Tải bản đầy đủ

TIỂU LUẬN ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO CÁC DẠNG ĐỊA HÌNH DÒNG CHẢY TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA LÝ

Tiểu luận
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO CÁC DẠNG ĐỊA HÌNH DÒNG CHẢY
TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT

Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Hiệu
Sinh viên: Lê Thị Hồng Phượng
Lớp: K1 bằng kép

Hà Nội, 02/2014


Mục lục
Mục lục ............................................................................................................................2
1. Tổng quan nghiên cứu địa mạo đối với quản lý và sử dụng đất đai. ...........................3
1.1. Một số khái niệm liên quan. .................................................................................3
1.1.1 Đất đai và đơn vị đất đai .................................................................................3
1.1.2 Đánh giá đất ...................................................................................................3

1.1.3 Quy hoạch sử dụng đất ..................................................................................3
1.1.4 Quản lý đất đai (land management) ...............................................................4
1.1.5 Địa mạo học ....................................................................................................5
1.2 Nghiên cứu địa mạo phục vụ quản lí đất đai ........................................................5
2. Hoạt động địa mạo của nước trên mặt và địa hình do nó tạo thành. ...........................8
2.1. Hoạt động của nước chảy trên mặt. ......................................................................8
2.2. Dòng chảy tạm thời. .............................................................................................9
2.2.1. Dòng chảy tạm thời. ......................................................................................9
2.2.2. Dòng chảy tạm thời ở đồng bằng. ...............................................................10
2.2.3. Dòng chảy tạm thời ở miền núi. ..................................................................11
2.2.4. Ý nghĩa của địa hình dòng chảy tạm thời đối với việc sử dụng đất ............11
2.3. Dòng chảy thường xuyên. ..................................................................................12
2.3.1. Thung lũng sông ..........................................................................................12
2.3.2. Đặc điểm hình thái lòng sông. .....................................................................13
2.3.3. Bãi bồi. ........................................................................................................15
2.3.4. Bậc thềm sông. ............................................................................................16
2.3.5. Cửa sông. .....................................................................................................16
3. Đánh giá và sử dụng đất theo đặc điểm địa mạo của các dạng địa hình dòng chảy. 17

2


1. Tổng quan nghiên cứu địa mạo đối với quản lý và sử dụng đất đai.
1.1. Một số khái niệm liên quan.
1.1.1 Đất đai và đơn vị đất đai
- Đất đai (land): là một tổ hợp các dạng tài nguyên thiên nhiên dược đặc
trưng bởi một lãnh thổ, một chất lượng của các loại đất, bởi một kiểu khí hậu, một
dạng địa hình, một chế độ thủy văn, một kiểu thảm thực vật…Là một cơ sở không gian
(đơn vị lãnh thổ) của việc bố trí các đối tượng sản xuất, định cư và là phương tiện sản
xuất mà trước hết và rõ nhất là kinh tế nông- lâm ngư nghiệp với dân cư và xây dựng
dân dụng.v.v…Khi nói đến đơn vị đất đai có nghĩa là một bộ phận không gian lãnh thổ
đó đã kèm theo người sở hữu hoặc người có quyền sử dụng và quản lý nó.
- Đơn vị đất đai (land unit): là một khoanh đất cụ thể được thể hiện trên
bản đồ, có những đặc tính và tính chất tương đối đồng nhất mà nhờ đó có thể phân biệt
được ranh giới giữa nó với các khoanh đất khác.
1.1.2 Đánh giá đất
Đánh giá đất theo FAO là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có
của khoanh đất (vạt đất) cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng
đất yêu cầu cần phải có.
Đất đai được định nghĩa như một khoanh đất được xác định về vị trí địa lý, là

một phần diện tích bề mặt Trái Đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay
đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường bên trên, bên trong và bên
dưới bề mặt của nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và
động vật cư trú, những hoạt động tác động tác động từ trước và hiện tại của con người,
ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng khoanh
đất đó trong hiện tại và tương lai.
Kết quả của việc đánh giá đất đai cho phép xác định tiềm năng sản xuất của đất
đai và là cơ sở, căn cứ cho việc quy hoạch sử dụng đất, phục vụ cho việc định hướng
sử dụng đất. Ngoài ra, kết quả đánh giá đất còn là cơ sở cho việc xây dựng các dự án
đầu tư sản xuất và đề xuất các biện pháp khoa học kỹ thuật phù hợp với điều kiện của
địa phương.
1.1.3 Quy hoạch sử dụng đất
Đất đai là nguồn tài nguyên, nguồn lực vô cùng quý giá của mỗi quốc gia,
tuy nhiên nó lại là nguồn tài nguyên có hạn.
Theo Điều 6 của Luật đất đai năm 2003 xác định một trong những nội
dung quản lý nhà nước về đất đai là quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất.
3


Hiểu theo nghĩa thông thường quy hoạch sử dụng đất là sự phân bổ, bố trí đất
đai cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước và
từng địa phương trong một giai đoạn nhất định ở tương lai.
Hiểu theo nghĩa rộng, quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế,
kỹ thuật, pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và
có hiệu quả cao; thông qua việc phân bổ quĩ đất đai cho các mục đích sử dụng và tổ
chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo
điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.
Việc quy hoạch đất đai thường được lập cho thời kỳ 10 năm và định hướng 20
năm, mỗi một thời kỳ lại gồm 2 giai đoạn 5 năm. Quy hoạch phải dựa theo những đặc
điểm tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của
từng địa phương, từ đó đưa ra cơ cấu đất đai hợp lý, phân bổ đất đai cho các mục đích
sử dụng, các ngành kinh tế, làm cơ sở tiến hành giao đất cho đầu tư và phát triển sản
xuất, phục vụ các nhu cầu văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường.
1.1.4 Quản lý đất đai (land management)
Quản lý đất đai là quá trình quản lý việc sử dụng và phát triển tài nguyên đất
đai. Tài nguyên đất đai được sử dụng cho nhiều mục đích, có thể bao gồm nông
nghiệp hữu cơ, trồng rừng, quản lý tài nguyên nước và các dự án du lịch sinh thai.
Địa Chính là một khoa học về quản lý nhà nước đối với đất đai. Theo Luật Đất
đai hiện hành quy định tại Điều 6, những nội dung chính trong quản lý đất đai bao
gồm 13 nội dung thuộc 5 nhóm như sau:
- Nhóm nhiệm vụ xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật về đất đai:
+ Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
+ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai
và xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai.
+ Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi
phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.
-

Nhóm nhiệm vụ xây dựng và thực thi hệ thống quy hoạch sử dụng đất đai:
+ Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai.
+ Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

-

Nhóm nhiệm vụ xây dựng và thực thi hệ thống tài chính đất đai:
+ Quản lý tài chính về đất đai.

4


+ Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động
sản.
-

Nhóm nhiệm vụ xây dựng và thực thi hệ thống hành chính đối với đất đai:
+ Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
+ Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
+ Xác định ranh giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập

bản đồ hành chính.
+ Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
-

Nhóm nhiệm vụ kỹ thuật phục vụ quản lý đất đai:
+ Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện

trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất đai.
+ Thống kê, kiểm kê đất đai.
Như vậy, quản lý nhà nước về đất đai bao gồm tất cả 13 nội dung được phân
thành 5 nhóm. Trong đó, nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến những nghiên cứu địa mạo
thuộc nhóm nhiệm vụ kỹ thuật phục vụ quản lý đất đai, cụ thể là phục vụ cho việc
khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất đai.
1.1.5 Địa mạo học
Địa mạo học là một bộ môn khoa học nghiên cứu địa hình bề mặt Trái Đất về
các mặt: hình thái, nguồn gốc phát sinh, lịch sử phát triển và động lực học ở hiện tại và
tương lai.
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của Địa mạo học chính là địa hình, bao gồm tất
cả các mặt từ hình thái địa hình, nguồn gốc địa hình cho đến lịch sử phát triển địa hình,
trong đó có cả động lực phát triển địa hình ở hiện tại cũng như dự đoán trong tương
lai.
Thuật ngữ “Địa mạo học” đã được đưa vào văn liệu các khoa học về Trái đất từ
cuối thế kỷ XIX, sau khi xuất hiện những công trình nghiên cứu tổng quát nổi tiếng
của các nhà địa lí và địa chất, như Powell, Gilbert, Davis, Richthofen, A.Penck và nhất
là của W.Penck, khoa học địa mạo mới được hình thành như ngày nay.

1.2 Nghiên cứu địa mạo phục vụ quản lí đất đai
Công tác quản lý đất đai nói chung là một công việc phức tạp liên quan đến
nhiều vấn đề như: sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên đất, giảm thiểu tai biến thiên
nhiên, phát triển bền vững, xây dựng, quy hoạch… Những vấn đề này đều có sự liên
5


quan hoặc ít hoặc nhiều, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đến địa hình, hay nói cách khác
là có liên quan đến đối tượng và những kết quả nghiên cứu của khoa học địa mạo.
Trước hết phải nói rằng, địa hình là một trong những cơ sở cho việc phân ranh
giới giữa các vùng lãnh thổ. Việc phân chia địa giới hành chính thông thường được
dựa theo yếu tố tự nhiên, dân cư, xã hội. Tuy nhiên, để dễ dàng cho công tác quản lý
đất đai nói chung và việc lập kế hoạch quy hoạch sử dụng đất cho từng vùng, yếu tố tự
nhiên sẽ được ưu tiên để xác lập ranh giới các vùng. Ranh giới đó có thể là một dãy
núi, một con sông… Một vùng lãnh thổ thường sẽ có một đặc điểm địa lý chung và nổi
bật nhất. Mặt khác những kiến thức về địa mạo sẽ giúp ích cho việc đo vẽ địa hình
phục vụ cho mục đích địa chính.
Giữa thổ nhưỡng và địa hình luôn có một mối quan hệ mật thiết. Cảnh quan địa
mạo quyết định rất nhiều đến loại thổ nhưỡng được thành tạo. Một loại đất thuộc một
dạng địa hình nhất định có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của loại đất đó. Ví dụ,
cùng là đất đồng bằng nhưng đất trên bãi bồi sẽ tốt hơn do có độ phì tốt hơn so với đất
trên bậc thềm sông; đất hình thành trên đá magma bao giờ cũng có độ phì tự nhiên cao
hơn so với đất trên đá trầm tích. Song song với việc phân tích đặc điểm địa mạo, các
nhà quản lý – quy hoạch đất đai cũng cần xem xét thổ nhưỡng trong mối tương quan
với những hợp phần tự nhiên khác như khí hậu, thực vật, sinh vật, kể cả con người. Từ
đó mới có cơ sở vững chắc để đánh giá và phân hạng đất đai, đưa ra kết luận cuối cùng
về vấn đề khai thác và sử dụng bền vững. Chẳng hạn, một vùng đồi núi có độ chia cắt
mạnh, lớp phủ thực vật không phát triển, địa hình thường xuyên bị biến đổi dưới tác
dụng của khí hậu và trọng lực gây ra các quá trình trượt lở, bóc mòn thì lớp thổ
nhưỡng trên mặt cũng thường xuyên bị xáo trộn theo, do đó tầng đất ở đây sẽ mỏng,
độ liên kết yếu, từ đó có thể đưa ra biện pháp sử dụng và bảo vệ hợp lý.
Ngoài ra, nguồn gốc địa hình còn giúp ích rất nhiều cho việc định giá và định
mức thuế đất trong quy hoạch sử dụng đất thông qua công tác đánh giá chất lượng đất.
Ngày nay, Địa mạo học cho phép ta hiểu được bản chất của bất kỳ dạng địa hình nào
gặp trên thực địa, do đó sẽ giúp ích rất tốt cho công tác địa chính với ý nghĩa là cái nôi
của mỗi lô đất.
Sau khi phân tích đặc điểm địa mạo – thổ nhưỡng của khu vực nghiên cứu thì
các nhà quản lý đất đai cần tiến hành công tác đánh giá, phân hạng đất. Các kết quả
đánh giá đất là cơ sở xác định tiềm năng đất đai, lập quy hoạch sử dụng đất, thu thuế
sử dụng đất và phục vụ cho nhiều mục đích phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, nhất
là đối với nông – lâm nghiệp.

6


Từ việc tìm hiểu vai trò của nghiên cứu địa mạo trong quản lý và sử dụng đất có
thể đưa ra một quy trình chung bao gồm các bước như sau:

Xác lập mục tiêu cụ thể, xác định đơn
vị đất đai cần đánh giá

Thu thập tài liệu liên quan đến khu
vực cần đánh giá

Xác định loại hình sử dụng đất hiện tại

Đánh giá đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường

Nghiên cứu, đánh giá đặc điểm địa mạo
khu vực; phân loại khả năng thích nghi

Ứng dụng kết quả nghiên cứu

Xác định loại hình sử
dụng đất hợp lý

Đánh giá, phân hạng đất

Việc nghiên cứu địa mạo phục vụ cho công tác đánh giá, quy hoạch và sử dụng
đất luôn phải tiến hành kỹ lưỡng và bao gồm rất nhiều những vấn đề và hiện tượng địa
mạo. Trong giới hạn bài tiểu luận này, tôi xin trình bày một số đặc điểm địa mạo của
các địa hình dòng chảy đối với công tác đánh giá và sử dụng đất.

7


2. Hoạt động địa mạo của nước trên mặt và địa hình do nó tạo thành.
2.1. Hoạt động của nước chảy trên mặt.
Nước trên bề mặt Trái Đất biến hóa và vận động liên tục trong một vòng tuần
hoàn khép kín và bất tận với các giai đoạn bốc hơi, di chuyển của nước, ngưng tụ và
mưa. Tùy theo dạng đại hình mặt đất mà nước hình thành nên những dòng chảy khác
nhau với những tác động lên mặt đất khác nhau. Phân tích hoạt động địa mạo của nước
chảy trên mặt, có thể khẳng định ở những miền khí hậu ẩm ướt, hầu như mọi dạng địa
hình đều mang dấu ấn của hoạt động nước chảy ở những mức độ khác nhau, thậm chí
có thể hoàn toàn do nó tạo nên.
Cũng như những nhân tố ngoại sinh khác, nước thực hiện vai trò địa mạo dưới 3
hình thức: phá hủy (bào mòn, xâm thực), vận chuyển và tích tụ. Nước chảy trên mặt
theo hai kiểu chính là chảy tràn và chảy theo dòng.
Trong kiểu chảy tràn, nước vận động thành một lớp dải đều và tràn lan trên các
bề mặt, gây tác dụng bào mòn ồ ạt các vật liện vụn kích thước nhỏ. Dạng hoạt động
này gây ra hiện tượng xói mòn đất đặc biệt nguy hiểm đối với lớp thổ nhưỡng.
Trong kiểu thứ hai, nước chảy thành dòng tập trung dọc theo các đường tụ thủy
rõ rệt (sông, suối…). Trong thời gian hoạt động, các dòng chảy lại được chia thành hai
loại là: dòng chảy thường xuyên và dòng chảy tạm thời.
Địa hình do nước chảy tạo thành có tên gọi chung là địa hình dòng chảy (bảng
dưới). Hoạt động bào mòn của các dòng nước được gọi là xâm thực nước. Chúng gây
tác dụng bào mòn, xâm thực mặt đất theo cả hai hướng: khoét sâu đáy và đào xới bờ
để mở rộng lòng chảy. Từ đó phân biệt nên hai kiểu: xâm thực ngang và xâm thực sâu.
Hình thức dòng chảy

Nhóm dạng
địa hình

Xâm thực

Dạng địa hình
Khe mưa (dạng khe rãnh sơ
sinh).
Máng xói.

Nước chảy tràn

Các dạng máng trũng.
Tích tụ

Tham gia thành tạo bậc thềm
cấu trúc – bào mòn.
Vạt sườn tích.

8


Máng trũng sâu.
Xâm thực

Khe rãnh xói mòn.
Địa hình đất xấu.

Dòng chảy tạm
thời

Tham gia thành tạo pediment và
glaxi.
Tích tụ

Nước chảy theo

Nón phóng vật, tam giác châu
khô.

dòng tập trung

Đồng bằng nghiêng trước núi.
Xâm thực
Dòng chảy
thường xuyên

Thung lũng sông suối.
Thềm xâm thực.

Tích tụ

Thềm tích tụ, bãi bồi.
Đồng bằng phù sa sông.
Tam giác châu (delta)

2.2. Dòng chảy tạm thời.
2.2.1. Dòng chảy tạm thời.
Đối với các dòng chảy tập trung theo dòng, như chúng ta đã biết, quá trình xâm
thực và tích tụ diễn ra dọc theo lòng dòng chảy, nghĩa là tập trung thành từng tuyến
nhất định. Trái lại, đối với dòng chảy tràn lan theo diện thì cả 2 hiện tượng này đều trải
rộng theo bề mặt, vì vậy người ta gọi là bào mòn bề mặt. Loại dòng chảy tràn lan như
vậy thường xảy ra khi trời mưa rào với cường độ lớn hoặc khi có tuyết tan. Nó thường
chỉ hoạt động trong những thời đoạn ngắn nên được gọi là dòng chảy tạm thời. Khi
nước chảy tràn, nó cuốn trôi các mảnh đất đá vụn trên bề mặt, nhưng không liên tục,
bởi vì các mảnh vụn ấy có thể bị cản lại mỗi khi gặp phải chướng ngại vật.
Nước chảy tràn gây tác dụng bào mòn bề mặt rất lớn, nhất là ở những sườn có
lớp vật liệu trên bề mặt tơi xốp, thực vật thưa thớt hoặc không có. Trong quá trình này,
phần đỉnh sườn bị bào mòn mạnh hơn cả, trong khi phần chân sườn lại tích tụ những
vật liệu vụn bào mòn từ trên xuống, tạo ra vạt sườn tích.
Kết quả là quá trình bào mòn bệ mặt làm cho phần đỉnh sườn bị hạ thấp dần,
phần chân dốc được bồi cao lên và do đó sườn giảm độ cao cả về giá trị tuyệt đối lẫn
tương đối, địa hình bị thoải dần.

9


Quá trình bào mòn bề mặt gây tổn thất to lớn cho lớp thổ nhưỡng, nhất là ở
những vùng đất khai hoang trên sườn dốc. Lượng đất bị cuốn trôi có thể lên tới 100
tấn/ha/năm. Vì vậy, khi canh tác trên sườn dốc, cần có những biện pháp chống xói
mòn tích cực.
2.2.2. Dòng chảy tạm thời ở đồng bằng.
Đặc điểm của dòng chảy tạm thời ở đồng bằng là hoạt động trong điều kiện độ
cao tương đối (còn gọi là tỉ cao) nhỏ, trên bề mặt thường có nhiều trầm tích bở rời. Các
dạng địa hình do nó tạo nên phổ biến điển hình ở các đồng bằng đồi và đồng bằng cao
(bình sơn nguyên).
a. Máng trũng nông: Trong nhóm này, dạng địa hình sơ đẳng nhất là máng
trũng nông. Đó là dạng địa hình lòng máng rất thoải, độ sâu chừng một vài mét, sườn
rất thoải, mở rộng về một phía. Hình chiếu của máng trũng trên mặt phẳng nằm ngang
có dạng đường thẳng hoặc phân nhánh thẳng. Mán trũng nông phát triển tiếp thành
máng trũng sâu có đáy đã hơi lõm và độ dốc sườn gần bằng độ dốc tự nhiên của loại
đất đá cấu thành sườn. Ở những khu vực phổ biến rộng rãi dạng địa hình này, các sườn
thường rất thoải, đỉnh sườn tròn trĩnh.
Địa hình lòng máng phát triển rộng rãi, được bảo tồn lâu dài và điển hình nhất
trên các đồng bằng cao và bình sơn nguyên thuộc các đới khí hậu bán khô khan và khô
khan, nơi có sự thống trị của kiểu nước chảy tràn. Ở Việt Nam cũng có thể gặp dạng
địa hình này ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
b. Khe rãnh xói mòn: Đây là dạng địa hình đặc trưng nhất cho tác dụng xâm
thực của dòng chảy tạm thời. Trong quá trình phát triển của khe rãnh xói mòn, có thể
phân biệt 4 giai đoạn với những biểu hiện đặc trưng riêng: từ mương xẻ tới mương xói
và máng xói mòn.
- Giai đoạn 1: dòng nước tạo thành mương xẻ. Nó có thể được hình thành ngay
sau một trận mưa lớn và còn được gọi là khe mưa. Điểm đặctrưng của nó có độ dốc
trắc diện dọc tương tự như độ dốc của sườn.
- Giai đoạn 2: mương xẻ tiếp tục phát triển thành mương xói. Đáy khe khoét sâu
đồng thời với sự khoét sâu phần đỉnh khe, làm cho nó giật lùi dần về phía đường phân
thủy và làm tăng chiều dài khe.
- Giai đoạn 3: đây là giai đoạn tạo khe xói trưởng thành và được bắt đầu kể từ khi
thác nhỏ ở miệng treo bị phá hủy, giật lùi về phía đỉnh sườn dốc. Đến đây, nó đã trở
thành khe xói trưởng thành. Gốc xói mòn của khe xói chính là đáy thung lũng tiếp
nhận nó. Khe xói có kích thước khá lớn: sâu tới 40 – 50 m, rộng hang trăm mét, chiều
dài tới một vài kilomet.
10


- Giai đoạn 4: đây là giai đoạn già cỗi của khe rãnh xói mòn: sườn rãnh xói tiếp
tục bị phá hủy, làm cho nó càng ngày càng rộng thêm. Vào cuối giai đoạn này, sườn đã
trở nên thoải và bền vững hơn, độ dốc sườn gần như góc dốc tự nhiên của đất đá cấu
thành sườn. Đến đây, sự phát triển của khe rãnh xói mòn tạm ngừng. Sản phẩm bào
mòn sườn được đưa xuống tích tụ dưới đáy khe hoặc ở chân sườn, bề mặt sườn bắt đầu
được thực vật bao phủ và cố định lại.
Trong những điều kiện thuận lợi, khe rãnh xói mòn có thể phát triển với mật độ
dày đặc, mặt đất dường như bị băm nát, không còn những diện tích liền khoảnh để
canh tác, vì vậy được gọi là địa hình đất xấu (badlands).
2.2.3. Dòng chảy tạm thời ở miền núi.
Địa hình chảy tạm thời miền núi có những nét khác với ở đồng bằng và nguyên
nhân chủ yếu gây ra sự khác biệt này là do ở miền núi có độ cao và độ dốc lớn hơn.
Các dạng địa hình do quá trình này tạo ra ở đay cũng là địa hình khe rãnh, nhưng phát
triển trên sườn nuuis và các sườn thung lũng. Về mặt hình thái, chúng khác với khe
rãnh xói mòn ở đồng bằng là dốc hơn, ngắn hơn và gồm ba bộ phận hình thái rõ ràng,
giống như hình ảnh của một hệ thống sông thu nhỏ.
Trong các thung lũng miền núi, từ hai bờ thường có rất nhiều nón phóng vật lấn
vào lòng sông chính, sắp xếp xen kẽn nhau, khi ở bờ này, khi ở bờ kia. Nếu chúng phát
triển mạnh, dòng sông có thể bị uốn khúc miễn cưỡng do bị ép từ cả hai phía. Trong
trường hợp nón phóng vật có kích thước lớn và dòng sông chính có đủ khả năng cắt
đứt phần chân của chúng, sẽ xuất hiện dạng địa hình giống như những mảnh thềm tích
tụ, nhưng đó chỉ là một loại bậc thềm giả.
Trong điều kiện khí hậu khô khan, ở bộ phận trước núi thường có vô số nón
phóng vật kích thước lớn, còn gọi là những tam giác châu khô. Chúng có thể nối liền
với nhau, tạo thành dỉa đồng bằng nghiêng trước núi. Những dạng địa hình tương tự có
thể gặp trong nhiều bồn địa giữa núi, như ở Lạng Sơn, Than Uyên, v…v.
2.2.4. Ý nghĩa của địa hình dòng chảy tạm thời đối với việc sử dụng đất
Nghiên cứu địa hình khe rãnh xói mòn ở đồng bằng có thể cung cấp nhiều thông
tin quý cho công tác sử dụng và bảo vệ đất, bởi vì đồng bằng thường rất nhạy cảm với
quá trình rửa trôi bề mặt và xói mòn khe rãnh, và một khi đã được bắt đầu thì rất khó
khắc phục. Nhờ có những dấu hiệu nhận biết nêu trên, ta có thể dễ dàng phát hiện và
thống kê mức độ phát triển của quá trình này. Ví dụ, nếu trên diện tích nào đó chủ yếu
gặp những khe rãnh ở giai đoạn I và II, ta có thể kết luận về nguy cơ tai biến xói mòn
đất là rất lớn, còn nếu đa số là những dạng ở giai đoạn III thì chứng tỏ lớp thổ nhưỡng
đang bị phá hủy thực sự mạnh. Cuối cùng, nếu chúng phần lớn là máng xói (giai đoạn
11


IV), có thể kết luận là thời kì tai biến xói mòn đất đã qua, nhưng nếu không có biện
pháp phòng ngừa thì rất dễ tái phát. Đối với các taluy đê đập và đường sá, quá trình
xói mòn khe rãnh có thể là mối đe dọa lớn, bởi vì sau khi hình thành, chúng xẽ nhanh
chóng xâm thực giật lùi gây nguy hiểm cho phần thân công trình. Vì vậy, trong khi đo
vẽ địa hình phải chú ý thể hiện những dạng địa hình này để cảnh báo mức độ và nguy
cơ xói mòn khe rãnh.
Đối với xói mòn do hoạt đọng rửa trôi bề mặt của nước chảy tràn, cần áp dụng
những biện pháp phòng ngừa hữu hiệu mà hiện nay đã có khá nhiều trong các tài liệu
hướng dẫn canh tác trên đất dốc. Đây chính là nguyên nhân hàng đầu gây tổn thất lớp
đất trồng và về lâu dài sẽ gây ra hiện tượng đất bạc màu.
Đối với miền núi, nón phóng vật là dạng địa hình đáng được chú ý nhất là vì nó
có giá trị sử dụng quan trọng. Một mặt, do độ dốc bề mặt không vượt quá 80, diện tích
từ vài trăm mét vuông đến hàng chục hecta, nên đây là những mặt bằng quý hiếm
trong điều kiện miền núi, có thể dễ dàng sử dụng trong nông nghiệp và đặt điểm dân
cư. Nhưng do được tạo ra bởi dòng chảy tạm thời, nhiều khi là những dòng lũ bùn, đá,
nên xét về bản chất nó luôn tiềm ẩn nguy cơ tai biến lũ quét và lũ bùn đá. Việc sử
dụng các bề mặt nón phóng vật cho những mục đích trên là tất yếu, nhưng phải biết
tránh những bộ phận có nguy cơ tai biến, trước hết là tránh những tuyến trục động lực
của dòng chảy và những nơi có nhiều di tích của lũ bùn, lũ đá, kể cả với tần suất hàng
chục năm, bởi vì quá trình gây tai biến có thẻ lặp lại.

2.3. Dòng chảy thường xuyên.
Khi dòng chảy chuyển từ hình thức dòng chảy tạm thời sang dòng chảy thường
xuyên, trong hoạt động của nó cũng như trong hình thái các dạng địa hình do nó tạo
thành đã xuất hiện những đặc trưng về chất lượng.
Tác dụng xâm thực và tích tụ của dòng chảy thường xuyên, tức là của các dòng
sông, dòng suối, về đại thể cũng tương tự như dòng chảy tạm thời, song hiệu quả thì
khác nhau rất nhiều mà nguyên nhân chủ yếu là do dòng chảy thường xuyên có lượng
nước chảy lớn hơn và hoạt động liên tục trong thời gian. Quá trình tích tụ trong dòng
sông có đặc điểm là xảy ra liên tục và trên suốt chiều dài của mình.
2.3.1. Thung lũng sông
Khái niệm: Thung lũng sông là những dạng trũng của địa hình luôn có nước chảy
trải dài thành một dải hẹp, chiều dài lớn hơn chiều rộng nhều lần và phần lớn quanh
co, đặc điểm chung của chúng là có độ dốc nghiêng theo một hướng từ thượng nguồn
về cửa sông và khi gặp nhau không bao giờ cắt nhau mà chỉ hội tụ với nhau.
Thung lũng sông có những đặc điểm chính sau đây:
12


- Chiều dài lớn gấp nhiều lần chiều rộng, khác với bồn địa hoặc thung lũng đá
vôi và các loại địa hình rỗng khác.
- Không bao giờ cắt nhau mà chỉ hội lưu hoặc phân nhánh.
- Độ cao từ thượng nguồn về phía cửa sông giảm dần, độ dốc nhìn chung cũng
theo hướng đó.
Các bộ phận hình thái của thung lũng sông:
- Đường tụ thủy
- Lòng sông
- Bãi bồi
- Sườn thung lũng
- Bậc thềm sông
- Đỉnh phân thủy

2.3.2. Đặc điểm hình thái lòng sông.
- Lòng sông bao gồm nhiều bãi nông và vũng sâu xen kẽ nhau một cách đều đặn
và nhịp nhàng. Cả 2 dạng địa hình này đều có hình dáng kéo dào và sắp xếp theo quy
luật: các vũng sâu nằm sát bờ lõm, tại phần đỉnh khúc uống; các bãi nông có dạng như
13


một đốt xương sống, cắt trục lòng sông dưới một góc rất nhọn, nằm từ phần lồi của bờ
khúc uốn này tới phần bờ lồi của khúc uốn sau. Như vậy, bãi nông hình thành tại đoạn
lòng sông có độ cong tương đối nhỏ và đổi chiều cong sang hướng ngược lại.

Hình 2. Ví dụ một đoạn uốn khúc sông Đồng Nai
- Đường trục của dòng sông không phải là đường đi qua trung tâm lòng sông mà
là một đường cong phức tạp chạy qua các vũng sâu và cắt ngang các bãi nông, ép lệch
về phí bờ lõm.
- Bãi cát ven lòng sông: nước chảy trong lòng sông đều có tính chất loạn lưu và
bên cạnh chuyển động tiến còn có vòng hoàn lưu ngang. Dòng hoàn lưu ngang gây tác
dụng xâm thực bờ lõm, nơi nó đi xuống rồi đem vật liệu vụn sang bồi đắp lên bờ lồi
đối diện, tạo ra một bề mặt tích tụ phù sa thoải hơi nghiêng về phía lòng sông. Đó
chính là bãi cát ven lòng sông.
- Đê cát ven lòng sông: bãi cát ven lòng sông có dạng bán nguyệt, phát triển ở
phần lồi của bờ sông. Trong quá trình sông uống khúc, chiều rộng của nó ngày càng
tăng, nhưng với nhịp điệu đột biến: cứ mỗi mùa lũ nó lại được bồi thêm một bậc nhỏ
hình lưỡi liềm lấn sâu vào lòng sông. Quá trình này sẽ tiếp diễn cho tới khi khúc uốn
đạt tới độ cong giới hạn (tức là lòng sông không thể xê dịch ngang tiếp tục theo hướng
cũ nữa). Khi khúc uống đã gần đạt tới độ cong giới hạn, lòng sông xê dịch theo chiều
14


ngang chậm hẳn lại, do đó các đê cát ven bờ được tạo thành sau mỗi chu kỳ nước lũ
bắt đầu chồng phủ lên nhau. Do vậy mà các đê cát ở vị trí đó mỗi năm một cao thêm
và có thể đạt tới độ cao của nước lũ lớn nhất. Những đê cát ven lòng sông có vị trí và
độ cao như vậy được gọi là đê thiên nhiên.
2.3.3. Bãi bồi.
Bãi bồi là bộ phận đáy thung lũng tương đối rộng và khá bằng phẳng, được bao
phủ bằng lớp trầm tích aluvi và chỉ bị ngập lụt về mùa nước lũ. Để thành tạo được bãi
bồi, dòng sông phải trải qua những giai đạon phát triển lâu dài. Thung lũng sông càng
đạt tới giai đoạn phát triển cao (trưởng thành, già) thì địa hình bãi bồi của nó càng
rộng và hoàn chỉnh. Ở những thung lũng sông có bãi bồi, bờ sông và sườn thung lũng
đã tách rời nhau về không gian, thực tế lòng sông gần như chỉ hoạt động trong phạm vi
bãi bồi do nó đã tạo nên, trên đó nó uốn khúc rất quanh co và có bờ sông rất thấp.
Kích thước bãi bồi có thể rất khác nhau. Ở sông miền núi chúng thường rất nhỏ
hẹp, trầm tích aluvi thường rất thô, phần lớn là tảng, cuội, sạn và cát thô. Ở đồng bằng
chúng có thể rộng tới hàng chục kilomet, aluvi mịn, chủ yếu là cát, sét pha, sét và là
những cách đồng phù sa màu mỡ.
Bề mặt bãi bồi không hoàn toàn bằng phẳng, vì có nhiều vi địa hình dạng gò,
rãnh tỷ cao không quá 10m xen kẽ nhau.
Theo N.I.Macaveiev, bãi bồi thông thường có bốn loại:
- Bãi bồi hai phía: nếu bãi bồi đạt xấp xỉ chiều rộng đai uốn khúc ở mức độ phát
triển tối đa thì nó bị các khúc uống phân cắt thành những đoạn riêng rẽ hình bán
nguyệt sắp xếp xen kẽ bên phải và bên trái lòng sông, vì vậy được gọi là bãi bồi phân
đoạn hay bãi bồi hai phía. Đây là loại bãi bồi phổ biến hơn cả.
- Bãi bồi một phía: trên bãi bồi loại này thường có những luống cát hình bờm
ngựa song song. Nó đặc trưng cho những con sông có thung lũng rộng, lòng sông có
xu hướng liên tục xê dịch về một phía. Đặc điểm hình thái của chúng là chiều rộng bãi
bồi rất lớn, trên bề mặt có nhiều luống cát sắp xếp dạng bờm ngựa song song với nhau
theo kiểu cánh gà. Giữa các luống cát đó là những rãnh trũng, thường là những dãy hồ
nhỏ. Các luống cát này chính là những đê cát ven lòng sông hình thành trong quá trình
xê dịch của lòng sông về một phía.
- Bãi bồi ở nơi hội lưu: Loại bãi bồi này có cấu tạo phức tạp và kém bền vững, do
thủy chế của sông chính và sông phụ không khớp nhau về thời gian. Nếu mùa lũ ở
dòng sông chính đến sớm hơn thì tại cửa sông phụ xảy ra hiện tượng ứ nước, nước ở
sông chính có thể chảy vào sông phụ. Do đó tốc độ dòng chảy ở cửa sông phụ bị giảm
độg ngột, xảy ra tích tụ mạnh. Sau đó, đến giai đoạn nước lũ của mình, dòng sông phụ
15


lại tạo ra một lớp phù sa trên mặt bãi bồi. Kết quả là trong cấu tạo aluvi, ta thấy có hai
lớp xen kẽ nhau: tầng tích tụ ứ nước có độ dốc ngược dòng và tầng thứ hai có độ dốc
bình thường.
2.3.4. Bậc thềm sông.
Bậc thềm sông là dạng địa hình tương đối bằng phẳng, kéo dài trên toàn bộ hay
một bộ phận thung lũng trên chiều dài hàng chục, hàng trăm kilomet, bên trên được
giới hạn bằng một bề mặt bằng phẳng (mặt thềm), phía dưới bằng một vách phân cách
nó với một bậc khác hoặc đáy thung lũng, do hoạt động của dòng sông tạo nên và
không còn bị nước lũ tràn ngập.
Tùy theo cấu tạo vật chất của bậc thềm, có thể phân biệt những loại bậc thềm chủ
yếu sau:
- Thềm bào mòn, xâm thực. Đặc điểm của loại bậc thềm này là có đá gốc lộ ra
trên bề mặt, chỉ có một lớp phủ aluvi mỏng do phong hóa. Ở phía mép trong thường có
nón đá lở hoặc vạt gấu sườn tích, tùy theo độ dốc sườn bên trên. Chúng thường đặc
trưng cho sông miền núi và thường là những bậc thềm già nhất, cao nhất trong mỗi
thung lũng.
- Thềm tích tụ. Đây là loại bậc thềm phổ biến rộng rãi nhất, cả ở sông đồng bằng
lẫn miền núi. Đặc điểm nổi bật của chúng là có tầng aluvi với độ phân dị và tính phân
lớp rõ ràng. Ở các thềm sông miền núi, aluvi có thành phần thô chiếm ưu thế, chủ yếu
là cuội, tảng, thành phần cát, sét chỉ giữ vai trò gắn kết. Nhìn chung loại bậc thềm tích
tụ đều có cấu tạo hai lớp rõ rệt: phần dưới thô và phần trên mịn.
2.3.5. Cửa sông.
Cửa sông là một dạng địa hình có ý nghĩa lớn trong hoạt động của chính các
dòng sông cũng như đối với hoạt động kinh tế của con người. Đây là một loại môi
trường tự nhiên có năng suất sinh học cao nhất trên Trái Đất mà con người biết được.
Cửa các con sông lớn khá đa dạng về hình thái và cấu trúc. Dạng địa hình đặc
trưng nhất của vùng cửa sông là châu thổ, hay còn gọi là tam giác châu, delta. Châu
thổ là dạng địa hình tích tụ của dòng sông tại nơi nó đổ vào bồn biển hoặc hồ. Trên bề
mặt châu thổ dòng sông thường phân nhánh phức tạp, tuy nhiên cũng có trường hợp
không phân nhánh.
Về phương diện động lực, nét đặc sắc ở đây là có sự tương tác phức tạp giữa quá
trình sông và các quá trình biển, như động lực sóng, động lực triều và các dòng nước
dồn – nước rút.

16


Châu thổ có ba bộ phận chính là: phần đồng bằng châu thổ nổi lên trên mặt nước
và đồng bằng ngập nước lan khá xa xuống phần biển nông; tiếp theo là sườn châu thổ
nối đồng bằng ngập nước với chân châu thổ khá sâu; cuối cùng là chân châu thổ khá
bằng phẳng, chuyển tiếp xuống đáy biển.
Bề mặt châu thổ có thể gặp nhiều diện tích lầy thụt do điều kiện thoát nước kém,
vì vậy, trong mặt cắt châu thổ có thể gặp những thấu kính than bùn.
Về hình thái, có nhiều dạng châu thổ khác nhau. Loại đơn giản nhất là hình mỏ
chim với ba bộ phận chính là đáy sông vùng cửa sông và hai doi đất cửa sông nằm dọc
hai bờ. Loại tiếp theo là châu thổ hình mái chèo (châu thổ chân chim). Đây đều là hai
loại châu thổ lấn ra biển, ngoài ra còn có loại châu thổ lấp đầy. Loại châu thổ này hình
thành trong trường hợp các dòng sông đổ vào những vịnh nông.
Châu thổ có thể có kích thước rất lớn, tạo thành những miền đồng bằng châu thổ
thực thụ. Ví dụ đồng bằng châu thổ sông Amazon có diện tích tới 100.000 km2, đồng
bằng miền đồng Trung Quốc có diện tích tới 400.000 km2 do các châu thổ Hoàng Hà
và Dương Tử nối liền nhau tạo thành…

3. Đánh giá và sử dụng đất theo đặc điểm địa mạo của các dạng địa hình
dòng chảy.
Trong đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất, những hiểu biết về địa hình dòng
chảy chắc chắn là rất hữu ích.
- Trước hết là đối với các dạng địa hình dòng chảy tạm thời. Đây là những quá
trình gây thiệt hại to lớn cho quỹ đất nông nghiệp do hiện tượng xói mòn đất dưới hình
thức rửa trôi bề mặt và xói mòn khe rãnh. Những khu đất đã bắt đầu bị rửa trôi và xuất
hiện mương xói, khe xói, nếu không có biện pháo khắc phục, như san lấp, làm kè dưới
đáy khe, trồng băng cây chống xói mòn, đánh luống theo đường bình độ, v…v, thì
chắc chắn sẽ bị tổn thất nặng nề. Đối với địa hình tích tụ, như vạt sườn tích, nón phóng
vật, việc sử dụng đất cũng có những điều đáng chú ý. Ở những vùng đồi núi, hiếm quỹ
đất bằng phẳng, thì những dải đất dốc tụ hình thành trên vạt sườn tích có thể sử dụng
để trồng cây ăn quả hoặc xây cất nhà cửa, các nón phóng vật có thể được sử dụng để
canh tác lúa nước trên các ruộng bậc thang thấp ở mực đáy thung lũng và đặt điểm dân
cư. Tuy nhiên cần phải xác định những vị trí an toàn tương đối để tránh nguy cơ tai
biết lũ quét và lũ bùn đá, bởi vì xét về bản chất, chúng do chính những quá trình tai
biến này tạo nên và do đó tai biến có thể lặp lại, cho dù là với tần suất nhỏ. Những
điểm có độ an toàn tương đối đều phải cách xa trục động lực dòng chảy, hay là lòng
dẫn của chúng, nếu có hai nón phóng vật nằm kề nhau thì không gian kẹp giữa chúng

17


cũng có độ an toàn tương đối. Đặc biệt cần lưu ý đề phòng tai biến đối với những nón
phóng vật có nhiều đá tảng lớn vốn là di tích của lũ bùn – đá.
- Trong các loại đất phù sa, đất bãi bồi hằng năm được bồi có độ phì tốt nhất.
Nếu có hệ thống đê ngăn lũ, thì xuất hiện sự chênh lệch giữa đất bãi bồi ngoài đê và
trong đê. Bù lại, bãi bồi và đất trong đê lại có độ an toàn cao hơn do được cách li với
nước lũ. Bởi vì theo định nghĩa, bãi bồi là dạng địa hình hằng năm còn bị nước lũ bao
phủ, nên việc xây dựng nhà cửa ngoài đê là đồng nghĩa với việc thách thức với nguy
cơ lũ lụt. Chính vì vậy, nếu muốn cư trú trên bãi bồi, phải chọn những dải đất bãi bồi
cao ven lòng để có thể tôn cao thêm dễ dàng. Về mặt sử dụng đất trên bãi bồi, cần
phân biệt rõ ba bộ phận: bãi cao ven lòng, bãi bồi trung tâm và bãi bồi cao chân bậc
thềm. Phần thứ nhất thường sử dụng làm nơi đặt điểm dân cư và trồng hoa màu, bởi vì
đất thường có thành phần cơ giới nhẹ - cát và cát pha; bãi bồi trung tâm có thành phần
cơ giới nặng, lại có nhiều nước nên được dung để trồng cấy lúa nước và đào ao, hồ
nuôi cá; nếu vượt cho mặt đất cao hơn thì đất ở đây cũng có thể dung để xây cất nhà ở
và trồng cây ăn quả với chu kỳ sinh lợi dài hơn so với loại trên.
- Đất trên các bậc thềm sông nói chung đều đã bị thoái hóa, bạc màu do nằm cao
hơn mực nước lũ và bị xói mòn theo bề mặt và theo dòng lâu dài. Bù lại, đây là nơi có
độ ổn định nền móng tốt hơn, nói chung an toàn trước nguy cơ lũ lụt do không còn bị
nước lũ bao phủ nữa (trừ lũ lịch sử).
- Trong lòng sông thường có nhiều vật liệu cát sỏi xây dựng, tuy nhiên cần tránh
khai thác tại bờ lõm và đỉnh khúc uốn để tránh nguy cơ xói lở bờ bởi xâm thực ngang.
- Trong xây dựng nhà ở và các công trình, cần tránh những nơi có nguy cơ xâm
thực giật lùi, bởi vì đây là một hiện tượng rất nguy hiểm đối với các công trình như
đường sá, cầu cống.
Tóm lại, khi tiếp cận vấn đề sử dụng đất trên các dạng địa hình dòng chảy, cần
biết chúng đã được tạo ra như thế nào để theo đó mà có những biện pháp đề phòng
hoặc cải tạo cho tốt hơn.

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×