Tải bản đầy đủ

Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn lưu động tại công ty TNHH bê tông đúc sẵn và cơ khí bình dương

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và vận hành theo cơ
chế thị trường, mở cửa, hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Đối với các doanh
nghiệp Việt Nam, một mặt nó đem lại những cơ hội mới trong việc mở rộng và tiếp
cận thị trường nhưng mặt khác nó là những thách thức không nhỏ trong quá trình
cạnh tranh để thích nghi với những thay đổi của nền kinh tế toàn cầu. Cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới từ cuối năm 2008 và những bài học của nó là những kinh
nghiệm quý giá đối với các nhà quản lý, quản trị doanh nghiệp đặc biệt là vấn đề
làm sao tạo lập, quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của mình hiệu quả để hoạt
động doanh nghiệp được diễn ra liên tục và tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện
kinh tế thị trường luôn biến động như hiện nay.
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập
và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình doanh
nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Trong quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động và sự
luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản

và hiệu quả tài chính. Nói cách khác, vốn cần được xem xét và quản lý trong trạng
thái vận động và mục tiêu hiệu quả của vốn có ý nghĩa quan trọng nhất. Để có các
đầu vào phục vụ sản xuất kinh doanh doanh nghiệp phải có một lượng tiền ứng
trước, lượng tiền này gọi là vốn của doanh nghiệp hay nói cách khác vốn là biểu
hiện bằng tiền của vật tư tài sản được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục
tiêu sinh lời. Vốn của doanh nghiệp được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp
và biến đổi trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu các doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả, vốn của doanh nghiệp có chiều hướng tăng trưởng vì sau mỗi chu kỳ
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

1

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

kinh doanh vốn ban đầu lại được bổ sung bằng một phần lợi nhuận thu được, phần
bổ sung này phụ thuộc vào mức độ sinh lời trong kinh doanh và các chính sách
phát triển của doanh nghiệp.
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn kinh doanh nói chung nên cũng không
nằm ngoài yêu cầu đó. Vốn lưu động có khả năng quyết định tới quy mô kinh
doanh của doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn lưu động sẽ tác động trực tiếp tới
quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh từng
kỳ của doanh nghiệp.
Nhận thức rõ vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh và
qua thực tế tìm hiểu tại Công ty TNHH bê tông đúc sẵn và cơ khí Bình Dương, em
đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị
vốn lưu động tại Công ty TNHH bê tông đúc sẵn và cơ khí Bình Dương”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Hệ thống hóa lí thuyết về vốn lưu động của doanh nghiệp trong hoạt động sản
xuất kinh doanh và nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp.
Phân tích, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng vốn lưu động của công ty trong
năm 2013, so sánh với các năm trước, so với kết quả của ngành. Dựa trên cơ sở đó
để đưa ra những giải pháp tài chính hữu hiệu cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động trong những năm tới của công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu: Vốn lưu động và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử
dụng vốn lưu động của Công ty.

SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

2

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, hoạt động
tài chính và hoạt động khác trong năm 2013 và các năm trước.
4. Nội dung khái quát của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bài luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về vốn lưu động và việc nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng tình hình quản lí, sử dụng vốn lưu động và hiệu quả sử
dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH bê tông đúc sẵn và cơ khí Bình Dương.
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn lưu động tại
công ty TNHH bê tông đúc sẵn và cơ khí Bình Dương.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do còn hạn chế về kiến thức và thời gian
nghiên cứu nên bài luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy, em rất
mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy cô và các anh chị trong phòng
Tài Chính- Kế toán của công ty TNHH bê tông đúc sẵn và cơ khí Bình Dương để
kết quả nghiên cứu được hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo - TS. Nguyễn Thị Hà và các anh chị trong
phòng Tài Chính- Kế toán cùng các phòng ban khác của công ty đã giúp đỡ em
trong quá trình thực hiện đề tài này.

SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

3

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.VỐN LƯU ĐỘNG VÀ NGUỒN VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP.
1.1.1. Khái niệm vốn lưu động.
Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài các tài sản cố định,
doanh nghiệp cần phải có các tài sản lưu động để đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục. Để hình thành nên các tài sản
lưu động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định. Số vốn này
được gọi là vốn lưu động (VLĐ) của doanh nghiệp.
Vậy: Vốn lưu động của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh
nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói các khác, vốn lưu động là biểu
hiện bằng tiền của các TSLĐ trong doanh nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm vốn lưu động.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bị chi phối bởi các
đặc điểm của tài sản lưu động nên VLĐ của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
- Vốn lưu động là hình thái biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên nó
mang những đặc điểm tương tự như tài sản lưu động đó là vốn lưu động tham gia
vào một chu kỳ kinh doanh và vốn lưu động được luân chuyển một lần. Quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng nên vốn lưu
động cũng vận động theo từng chu kỳ. Trong mỗi chu kỳ vốn lưu động chuyển từ
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

4

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

hình thái tiền tệ sang hình thái vật chất là vật tư, hàng hóa dự trữ cho hoạt động
sản xuất, qua giai đoạn sản xuất vật tư được đưa vào sản xuất tạo nên thành phẩm
và đưa vào tiêu thụ. Kết thúc chu kỳ khi doanh nghiệp thu được tiền từ việc ban
sản phẩm ra thị trường vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ ban đầu. Trên thực
tế chu trình trên không diễn ra tuần tự mà đan xen vào nhau, trong khi một bộ
phận vốn lưu động được chuyển hóa thành vật tư hàng hóa dự trữ thì bộ phận
khác kết tinh trong thành phẩm được chuyển hóa thành vốn bằng tiền, cứ như
vậy chu kỳ sản xuất kinh doanh được lặp đi lặp lại, vốn lưu động được tuần hoàn
và luân chuyển liên tục. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động càng lớn thì hiệu quả
sử dụng vốn càng cao. Muốn quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục thì doanh
nghiệp cần có đủ vốn và phân bổ hợp lý cho từng giai đoạn từng thời kỳ của quá
trình sản xuất.
- Giá trị của vốn lưu động được chuyển dịch một lần và hoàn toàn vào giá trị
sản phẩm và được thu hồi khi tiêu thụ sản phẩm.
Chính từ hai đặc điểm trên của vốn lưu động mà phương pháp quản lý sử
dụng vốn lưu động là theo định mức, tức là định mức vốn lưu động cho từng đơn
vị sản phẩm định mức vốn cho từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên trong nền kinh tế thị trường khó xác định được nhu cầu vốn lưu động đối
với từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh do vậy người ta thường dựa trên
chỉ tiêu quan trọng nhất là tiết kiệm nhất về vốn lưu động cho doanh nghiệp.
1.1.3. Phân loại vốn lưu động.
Vốn lưu động có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp, nó tham gia
vào mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nếu thiếu vốn lưu động
doanh nghiệp khó lòng tạo ra được sản phẩm bởi vì phần lớn tài sản lưu động tham
gia vào quá trình chế biến để tạo nên sản phẩm và để có được tài sản lưu động này
doanh nghiệp phải có một lượng vốn lưu động để đáp ứng. Để có thể sử dụng vốn
lưu động có hiệu quả, người ta phải phân loại vốn lưu động, việc phân loại vốn lưu
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

5

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

động giúp cho nhà quản trị tài chính doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc quản lý
và phân bổ vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó có thể sử dụng hợp lý
hơn nguồn vốn lưu động của doanh nghiêp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động.
Một số cách phân loại chủ yếu sau:
1.1.3.1. Phân loại theo hình thái biểu hiện và khả năng hoán tệ của vốn có thể
chia VLĐ thành:
-Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:
+ Vốn bằng tiền gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi Ngân hàng và tiền đang
chuyển. Tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng
chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh
doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền cần thiết nhất định.
+ Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng thể
hiện ở số tiền mà các khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán
hàng, cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau. Ngoài ra, với một số
trường hợp mua sắm vật tư khan hiếm, doanh nghiệp còn có thể phải ứng trước tiền
mua hàng cho người cung cấp, từ đó hình thành khoản tạm ứng.
- Vốn vật tư, hàng hóa: là khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng
hiện vật cụ thể như nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm,…
+ Đối với doanh nghiệp sản xuất vốn vật tư hàng hóa gồm: vốn về vật tư
dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm. Xem xét một cách chi tiết hơn thì
vốn về hàng tồn kho của doanh nghiệp gồm: vốn nguyên vật liệu chính, vốn vật
liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật đóng gói, cốn công cụ
dụng cụ, vốn sản phẩm đang chế, vốn về chi phí trả trước, vốn thành phẩm.

SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

6

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

+ Đối với doanh nghiệp thương mại, vốn về hàng tồn kho chủ yếu là giá
trị các loại hàng hóa dự trữ.
Tác dụng của cách phân loại này giúp doanh nghiệp có cơ sở để tính toán và
kiểm tra kết cấu tối ưu của vốn lưu động, dự thảo những quyết định tối ưu về mức
tận dụng số vốn lưu động đã bỏ ra, từ đó tìm biện pháp phát huy chức năng các
thành phần của vốn lưu động bằng cách xác định mức dự trữ hợp lý và nhu cầu
vốn lưu động. Mặt khác, nó cũng là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá khả năng
thanh toán của mình.
1.1.3.2. Phân loại theo vai trò của vốn lưu động có thể chia VLĐ ra thành:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm:
+ Vốn nguyên vật liệu chính: là giá trị của các loại vật tư dự trữ cho sản
xuất, khi tham gia vào sản xuất nó hợp thành thực thể sản phẩm.
+ Vốn vật liệu phụ: là giá trị những loại vật tư dự trữ cho sản xuất được
dử dụng làm tăng chất lượng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc phục cụ cho
công tác quản lý.
+ Vốn phụ tùng thay thế: gồm giá trị những phụ tùng dự trữ thay thế mỗi
khi chữa tài sản cố đinh.
+ Vốn vật liệu đóng gói: gồm giá trị những loại vật liệu bao bì dùng để
đóng gói trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
+ Vốn công cụ lao động nhỏ: là giá trị những tư liệu lao động có giá trị
thấp, thời gian sử dụng ngắn, không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định.
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất bao gồm:

SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

7

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

+ Vốn bán thành phẩm: là giá trị sản phẩm dở dang trong quá trình sản
xuất hoặc đang nằm trên các địa điểm làm việc đợi chế biến tiếp.
+ Vốn sản phẩm dở dang: là gá trị những sản phẩm dở dang những khác
với sản phẩm đang chết tạo ở chỗ nó đã hoàn thành một hay nhiều giai đoạn chế
biến nhất định.
+ Vốn chi phí trả trước: là những phí tổn chi ra trong kỳ nhưng có tác
dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất, vì thế chưa tính hết vào giá thành trong kỳ mà còn
phân bổ cho các kỳ sau.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm:
+ Vốn thành phẩm: là biểu hiện bằng tiền của số sản phẩm nhập kho và
chuẩn bị cho tiêu thụ.
+ Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu
tư ngắn hạn, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn…
+ Vốn trong thanh toán: là các khoản phải thu, tạm ứng phát sinh trong
quá trình mua bán vật tư hàng hóa hoặc thanh toán nội bộ.
Qua cách phân loại này cho thấy vai trò trong sự phân bổ của vốn lưu động
trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó lựa chọn bố trí cơ cấu
vốn đầu tư hợp lý đảm bảo sự cân đối về năng lực sản xuất giữa các giai đoạn
trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.4. Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp.
Mỗi một doanh nghiệp khi tham gia hoạt động kinh doanh phải xem xét tổ
chức tốt nguồn vốn lưu động nhằm đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn lưu động
của mình là điều rất cần thiết.
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

8

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

Để làm tốt vấn đề này, doanh nghiệp cần dựa vào những căn cứ nhất định để
phân chia nguồn vốn lưu động từ những nguồn huy động khác nhau nhằm thấy rõ
được tính chất, mức độ ổn định của từng nguồn. Từ đó giúp doanh nghiệp khai
thác và tổ chức tốt nguồn vốn lưu động.
1.1.4.1. Xét theo nguồn hình thành, vốn lưu động được hình thành từ các nguồn
sau:
- Nguồn vốn điều lệ: là số vốn điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc số vốn điều
lệ của doanh nghiệp không thấp hơn vốn pháp định mà Nhà nước quy định cho
mỗi loại hình doanh nghiệp. Một phần nguồn vốn này được hình hành nên TSLĐ
cần thiết.
- Nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá
trình sản xuất kinh doanh từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Nguồn vốn liên kết là những nguồn đóng
theo tỷ lệ của các chủ đầu tư để cùng thực hiện một phi vụ kinh doanh do mình
thực hiện và cùng chia lợi nhuận. Việc góp vốn liên kết có thể được hình thành từ
nhiều nguồn khác nhau tùy theo từng loại hình của doanh nghiệp: có thể là liên kết
giữa nguồn vốn của Nhà nước do doanh nghiệp Nhà nước quản lý với nguồn vốn
tự có của các tổ chức và cá nhân trong hay ngoài nước không thuộc lĩnh vực Nhà
nước, giữa nguồn vốn của Nhà nước do doanh nghiệp này quản lý với nguồn vốn
của Nhà nước do doanh nghiệp khác quản lý… Hình thức góp vốn này thích hợp
với các phi vụ kinh doanh có quy mô lớn hay một mình doanh nghiệp không thể có
đủ vốn thực hiện được tổ chức kinh doanh và quản lý vốn.
- Nguồn tín dụng: Là các khoản vốn mà doanh nghiệp có thể vay dài hạn của
các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm hoặc các tổ chức

SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

9

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

tài chính trung gian khác, cũng có thể bằng các hình thức phát hành trái phiếu để
huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh doanh.
1.1.4.2. Căn cứ vào thời gian huy động vốn lưu động có thể được huy động từ hai
nguồn:
- Nguồn vốn lưu động thường xuyên: là tổng thể các nguồn vốn có tổ chức
ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để hình thanh nên các TSLĐ
thường xuyên cần thiết.
Nguồn VLĐ thường xuyên = TSLĐ – Nợ ngắn hạn
Như vậy, nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp là nguồn vốn
ổn định, có tính chất vững chắc. Nguồn vốn này cho phép doanh nghiệp luôn chủ
động trong việc cung cấp đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được ổn định và
liên tục.
- Nguồn vốn lưu động tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1
năm). Nguồn vốn này thường để đáp ứng cho nhu cầu có tính chất tạm thời, bất
thường phát sinh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. nguồn vốn này bao
gồm: các khoản vay ngắn hạn, các khoản phải trả cho người bán, các khoản phải
nộp cho Nhà nước…
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường hình thức huy động vốn là rất đa dạng,
phong phú. Tùy từng đặc điểm riêng của mỗi doanh nghiệp mà có những phương
thức huy động vốn cho phù hợp.
1.2 . QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP.

1.2.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh
nghiệp.
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

10

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

1.2.1.1.Ý nghĩa của việc quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp
Là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh vấn đề tổ chức quản lý sử dụng
vốn lưu động có hiệu quả sẽ quyết định đến tăng trưởng và phát triển của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả thì càng có thể sản xuất
được nhiều sản phẩm, có nghĩa là càng tổ chức tốt quá trình mua sắm, sản xuất và
tiêu thụ, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển để vốn đó chuyển biến
nhanh từ hình thái này sang hình thái khác thì tổng số vốn lưu động sử dụng tương
đối ít hơn mà hiệu quả cao hơn.
Trong các doanh nghiệp, sự vận động của vốn lưu động phản ánh sự vận động
của vật tư hàng hóa. Số vốn lưu động nhiều hay ít phản ánh số lượng vật tư hàng
hóa dự trữ ở các khâu nhiều hay ít. Vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm
phản ánh số lượng vật tư hàng hóa sử dụng tiết kiệm hay lãng phí, thời gian nằm
trên các giai đoạn luân chuyển có hợp lý hay không, từ đó có thể kiểm tra một cách
toàn diện dối với các mặt mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để có
biện pháp quản lý vốn lưu động tốt hơn. Quản lý vốn lưu động là một bộ phận
trọng yếu của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Quản lý vốn lưu động
không những đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa
quan trọng trong việc giảm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm, tiết kiệm chi phí
bảo quản, đồng thời thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và thanh toán công nợ một cách
kịp thời. Do đặc điểm của vốn lưu động là luân chuyển nhanh nên nó góp phần
quan trọng đảm bảo sản xuất một khối lượng sản phẩm lớn. Vì vậy, kết quả hoạt
động của doanh nghiệp tốt hay xấu, phần lớn là do chất lượng công tác quản lý vốn
lưu động quyết định.

SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

11

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

1.2.1.2. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các
doanh nghiệp.
Vốn là tiền để của sản xuất kinh doanh song việc sử dụng vốn như thế nào cho
có hiệu quả mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng và phát triển của mỗi doanh
nghiệp. Với ý nghĩa đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói
chung và vốn lưu động nói riêng là nội dung rất quan trọng trong công tác quản lý tài
chính doanh nghiệp. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong
doanh nghiệp xuất phát từ các lý do chủ yếu sau:
Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. với bất kỳ một doanh
nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng nói lên kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất
kinh doanh và là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất mở rộng đặc biệt trong điều
kiện hạch toán kinh doanh, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không
thì điều quyết định là doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không? Tạo ra
nhiều hay ít? Vì thế lợi nhuận được coi là một đòn bẩy quan trọng, đồng thời là
một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận tác động
trực tiếp lên tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến
tình hình tài chính. Việc thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là điều quan trong đảm
bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp được vững chắc. Chính vì vậy, sản
xuất như thế nào để có lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng nhiều là mục tiêu phấn
đấu của tất cả các doanh nghiệp. Để đạt được điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp
phải tăng cường công tác tổ chức và quản lý sản xuất, trong đó có việc tổ chức
quản lý và sử dụng vốn sản xuất nói chung và vốn lưu động nói riêng. Có như vậy
mới mang lại lợi nhuận cao, góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển.
Xuất phát từ vai trò vị trí của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Vốn lưu động là bộ phận không thể thiếu được đối với mọi hoạt động sản
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

12

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

xuất. Trong cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, vốn lưu động là bộ phận
chiếm tỷ trọng khá lớn, nhất là đối với doanh nghiệp chế biến và doanh nghiệp
thương mại. Do đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động sẽ làm cho hiệu
quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung tăng lên. Đây cũng chính là mục
tiêu cần đạt tới của việc sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Hơn nữa, vốn là điểm xuất phát của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Như
đã nêu, vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau
như nguồn vốn vay, hiệu quả kinh tế đạt được nhìn chung còn thấp, trình độ quản
lý còn non kém, quá trình sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn thì việc bổ sung
vốn lưu động từ lợi nhuận để lại là rất hạn chế. Để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động
tăng thêm, các doanh nghiệp tất yếu phải sử dụng nguồn vốn bên ngoài và phải chi
trả chi phí sử dụng vốn, từ đó ảnh hưởng tới chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm, ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp. mà mục tiêu của mọi doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường là hướng tới lợi nhuận tối đã. Do đó việc sử
dụng vốn hợp lý tiết kiệm, có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm tới
mức thấp nhất chi phí sử dụng vốn, tạo điều kiện tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động: hiệu
quả sử dụng vốn lưu động là chỉ tiêu chất lượng phản ánh tổng hợp những cố gắng,
những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật, về tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý doanh
nghiệp nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển. Chất lượng sản xuất cao sẽ thu được
nhiều lãi, hoàn vốn nhanh.
Trong quá trình sản xuất của mình, các doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động
để đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được bình thường liên tục.
Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng hiệu quả thì càng có thể sản xuất và tiêu
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

13

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

thụ được nhiều sản phẩm. Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng
hợp lý, có hiệu quả hơn từng đồng vốn lưu động nhằm làm cho số vốn lưu động
được thu hồi sau mỗi chu kỳ sản xuất, có thể mua sắm được nhiều vật tư, sản xuất ra
nhiều sản phẩm hơn và tiêu thụ được nhiều hơn, từ đó thu được nhiều lợi nhuận.
Việc tăng tốc độ luân chuyển vốn cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển của vốn,
qua đó vốn được thu hồi nhanh hơn, có thể giảm bớt số vốn lưu động cần thiết mà
vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hóa bằng hoặc lớn hơn trước. nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm giá
chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và hạ giá thành sản phẩm. Do vậy mà việc nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ngày càng trở nên thiết thực và cấp bách.
1.2.2. Nội dung quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.2.2.1. Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
Nhu cầu VLĐ phát sinh trong chu kỳ sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp, nó thể hiện số vốn tiền tệ cần thiết doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra để
hình thành một lượng dự trữ hàng tồn kho và các khoản cho khách hàng nợ sau
khi đã sử dụng khoản tín dụng của nhà cung cấp và các khoản nợ phải trả khác có
tính chất chu kỳ như: Tiền lương phải trả, tiền thuế phải nộp….
Nhu cầu VLĐ có thể được xác định theo công thức sau:
Nhu cầu
VLĐ

=

Vốn
hàng tồn kho

+

Nợ phải
thu

-

Nợ phải trả
nhà cung cấp

Số vốn lưu động doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra tùy thuộc vào nhu cầu
vốn lưu động trong từng thời kỳ kinh doanh là lớn hay nhỏ. Trong công tác quản
lý vốn lưu động, vấn đề quan trọng là phải xác định được nhu cầu vốn lưu động
cần thiết tương ứng với một quy mô và điều kiện kinh doanh nhất định.

SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

14

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết tối thiểu là số vốn tính ra phải
đủ để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành một cách liên tục đồng
thời phải thực hiện chế độ tiết kiệm một cách hợp lý.
Trong điều kiện hiện nay, mọi nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động sản xuất
kinh doanh, các doanh nghiệp đều phải tự tài trợ, mọi nguồn tài trợ đều phải tính
đến chi phí sử dụng vốn. Do đó, việc xác định đúng đắn và hợp lý nhu cầu vốn
lưu động thường xuyên càng có ý nghĩa quan trọng bởi vì:
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên được xác định đúng đắn và hợp lý là
cơ sở để tổ chức tốt các nguồn tài trợ.
- Đáp ứng kịp thời đầy đủ vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp tiến hành bình thường và liên tục.
- Việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động vừa là cơ sở giúp cho hoạt
động sản xuất kinh doanh được diễn ra thuận lợi vừa là căn cứ để kiểm tra tình
hình sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu vốn lưu động
Vốn lưu động là một nhân tố động – không cố định mà thường xuyên biến
đổi do tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Do đó, muốn xác định đúng đắn
nhu cầu vốn lưu động nhà quản lý doanh nghiệp cần thiết phải chú ý đến các
nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu vốn lưu động, trong đó cần chú ý một số yếu tố
chủ yếu sau:
Thứ nhất, những yếu tố về đặc điểm, tính chất của ngành nghề kinh doanh
như: Chu kỳ, quy mô, tính thời vụ của công việc kinh doanh, tiến bộ khoa học kỹ
thuật …. Các yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến số vốn lưu động mà doanh
nghiệp phải ứng ra và thời gian ứng vốn.
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

15

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

Thứ hai, những yếu tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm: như khoảng
cách giữa các doanh nghiệp với các nhà cung cấp vật tư hàng hóa, sự biến động
về giá cả của các loại vật tư, hàng hóa mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động
sản xuất kinh doanh, khoảng cách giữa doanh nghiệp với thị trường bán hàng,
điều kiện và phương tiện vận tải….
Thứ ba, chính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm, tín dụng và tổ
chức thanh toán: Các chính sách tiêu thụ, tín dụng của doanh nghiệp ảnh hưởng
trực tiếp đến kỳ hạn thanh toán, quy mô các khoản phải thu. Việc tổ chức tiêu
thụ, thực hiện các thủ tục thanh toán, tổ chức thanh toán thu tiền bán hàng có ảnh
hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
Ngoài các nhân tố kể trên, nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp còn chịu
ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác như: Trình độ quản lý của nhà quản trị,
năng lực của cán bộ công nhân viên… Đối với nhà quản lý doanh nghiệp, việc
nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố trên là thực sự cần thiết.
1.2.2.3 Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết của
doanh nghiệp
a. Phương pháp trực tiếp.
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng
trực tiếp đến việc dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu dùng sản phẩm để xác định nhu
cầu của từng khoản vốn lưu động trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu
vốn lưu động của doanh nghiệp.
Sau đây là phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu của
doanh nghiệp:
- Nhu cầu vốn lưu động cho khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm nhu cầu vốn dự
trữ nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế...
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

16

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

Phương pháp chung để xác định nhu cầu vốn lưu động đối với từng loại vật tư dự
trữ là căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn bình quân một ngày và số ngày dự trữ đối
với từng loại để xác định rồi tổng hợp lại. Công thức tổng quát như sau:
m

n

∑∑

j = 1 i= 1

Vhtk =

(Mij x Nij)

Trong đó:
Vhtk: nhu cầu vốn hàng tồn kho
Mij: Chi phí sử dụng bình quân một ngày của hàng tồn khi i
Nij: số ngày dự trữ hàng tồn kho i
N: Số loại hàng tồn kho cần dự trữ
M: Số khâu cần dự trữ hàng tồn kho
Đối với các loại NVL chính có thể xác định theo công thức:
Vnvlc = Mnvlc x Nnvlc
Trong đó:
Vnvlc: Nhu cầu vốn dự trữ nguyên vật liệu chính
Mnvlc: Chi phí nguyên vật liệu chính sử dụng bình quân 1 ngày
Nnvlc: Số ngày dự trữ nguyên vật liệu chính
- Nhu cầu vốn lưu động dự trữ trong khâu sản xuất: Bao gồm nhu cầu vốn để
hình thành các sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí trả trước.
Nhu cầu này nhiều hay ít phụ thuiijc vào chi phí sản xuất bình quân một ngày, độ
dài chu kỳ sản xuất sản phẩm, mức độ hoàn thành sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm. Nhu cầu vốn sản phẩm dở dang, bán thành phẩm được xác định như sau:
Vsx = Pn x CKsx x Hsp
Trong đó:
Vsx: nhu cầu vốn lưu động sản xuất
Pn: chi phí sản xuất sản phẩm bình quân một ngày
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

17

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

CK+sx: độ dài chu kỳ sản xuất
H+sp: hệ số sản phẩm dở dang, bán thành phẩm
Chi phí trả trước là những chi phí đã phát sinh nhưng chưa phân bổ hết vào
giá thành sản phẩm sản xuất trong kỳ mà còn phân bổ cho các kỳ tiếp theo. Công
thức tính nhu cầu chi phí trả trước như sau:
Vtt = Pđk + Pps + Ppb
Trong đó:
Vtt: Nhu cầu chi phí trả trước
Pđk: Số dư chi phí trả trước đâu kỳ
Pps: Chi phí trả trước phát sinh trong kỳ
Ppb: Chi phí trả trước phân bổ trong kỳ
- Nhu cầu vốn lưu động trong khâu lưu thông: vón lưu động trong khâu lưu
thông bao gồm vốn dự trữ thành phẩm, vốn phải thu, phải trả.
+ Nhu cầu vốn thành phẩm: là số vốn tối thiểu dùng để hình thành lượng dự
trữ thành phẩm tồn kho, chờ tiêu thụ.
Vtp = Zsx x Ntp
Trong đó:
Vtp: nhu cầu vốn thành phẩm
Zsx: giá thành sản xuất sản phẩm bình quân một ngày kỳ kế hoạch
Ntp: số ngày dự trữ thành phẩm
+ Nhu cầu vốn nợ phải thu : nợ phải thu à khoản vốn bị khách hàng chiếm
dụng hoặc do doanh nghiệp chủ động bán chịu hàng hóa cho khách hàng. Do vốn
đã bị chiếm dụng nên để hoạt động sản xuất bình thường được doanh nghiệp phải
bỏ thêm vốn lưu động vào sản xuất.
Vpt = Dtn x Npt
Trong đó:
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

18

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

Vpt: vốn nợ phải thu
Dtn: doanh thu bán hàng bình quân một ngày
Npt: kỳ thu tiền trung bình (ngày)
+ Nhu cầu vốn nợ phải trả nhà cung cấp: Nợ phải trả là khoản vốn doanh
nghiệp mua chịu hàng hóa hay chiếm dụng của khách hàng.
Vpt = Dmc x Nmc
Trong đó:
Vpt: nợ phải trả kỳ kế hoạch
Dmc: doanh thu mua chịu bình quân ngày kỳ kế hoạch
Nmc: kỳ trả tiền trung bình cho nhà cung cấp
b. Phương pháp gián tiếp.
Phương pháp gián tiếp dựa vào phân tích tình hình thực tế sử dụng VLĐ của doanh
nghiệp năm báo cáo, sự thay đổi về quy mô kinh doanh và tốc độ luân chuyển
VLĐ năm kế hoạch, hoặc sự biến động nhu cầu VLĐ theo doanh thu thực hiện
năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp năm kế hoạch.
- Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với năm báo
cáo: thực chất phương pháp này là dựa vào thực tế nhu cầu VLĐ năm báo cáo và
điều chỉnh nhu cầu theo quy mô kinh doanh và tốc độ luân chuyển VLĐ năm kế
hoạch.

Vkh =

VBC

x

M KH
M BC
x (1 + t %)

Trong đó:
Vkh: vốn lưu động năm kế hoạch
MKH: mặc luân chuyển VLĐ năm kế hoạch
MBC: mức luân chuyển VLĐ năm báo cáo
t %: tỷ lệ rút ngắn kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

19

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

- Phương pháp dựa vào tổng mức luân chuyển vốn và tốc độ luân chuyển vốn
năm kế hoạch: theo phương pháp này, nhu cầu vốn lưu động được xác định căn cứ
vào tổng mức luân chuyển VLĐ và tốc độ luân chuyển VLĐ dự tính của năm kế
hoạch.

Vkh =

M kh
L kh

Trong đó:
Mkh: tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch (doanh thu thuần)
Lkh: số vòng quay VLĐ năm kế hoạch
1.2.2.4. Quản trị vốn tồn kho dự trữ.
a. Vốn tồn kho dự trữ và các nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ vốn tồn kho.
Tồn kho dự trữ là những tài sản mà DN dự trữ để đưa vào sản xuất hoặc bán
ra sau này. Căn cứ vào vai trò của chúng, tồn kho dự trữ của doanh nghiệp được
chia thành 3 loại: tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho sản phẩm dở dang, tồn kho
thành phẩm. Mỗi loại tồn kho dự trữ trên có vài trò khác nhau trong quá trình sản
xuất, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến
hành liên tục và ổn định.
Quy mô vốn tồn kho dự trữ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi mức tồn kho dự trữ
của DN. Tuy nhiên, từng loại tồn kho dự trữ lại có các nhân tố ảnh hưởng khác
nhau. Đối với tồn kho dự trữ nguyên vật liệu thường chịu ảnh hưởng bởi các yếu
tố quy mô sản xuất, khả năng sẵn sang cung ứng đến DN. Đối vơi các loại sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm thường chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố kỹ thuật,
công nghệ sản xuất, thời gian chế tạo sản phẩm, trình độ tổ chức sản xuất của
doanh nghiệp. Riêng đối với mức tồn kho thành phẩm, các nhâm tố ảnh hưởng
thường là số lượng mức tồn kho thành phẩm, sự phối hợp nhịp nhàng giữa khâu
sản xuất và khâu tiêu thụ, sức mua của thị trường…
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

20

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

b. Mô hình quản lý hàng tồn kho.
Tồn kho dự trữ làm phát sinh chi phí, do đó cần quản lý chúng sao cho tiết
kiệm, hiệu quả. Chi phí tồn kho dự trữ thường được chia thành 2 loại là chi phí lưu
giữ, bảo quản hàng tồn kho và chi phí thực hiện các hợp đồng cung ứng.
Mô hình quản lý hang tồn kho dự trữ trên cơ sở tối thiểu hóa tổng chi phí tồn
kho dự trữ đượ gọi là mô hình tổng chi phí tối thiểu. Nội dung cơ bản của mô hình
này là xác định được mức đặt hàng kinh tế (EQQ) để với mức đặt hàng này thì
tổng chi phí tồn kho dự trữ là nhỏ nhất.
Nếu gọi: C: tổng chi phí tồn kho
C1: Tổng chi phí lưu giữ tồn kho
C2: Tổng chi phí đặt hàng
c1: Chi phí lưu giữ bảo quản đơn vị hàng tồn kho
c2: Chi phí một lần thực hiện hợp đồng cung ứng
Qn: Số lượng vật tư hàng hóa cần cung ứng trong năm
Q: Mức hàng đặt mỗi lần
QE: Mức đặt hàng kinh tế
Ta có:
C = C 1 + C2

C=(

Q
2

x c1) + (

Qn
Q

x c2)

Suy ra, mức đặt hàng kinh tế Q:

Q=

2 xc2 xQn
c1

Số lần cung ứng trong năm:
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

21

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

L=

Qn
QE

Một nội dung quan trọng khác trong mô hình EQQ là xác định chính xác thời
điểm đặt hàng lần cung ứng kế tiếp.
Công thức xác định thời điểm tái dặt hàng như sau:

Qđh = n x

Qn
360

1.2.2.5. Quản trị vốn bằng tiền.
Vốn bằng tiền (gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) là một bộ
phận cấu thành tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Đây là loại tài sản có tính thanh
khoản cao nhất và quyết định khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Tuy
nhiên vốn bằng tiền bản thân nó không tự sinh lời, nó chỉ sinh lời khi được đầu tư
sử dụng vào một mục đích nhất định. Hơn nữa với đặc điểm là tài sản có tính
thanh khoản cao nên vốn bằng tiền cũng dễ bị thất thoát, gian lận lợi dụng. Quản
trị vốn bằng tiền của DN có yêu cầu cơ bản là vừa phải đảm bảo sự an toàn tuyệt
đối, đem lại khả năng sinh lời cao nhưng đồng thời cũng phải đáp ứng kịp thời các
nhu câu thanh toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp. Như vây khi có tiền mặt nhàn
rỗi, DN co thể đầu tư vào các chứng khoán ngắn hạn, hay cho vay, gửi ngân hàng
để thu lợi nhuận.
Quản trị vốn bằng tiền trong DN bao gồm các nội dung chủ yếu:
+ Xác định đúng đắn mức dự trữ tiền mặt hợp lý, tối thiểu để đáp ứng các
nhu cầu chi tiêu bằng tiền mặt của DN trong kỳ.
Có nhiều phương pháp xác định mức dự trữ tiền mặt hợp lý của DN. Cách
đơn giản nhất là căn cứ vào số liệu thống kê nhu cầu chi dung tiền mặt bình quân
một ngày và số ngày dự trữ tiền mặt hợp lý. Ngoài phương pháp này có thể vận

SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

22

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

dụng mô hình tổng chi phí tối thiểu trong quản trị vốn tồn kho dự trữ để xác định
mức tôn quỹ tiền mặt mục tiêu của DN.
+ Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt: Doanh nghiệp cần quản lý
chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt để tránh bị mất mát, lợi dụng. Thực hiện
nguyên tăc mọi khoản thu chi tiền mặt đều phải qua quỹ, không được thu chi ngoài
quỹ. Phân định rõ rang trách nhiệm trong quản lý vốn bằng tiền giữ kế toán và thủ
quỹ. Việc xuất nhập quỹ tiền mặt hàng ngày phải do thủ quỹ thực hiện trên cơ sở
chứng từ hợp thức và hợp pháp. Phải thực hiện đối chiếu, kiểm tra tồn quỹ tiền mặt
với sổ quỹ hàng ngày. Theo dõi quản lý chặt chẽ các khoản tiền tạm ứng, tiền đang
trong quá trình thanh toán, phát sinh do thời gian chờ đợi thanh toán ở ngân hàng.
+ Chủ động lập và thực hiện kế hoạch lưu chuyển tiền tệ hàng năm: Có
biện pháp phù hợp đảm bảo cân đối thu chi tiền mặt và sử dụng có hiệu quả nguồn
tiền mặt tạm thời nhàn rồi. Thực hiện dự báo và quản lý có hiệu quả các dòng tiền
nhập, xuất ngân quỹ trong từng thời kỳ để chủ động đáp ứng yêu cầu thanh toán nợ
của doanh nghiệp khi đáo hạn.
1.2.2.6. Quản trị các khoản phải thu.
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa
hoặc dịch vụ. Trong kinh doanh hầu hết các DN đều có khoản nợ phải thu nhưng
với quy mô, mức độ khác nhau. Nếu khoản phải thu quá lớn, tức số vốn của DN bị
chiếm dụng cao, hoặc không kiểm soát nổi sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt đốngản xuất
kinh doanh. Vì thế quản trị khoản phải thu là một nội dung quan trọng trong quản
trị tài chính của doanh nghiệp.
Để quản trị các khoản phải thu, DN cần chú trọng thực hiện các biện pháp
sau:
+ Xác định chính sách bán chịu hợp lý đối với từng khách hàng:
Nội dung chính sách bán chịu trước hết là xác định đúng đắn các tiêu chuẩn
hay giới hạn tối thiểu về mặt uy tín của khách hang để doanh nghiệp có thể chấp
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

23

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

nhận bán chịu Tùy theo mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn này mà doanh nghiệp áp
dụng chính sách bán chịu nới lỏng hay thắt chặt cho phù hợp.
Ngoài tiêu chuẩn bán chịu doanh nghiệp cũng cần xác định đúng đắn các điều
khoản bán chịu hàng hóa, dịch vụ, bao gồm việc xác định thời hạn bán chịu và tỷ
lệ chiết khấu thanh toán nếu khách hàng thanh toán sớm hơn thời hạn bán chịu
theo hợp đồng. Về nguyên tắc doanh nghiệp chỉ có thể nới lỏng thời hạn bán chịu
khi lợi nhuận tăng thêm nhờ tăng doanh thu tiêu thu lớn hơn chi phí tăng thêm cho
quản trị khoản phải thu của DN. Tương tự trường hợp áp dụng chính sách bán
hàng có chiết khấu thì chi phí tiết kiệm được trong quản lỳ khoản phải thu phải lớn
hơn phần lợi nhuận DN dành trả cho khách hàng go giảm giá thành bán chịu.
+ Phân tích uy tín tài chính của khách hàng mua chịu.
Để tránh các tổn thất do các khoản nợ không có khả năng thu hôi DN cần chú
ý đến phân tích uy tín tài chính của khách hàng mua chịu. Nội dung chủ yếu là
đánh giá khả năng tài chính và mức độ đáp ưng yêu cầu thanh toán của khách hàng
khi khoản vay đến hạn thanh toán.
Việc đánh giá uy tín tài chính của khách hàng mua chịu thường phải thực hiện
qua các bước: Thu thập thông tin về khách hàng; đánh giá uy tín khách hàng theo
các thông tin thu nhận được; lựa chọn quyết đị hnowi lỏng hay thắt chặt bán chịu,
thậm chí từ chối bán.
+ Áp dụng các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả thu hồi nợ:
Tùy theo điều kiện cụ thể áp dụng các biện pháp phù hợp như sau:
• Sử dụng kế toán thu hồi nợ chuyên nghiệp: có bộ phận kế toán theo dõi khách
hàng nợ; kiểm soát chặt chẽ nợ phải thu đối với từng khách hàng; xác định hệ số
nợ phải thu trên doanh thu hàng bán tối đa cho phép phù hợp với từng khách hàng
mua chịu.
• Xác định trọng tâm quản lý và thu hồi nợ trong từng thời kỳ để có chính sách thu
hồi nợ thích hợp: thực hiện các biện pháp thích hợp để thu hồi nợ đến hạn, nợ quá
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

24

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

hạn như gia hạn nợ, thỏa ước xử lý nợ, bán lại nợ, yêu cầu sự can thiệp của tòa án
kinh tế nếu khách hàng nợ chây ỳ hoặc mất khả năng thanh toán nợ.
• Thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro bán chịu như trích trước dự phòng phải
thu khó đòi; trích lập quỹ dự phòng tài chính.
1.2.3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp.
1.2.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng vốn lưu động
- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: Tốc độ luân chuyển VLĐ phản ánh mức
độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm và thường được phản ánh qua các
chỉ tiêu số vòng quay vốn lưu động và kỳ luân chuyển vốn lưu động.
+ Số lần luân chuyển VLĐ (hay số vòng quay VLĐ): là tỷ lệ giữa tổng
mức luân chuyển VLĐ trong kỳ và số VLĐ bình quân sử dụng trong kỳ.
Số lần luân chuyển
vốn lưu động

tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ

=

số VLĐ bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay của VLĐ trong một thời kỳ nhất định
(thường là 1 năm). Để đơn giản, tổng mức luân chuyển VLĐ thường được xác
định bằng doanh thu thuần trong kỳ. Số VLĐ bình quân được xác định theo
phương pháp bình quân số học. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy khả năng tổ chức
vốn lưu động và hiệu suất sử dụng vốn lưu động càng cao.
+ Kỳ luân chuyển VLĐ: là tỷ lệ giữa số ngày trong kỳ và số lần luân
chuyển VLĐ trong kỳ. Công thức xác định:
Kỳ luân chuyển VLĐ

SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

=

Số ngày trong kỳ (360 ngày)
Số lần luân chuyển VLĐ

25

Lớp: CQ48/11.02


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×