hẹp khoảng
cách phát triển trong khu vực, một nỗ lực phối hợp của các nước thành viên trên
tinh thần "ASEAN giúp ASEAN" đã được nhấn mạnh. Những sáng kiến này sẽ bao
gồm các tài liệu thực hành tốt nhất và thách thức của các nước thành viên ASEAN
trong việc thực hiện các chính sách và chương trình phát triển nông thôn và xóa đói
giảm nghèo để tạo điều kiện chia sẻ thông tin giữa các quốc gia thành viên của
mình.Sáng kiến khác nhau được thực hiện theo lĩnh vực này chủ yếu liên quan đến
việc thúc đẩy các hoạt động định hướng cộng đồng và người-với-người tương tác
nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong khu vực. Chúng bao gồm: ASEAN
phong trào thanh niên tình nguyện nông thôn để mang lại các thanh niên tình
nguyện, trở thành chuyên nghiệp trong từng khu vực để hỗ trợ các cộng đồng nông
thôn trong nỗ lực phát triển của họ, ASEAN + 3 trao đổi ban quản trị cá chương
trình xây dựng năng lực của các nhà lãnh đạo thôn giữa các nước thành viên trong
thúc đẩy phát triển ở khu vực nông thôn thông qua xây dựng mạng lưới, nâng cao
kiến thức thông qua các chuyến thăm nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm, và chia
sẻ thực hiện tốt nhất của Thái Lan trên các Chương trình Baan Mankong, đó là một
"thành phố không có nhà ổ chuột" toàn thành phố chương trình phát triển nhà ở,
các cơ sở khác và các chương trình phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, như One
Tambon Một sản phẩm (OTOP), đô thị cộng đồng và Quỹ Village (UCVF) và Quỹ
Kinh tế Túc.


10.

Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Phúc lợi xã hội và Phát triển
(SOMRDPE)
• Hội nghị Quan chức cao cấp về Phúc lợi xã hội và Phát triển
(SOMSWD).

ASEAN công nhận rằng mặc dù có những thành tựu kinh tế, chênh lệch kinh
tế - xã hội vẫn còn tồn tại. Nhiều công việc đã được thực hiện để nâng cao chất
lượng cuộc sống của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong khu vực.Trong bối
cảnh này, Tuyên bố Bali II Concord các Nhà Lãnh đạo ASEAN trong Hội nghị
thượng đỉnh ASEAN năm 2003 cam kết Cộng đồng ASEAN để thúc đẩy hợp tác
trong phát triển xã hội nhằm nâng cao tiêu chuẩn sống của các nhóm có hoàn cảnh
khó khăn và dân số nông thôn, và tìm kiếm sự tham gia tích cực của tất cả các
thành phần của xã hội, đặc biệt là phụ nữ, thanh niên, và các cộng đồng địa
phương. ASEAN cũng nhấn mạnh về sự cần thiết để giải quyết các vấn đề liên
quan đến già của người dân trong khu vực, như các vấn đề không chỉ cần đáp ứng
xã hội, nhưng cũng có thể có ý nghĩa kinh tế.
Hợp tác ASEAN trong lĩnh vực phúc lợi xã hội và phát triển tiếp tục nỗ lực
của mình trong việc giải quyết các rủi ro xã hội phải đối mặt với trẻ em, phụ nữ,
người già và người khuyết tật. Theo phúc lợi xã hội và phát triển chương trình công
tác 2003 - 2006, ASEAN đã hoàn thành một số hoạt động giải quyết những mối
quan tâm cho người cao tuổi, chăm sóc trẻ em sớm và phát triển, và người khuyết
tật, và trong việc xây dựng mối quan hệ đối tác NGO-tổ chức phi chính phủ.


Trong năm 2007, chương trình công tác hợp tác ASEAN trong phúc lợi xã
hội và phát triển cho năm 2007 - 2010 đã được ban hành. Chương trình làm việc
mới làm nổi bật ba chiến lược để mang lại cùng các nước thành viên ASEAN trong
bối cảnh khu vực để giải quyết các phúc lợi xã hội, gia đình và các vấn đề của trẻ
em. Những chiến lược này bao gồm xây dựng năng lực về nguồn nhân lực, tài liệu
hướng dẫn các tiêu chuẩn, tiêu chuẩn cho các dịch vụ chất lượng, và quan hệ đối
tác và hợp tác liên ngành.
Tất cả các hoạt động được thực hiện dưới sự hợp tác ASEAN về phúc lợi xã
hội và phát triển trong khuôn khổ của Hội nghị quan chức cao cấp về phúc lợi xã
hội và Phát triển (SOMSWD). Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Phúc lợi Xã hội và
Phát triển (AMMSWD), họp ba năm một lần, giám sát công việc tổng thể dưới sự
hợp tác. Ngoài ra, trong khuôn khổ hợp tác ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, và
Hàn Quốc (+ 3) Hội nghị ASEAN + 3 về

Phúc lợi Xã hội và Phát triển

(AMMSWD +3) được thành lập vào năm 2004. AMMSWD được triệu tập trở lại
với AMMSWD+3 và SOMSWD được triệu tập trở lại với SOMSWD+3.
11.

Hội nghị cấp Bộ trưởng ASEAN về Thanh niên (AMMY)
• Hội nghị Quan chức cao cấp về Thanh niên (SOMY)
Tuyên bố Cebu The ASEAN lần thứ 12 Hội nghị thượng đỉnh của Hướng tới

một cộng đồng chia sẻ khuyến khích lớn hơn sự hợp tác thể chế trong việc thúc đẩy
ASEAN nhận thức đặc biệt giữa các thế hệ trẻ, và thúc đẩy sự tham gia ngày càng
tăng của thanh niên và sinh viên ASEAN trong các hoạt động quốc gia và khu vực
để cung cấp cho họ một cơ hội để đóng góp giá trị hướng tới việc đạt được của
Cộng đồng ASEAN. Trong thời gian hội nghị, các nhà lãnh đạo đã đồng ý để


chuẩn bị thanh niên ASEAN cho các lãnh đạo khu vực và tăng cường khả năng
cạnh tranh của các dân tộc Đông Nam Á thông qua giáo dục.
Chương trình Hành động Viêng Chăn (VAP) kêu gọi sự tham gia tăng của
thanh niên trong lực lượng lao động sản xuất, và khuyến khích tinh thần kinh
doanh của họ và nhận thức về việc làm, lãnh đạo và khu vực. Ưu tiên hợp tác thanh
niên được nhấn mạnh trong phần VAP trên ASCC, theo các động lực chiến lược
"Xây dựng một cộng đồng các xã hội đùm", "Quản lý các tác động xã hội của hội
nhập kinh tế" và "Thúc đẩy một bản sắc ASEAN".
ASEAN hợp tác về thanh thiếu niên được giám sát ở cấp Bộ trưởng bởi một
hội nghị bộ trưởng ASEAN về giới trẻ, họp hai năm một lần. Việc thực hiện các
chương trình và hoạt động về các vấn đề thanh niên được thực hiện bởi các quan
chức cao cấp ASEAN về thanh niên (SOMY), báo cáo cho Hội nghị Bộ trưởng
ASEAN về thanh niên (Ammy).Hội nghị Bộ trưởng cuối cùng về Ammy 5, đã
được tổ chức tại Singapore vào ngày 26 tháng 4 năm 2007.
Thanh niên hợp tác trong ASEAN được đạo diễn bởi chương trình làm việc
chuẩn bị thanh niên ASEAN phát triển bền vững, được xem xét và thông qua trong
Ammy 4 trong tháng 9 năm 2003. Chương trình làm việc phục vụ như là kênh
chính để theo đuổi hợp tác ASEAN trong phát triển thanh niên, và vạch ra bốn lĩnh
vực ưu tiên sau: Chính sách phát triển; Thúc đẩy ASEAN nâng cao nhận thức và
trách nhiệm công dân, húc đẩy việc làm của thanh niên, và trao đổi thông tin , thúc
đẩy quan hệ đối tác.Nhiều hoạt động đã được tiến hành để thực hiện chương trình
làm việc. Ngày hội thanh niên ASEAN (AYDM) và Youth Day ASEAN, giải


thưởng đã được tổ chức trong những năm qua. Các hoạt động sau đây đã được tổ
chức trong năm 2006:
-

Các AYDM lần thứ 13 được tổ chức tại Kuala Lumpur vào ngày 6-7 tháng

11 năm 2006, kết hợp với chủ đề "ASEAN và Thanh thiếu niên".
-

Giai đoạn thứ hai của "Chương trình Phát triển thanh niên ASEAN lãnh đạo"

được tổ chức bởi Malaysia vào ngày 25-ngày 29 tháng 3 năm 2007, thúc đẩy các
khái niệm về thanh niên lãnh đạo, xây dựng chính sách và các tình nguyện viên
thanh niên.
-

Các Hội thảo "Xây dựng năng lực khu vực để thúc đẩy thanh niên-khởi

xướng (ICT) doanh nghiệp" được tổ chức bởi Myanmar tại Yangon vào ngày 07ngày 09 tháng 3 năm 2007 và nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng
năng lực cho các quan chức chính phủ và các nhà doanh nghiệp trẻ để thúc đẩy tinh
thần kinh doanh thanh niên.
12.

Hội nghị ASEAN về các vấn đề Công vụ (ACCSM)

13.

Trung tâm ASEAN về đa dạng sinh học (ACB)

14.

Trung tâm điều phối ASEAN Hỗ trợ nhân đạo trong quản lý

thiên tai (AHA Centre)
15.

Trung tâm Thông tin động đất ASEAN

16.

Trung tâm Khí tượng ASEAN (ASMC)

17.

Mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN)

18. Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Khoa học và Công nghệ (AMMST)


Khoa học, công nghệ và đổi mới có thể là yếu tố quyết định mạnh mẽ và có
khả năng phát triển kinh tế, các chương trình giáo dục và bảo vệ môi trường. Quan
điểm này được chia sẻ bởi các nhà lãnh đạo ASEAN đã công nhận khoa học và
công nghệ (S & T) là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì tăng trưởng kinh tế,
tăng cường cộng đồng và thúc đẩy hội nhập trong ASEAN. Các nhà Lãnh đạo đã
hình dung vào năm 2020 rằng ASEAN sẽ là công nghệ cạnh tranh, có thẩm quyền
trong công nghệ chiến lược và cho phép, với bể bơi đầy đủ nhân lực trình độ kỹ
thuật và đào tạo, và mạng lưới mạnh mẽ của các tổ chức khoa học và công nghệ và
các trung tâm. Để thúc đẩy xây dựng S & T mạnh mẽ cơ sở cho ASEAN như là
một nền kinh tế tích hợp duy nhất, và để đảm bảo ASEAN duy trì sự cạnh tranh
toàn cầu, các nước thành viên ASEAN phải di chuyển lên các bậc thang công nghệ
và tập trung vào nâng cao năng lực cho đổi mới công nghệ trong nhiều lĩnh
vực. Nhiệm vụ này, tuy nhiên, không phải là dễ dàng đối với ASEAN, một nhóm
mười nước đang phát triển với phương sai lớn trong mức độ khả năng của khoa học
và công nghệ, đã di chuyển hợp tác về phía trước và thúc đẩy hội nhập ngày càng
sâu rộng. ASEAN cũng cần phải nâng cao nhận thức của người dân trong những
hoạt động S & T và vai trò, những đóng góp của nó đối với phát triển kinh tế bền
vững và cung cấp cách thức và phương tiện để đổi mới. Sự tham gia của các yếu tố
cụ thể trong cộng đồng ASEAN như khu vực tư nhân trong S & T , đặc biệt là
trong nghiên cứu và phát triển công nghệ và thương mại hóa các công nghệ cũng
phải được thúc đẩy.
Để đảm bảo rằng các hợp tác KH & CN trong khu vực ASEAN vẫn còn có
liên quan và hỗ trợ các chỉ thị của Ban Quản Trị ASEAN và Bộ trưởng S & T, một
loạt các kế hoạch hành động trong khoa học và công nghệ đã được phát triển từ các


Ủy ban ASEAN về khoa học và công nghệ (COST) đã được thành lập trong năm
1978. Kế hoạch gần đây nhất: Kế hoạch hành động hành động về Khoa học và
Công nghệ (APAST) 2007-2011 đã được xác nhận bởi S & T Bộ trưởng ASEAN
trong tháng 2 năm 2007. Kế hoạch này đã được phát triển có tính đến các chỉ thị
khác nhau và các sáng kiến của các nhà Lãnh đạo ASEAN (ví dụ như Chương trình
Hành động Viêng Chăn), và S & T Bộ trưởng, Ủy ban Khoa học và Công nghệ
(COST) và các quốc gia kế hoạch KH & CN trong các nước thành viên
ASEAN. Lập kế hoạch, trong đó xác định 6 đột phá và 24 hành động hỗ trợ, chủ
yếu cung cấp các hướng dẫn phù hợp để xác định và xây dựng các chương trình, dự
án để đạt được sự phối hợp và hợp tác tốt hơn để tăng cường khả năng của S & T
trong ASEAN.
The S & T hiện tại hợp tác trong ASEAN tập trung trên 9 khu vực chương
trình, cụ thể là: khoa học thực phẩm và công nghệ công nghệ sinh học, khí tượng
và địa vật lý,biển khoa học và công nghệ, phi truyền thống năng lượng nghiên cứu,
điện tử và công nghệ thông tin, khoa học vật liệu và công nghệ,các ứng dụng công
nghệ vũ trụ, và cơ sở hạ tầng KH & CN và phát triển nguồn. Phối hợp và thực hiện
các hoạt động trong từng lĩnh vực, một tiểu ban được thành lập.
Cơ cấu tổ chức
Khoa học và Công nghệ Hợp tác ASEA N
Từ viết tắt:
Body ABAPAST: Tư vấn về ASEAN Kế hoạch hành động về Khoa học và Công
nghệ


ABASF: Tư vấn Body of
AMMST Quỹ Khoa học ASEAN : Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Khoa học &
Công nghệ
ASEAN-Trung Quốc JSTC: Liên Ủy ban Khoa học và Công nghệ
ASEAN-Ấn Độ WGST: Nhóm làm việc Khoa học và Công nghệ
ASEAN-Nga WGST: Nhóm công tác về Khoa học và Công nghệ
ASEAN-EC JCCSCST: Hợp tác Ủy ban hỗn hợp Tiểu ban
CHI PHÍ Khoa học và Công nghệ ASEAN +3: Ủy ban về Khoa học và Công nghệ
Cộng Ba
CHI PHÍ: Ủy ban Khoa học và Công nghệ
SCB : Tiểu ban Công nghệ sinh học
SCFST: Tiểu ban Thực phẩm Khoa học và Công nghệ
SCIRD: Tiểu ban Cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn lực
SCMG: Tiểu ban Khí tượng và Địa vật lý
SCMIT: Tiểu ban về vi điện tử và Công nghệ thông tin
SCMSAT: Tiểu ban Marine Khoa học và Công nghệ
SCMST: Tiểu ban Khoa học Vật liệu và Công nghệ
SCNCER: Tiểu ban nghiên cứu năng lượng phi truyền thống
SCOSA: Tiểu ban Công nghệ Không gian và ứng dụng


Để cung cấp các dịch vụ công cộng tốt hơn cho ASEAN và các cơ quan
chính phủ trong lĩnh vực khí tượng và địa chấn học, hai trung tâm ASEAN đã được
thành lập, đó là trung tâm khí tượng chuyên ngành ASEAN (ASMC) trung tâm
thông tin động đất ASEAN (AEIC).
ASEAN đang tích cực theo đuổi hợp tác chặt chẽ trong S & T với các nước
đối thoại và các đối tác đối thoại ngành.Một số cơ quan thường trực đã được thành
lập với các nước đối thoại của ASEAN như Trung Quốc, Ấn Độ, EU và Nga, và
cũng với ba nước Cộng. Các cuộc họp thường xuyên trong số S & T cán bộ từ các
nước ASEAN và các đối tác đối thoại được triệu tập để thúc đẩy hợp tác chặt chẽ
hơn. Ngoài ra, ASEAN cũng tiếp tục chặt chẽ hợp tác KH & CN với các tổ chức
quốc tế như UNESCO và Tổ chức Khí tượng thế giới.Để tiếp tục thúc đẩy sự nhận
thức của công chúng hợp tác S & T trong ASEAN, và tăng cường các tương tác
giữa các cộng đồng khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các ngành công
nghiệp và các hiệp hội nhà sản xuất, ASEAN tổ chức thường xuyên KH & CN các
sự kiện cụ thể là hội nghị thực phẩm ASEAN (AFC),khoa học ASEAN, tuần lễ
Công nghệ (ASTW ). Các kết quả công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các
nhà khoa học và các nhà nghiên cứu ASEAN cũng được công bố thường xuyên
trên tạp chí ASEAN của S & T cho phát triển (AJSTD). Theo thời gian, ASEAN
cũng phát hành các ấn phẩm khác nhau.
IV. Cơ chế hoạt động
Tầm nhìn 2020 đã nêu ý tưởng về một cộng đồng khu vực có những nhân tố
sau: nhận thức rõ về các mối quan hệ lịch sử, di sản văn hóa, gắn bó với nhau bởi
bản sắc khu vực được tăng cường; gắn kết về đùm bọc nhau về mặt xã hội, trong


đó nghèo đói, suy dinh dưỡng không còn là vấn đề lớn; gia đình, đơn vị cơ bản của
xã hội, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đặc biệt là trẻ em, thành niên, phụ nữ và người
già; quyền năng của xã hội dân sự được tăng cường; những người khuyết tật và bất
lợi được quan tâm đặc biệt; công bằng xã hội và nền pháp trị được đề cao; không
có ma túy; có khả năng cạnh tranh cao; một ASEAN xanh và sạch; có sự tham gia
nhiều hơn của người dân, tập trung vào vấn đề phúc lợi và nhân phẩm của con
người...
Dựa vào đó, các nước ASEAN đã nhất trí sẽ xây dựng Cộng đồng xã hội-văn
hóa nhằm mục tiêu thúc đẩy hình thành ý thức về bản sắc khu vực, nhận thức về
khu vực và xây dựng sự hiểu biết lẫn nhau trong nhân dân các nước ASEAN. Cộng
đồng xã hội-văn hóa sẽ tạo thuận lợi cho việc hình thành Cộng đồng an ninh cũng
như Cộng đồng kinh tế. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN-9 (tháng 10/2003), các nhà
Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố hòa hợp ASEAN II (Tuyên bố Bali II), quyết
định lập Cộng đồng Xã hội-văn hóa ASEAN.
Tuyên bố hòa hợp ASEAN II khẳng định: Thực hiện mục tiêu nêu trong
Tầm nhìn 2020 là xây dựng một cộng động các xã hội đùm bọc lẫn nhau; Hợp tác
trong lĩnh vực phát triển xã hội nhằm nâng cao đời sống của các nhóm người có
hoàn cảnh bất lợi, người dân ở nông thôn; Đảm bảo để những người lao động trong
khu vực được chuẩn bị sẵn sàng và được hưởng lợi từ tiến trình liên kết kinh tế khu
vực, thông qua việc đầu tư thêm nguồn lực cho giáo dục tiểu học và cao đẳng, đào
tạo, phát triển khoa học và công nghệ, tạo công ăn việc làm và được đảm bảo về
mặt xã hội; Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực y tế, bao gồm cả việc phòng, chống
các bệnh truyền nhiễm như HIV/AIDS và SARS và ủng hộ các nỗ lực khu vực để


người dân có thể tiếp cận nhiều hơn đối với các loại thuốc thông thường; Bồi
dưỡng nhân tài, thúc đẩy giao lưu giữa các học giả, văn nghệ sĩ, những người làm
trong ngành truyền thông để bảo tồn và nâng cao giá trị của các di sản văn hóa đa
dạng, đồng thời xây dựng bản sắc khu vực, nhận thức của người dân về ASEAN;
Tăng cường hợp tác để giải quyết những vấn đề liên quan tới tăng trưởng dân số,
thất nghiệp, môi trường xuống cấp và ô nhiễm xuyên biên giới, quản lý thiên tai.
Mục tiêu cơ bản của Kế hoạch Tổng thể ASCC là góp phần xây dựng một
Cộng đồng ASEAN lấy con người làm trung tâm và có trách nhiệm xã hội nhằm
xây dựng tình đoàn kết và thống nhất bền lâu giữa các quốc gia và dân tộc ASEAN
bằng cách tiến tới một bản sắc chung và xây dựng một xã hội chia sẻ, đùm bọc, hòa
thuận và rộng mở nơi mà cuộc sống, mức sống và phúc lợi của người dân được
nâng cao. Kế hoạch Tổng thể ASCC cũng tập trung vào khía cạnh xã hội của Thu
hẹp Khoảng cách Phát triển (NDG) nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các
nước thành viên.
- Kế hoạch Tổng thể ASCC gồm có 6 đặc tính: Phát triển con người, Phúc
lợi và bảo hiểm xã hội,Các quyền và bình đẳng xã hội,Đảm bảo môi trường bền
vững, Tạo dựng bản sắc ASEAN và Thu hẹp khoảng cách phát triển và 40 thành tố
cùng với 340 biện pháp cần được thực hiện trong giai đoạn 2009-2015 cũng như
thể chế thực hiện và giám sát.
Hành động ASEAN
Để thực hiện Kế hoạch Tổng thể xây dựng Cộng đồng Văn hóa-Xã hội
ASEAN, ASEAN đã và đang triển khai hàng loạt biện pháp tập trung chủ yếu trên
6 lĩnh vực sau.


Về phát triển nguồn nhân lực: Các nước ASEAN khuyến khích phát triển
giáo dục suốt đời và sử dụng ICT như là những phương tiện thúc đẩy nền giáo dục
ASEAN và nâng cao nhận thức về ASEAN. Nhiều dự án khác nhau dành cho các
trường tiểu học và trung học cơ sở đã được thực hiện như xây dựng một chương
trình giảng dạy về ASEAN để các giáo viên tiểu học và trung học tham khảo, tổ
chức thành công cuộc thi Ô-lym-píc thể thao cho học sinh tiểu học ASEAN lần thứ
hai tại Gia-các-ta. Diễn đàn Các Hiệu trưởng Trường học ở Đông Nam Á lần đầu
tiên đa được tổ chức vào tháng 8/2008 nhằm tăng cường mạng lưới và sự hợp tác,
phối hợp giữa các thầy hiệu trưởng trong khu vực.
Về phúc lợi và bảo trợ xã hội: Hợp tác y tế ASEAN tập trung vào những
vấn đề liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như ngăn ngừa và kiểm soát bệnh dịch
truyền nhiễm, HIV và AIDS, và các bệnh dịch truyền nhiễm mới nổi khác. Hội
nghị đặc biệt của các Bộ trưởng Y tế ASEAN+3 về dịch cúm A-H1N1 được tổ
chức tại Băng-cốc vào tháng 5/2009 thể hiện quyết tâm và cam kết chung về các
biện pháp ngăn chặn đại dịch này. Trong lĩnh vực HIV/AIDS, ASEAN đã thực
hiện một số hoạt động chính của Chương trình Công tác ASEAN giai đoạn II về
HIV và AIDS (2006-2010) do UNAIDS, UNDP, USAID và các đối tác khác hỗ
trợ.
Về quyền và công bằng xã hội: Dự thảo TOR của Ủy ban bảo vệ và thúc
đẩy quyền của phụ nữ và trẻ em ASEAN đã được ASEAN thảo luận tại các cuộc
họp của Nhóm Công tác về vấn đề này. Ủy ban ASEAN thực hiện Tuyên bố về bảo
vệ và thúc đẩy quyền của lao động nhập cư được thành lập vào tháng 9/2008 đang


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×