Tải bản đầy đủ

Xây dựng chương trình chuyển đổi từ tập tin văn bản sang sơ đồ tư duy dạng hình ảnh (tt)

1

MỞ ĐẦU
Hiện nay, Sơ đồ tư duy hay Bản đồ tư duy ngày càng được nhiều
người biết đến và được sử dụng như là một phương pháp ghi nhớ vô
cùng hiệu quả, bằng cách khai thác khả năng ghi nhớ của cả hai bán
cầu não, dựa trên sự kết hợp giữa văn bản, hình ảnh, màu sắc, các liên
kết và các yếu tố khác đã tạo nên một công cụ ghi nhớ đầy quyền năng
cho bộ não. Theo thống kê hiện nay, sơ đồ tư duy đang được hơn 250
triệu người trên thế giới sử dụng, đã và đang đem lại những hiệu quả
thực sự đáng kinh ngạc [1]. Với số lượng người sử dụng ngày càng
tăng thì nhu cầu về việc xây dựng các ứng dụng hỗ trợ SĐTD ngày
càng cần thiết. Hiện tại đã có một số ứng dụng hỗ trợ SĐTD, nhưng
các ứng dụng hiện nay vẫn chưa đáp ứng hết các nhu cầu của người sử
dụng và một số tính năng vẫn còn nhiều hạn chế.
Các ứng dụng hỗ trợ xử lý SĐTD trên máy tính đa số chỉ cho
phép tạo các SĐTD trên giao diện đồ họa trực quan của SĐTD, mà
điều này dẫn đến mốt số nhu cầu cần thiết mà SĐTD dạng trực quan
giải quyết không hiệu quả. Về hướng xử lý khác, hiện tại chỉ có một
trang web [2] hỗ trợ tao SĐTD bằng văn bản nhưng chỉ có tính năng
đơn giản và chưa giải quyết được nhu cầu thực tiển.

Hiện nay, tuy có nhiều nghiên cứu về khả năng ứng dụng, lợi ích
của SĐTD và các nghiên cứu về việc ứng dụng SĐTD. Trong thực tế,
các nghiên cứu về các kỹ thuật xử lý trên SĐTD hiện nay vẫn chưa
được phổ biến. Ngoài ra, SĐTD phục vụ cho nhiều lĩnh vực khác nhau


2

và nhiều người dùng khác nhau, mà không có sự phân loại rõ ràng các
loại SĐTD làm cho các kỹ thuật xử lý trên SĐTD chưa thực sự hiệu
quả so với mong muốn.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu và
đề xuất các phương pháp kỹ thuật xử lý trên SĐTD và dựa trên các
phương pháp kỹ thuật đã đề xuất để xây dựng chương trình hỗ trợ
chuyển đổi từ tập tin văn bản sang sơ đồ tư duy trực quan và các xử lý
liên quan. Thông qua đó, nhằm góp phần làm phong phú thêm các
phương pháp, kỹ thuật hỗ trợ SĐTD hiện tại, góp phần vào việc biểu
diễn thông tin trực quan, và gần gũi hơn với con người và sử dụng
SĐTD cho các xử lý khác trên máy tính.
Nội dung luận văn gồm bốn chương, Chƣơng 1 giới thiệu tổng
quan về vấn đề cần nghiên cứu, chỉ ra các vấn đề đang tồn tại của
SĐTD, sau đó khảo sát các công trình đã đăng tải liên quan đến vấn đề
của luận văn từ đó nêu lên những vấn đề còn tồn tại và chỉ ra những
vấn đề mà đề tài luận văn quan tâm. Chƣơng 2 mô tả một số lý thuyết
về SĐTD, phân loại SĐTD và đồng thời mô hình hóa SĐTD theo từng
loại. Chƣơng 3 trình bày phương pháp đặc tả SĐTD, các giải thuật
chuyển đổi văn bản với dạng ngôn ngữ SĐTD dựa trên ngôn ngữ tự
nhiên thành dạng ngôn ngữ quy ước đặc tả SĐTD và thành SĐTD
dạng hình ảnh trực quan và đồng thời trình bày một số kỹ thuật xử lý
trên SĐTD. Chƣơng 4 tiến hành cài đặt thực nghiệm chương trình
ứng dụng dựa trên các kỹ thuật đề ra, đánh giá hiệu quả của các
phương pháp kỹ thuật đề ra, và khả năng ứng dụng trong thực tế.


3


4

Chƣơng 1 - TỔNG QUAN

Để mang lại cái tổng quan về các vấn đề sẽ được đề cấp đến
trong luận văn, chương này sẽ khái quát các vấn đề mà chúng tôi tìm
hiểu và nghiên cứu. Dựa trên những nhu cầu của thực tiển về SĐTD
và những công nghệ, kỹ thuật hiện đang có, chúng tôi đúc kết những
thành tựu có thể kế thừa và vận dụng vào luận văn. Bên cạnh đó
chúng tôi cũng đưa ra một số mặt hạn chế của các công nghệ và kỹ
thuật hiện có để giải quyết các nhu cầu về SĐTD. Dựa vào đó cho
thấy được các vấn đề mà luận văn đang quan tâm. Ngoài ra chương
này còn đề cập đến một số ý nghĩa mà luận văn mang lại để giải quyết
các nhu cầu thực tiển cũng như đống gốp một phần nhỏ đề làm phong
phú thêm các kỹ thuật xử lý trên SĐTD trong tương lai.
1.1 Giới thiệu tổng quan
1.1.1 Tổng quan các vấn đề cần nghiên cứu
1.1.2 Các vấn đề của sơ đồ tư duy hiện nay
1.1.3 Các công trình liên quan
1.2

Mục tiêu và giới hạn của luận văn
Luận văn sẽ tìm hiểu và nghiên cứu các giải pháp, kỹ thuật để

thực hiện mục tiêu chính là xây dựng chương trình chuyển đổi từ tập
tin văn bản sang SĐTD dạng hình ảnh.


5

Nhằm đạt được mục tiêu chính kể trên, chúng tôi đặt ra một số
mục tiêu chi tiết như sau:
- Phân loại SĐTD và dựa trên các loại SĐTD đã phân loại được,
đề xuất ngôn ngữ quy ước đặc tả cho SĐTD tương ứng với từng
loại, nhằm phục vụ cho các phương pháp, kỹ thuật xử lý trên
SĐTD.
- Đề xuất ngôn ngữ quy ước cho SĐTD dựa trên ngôn ngữ tự
nhiên nhằm phục vụ cho việc trình bày SĐTD dạng văn bản.
- Tìm hiểu và nghiên cứu một số giải thuật để chuyển đổi từ văn
bản với dạng ngôn ngữ quy ước cho SĐTD dựa trên ngôn ngữ tự
nhiên sang dạng văn bản với dạng ngôn ngữ đặc tả SĐTD và từ
ngôn ngữ quy ước đặc tả SĐTD thành dạng hình ảnh dạng trực
quan.
- Tìm hiểu một số kỹ thuật trên SĐTD nhằm giải quyết một số
nhu cầu về SĐTD.
- Xây dựng chương trình chuyển đổi từ văn bản với dạng ngôn
ngữ quy ước cho SĐTD thành dạng SĐTD trực quan hỗ trợ cho
việc giảng dạy bằng SĐTD.
Giới hạn của luận văn là: Văn bản phải được trình bày theo cú
pháp của ngôn ngữ đặc tả SĐTD dựa trên ngôn ngữ tự nhiên. Ứng
dụng chủ yếu cho việc hỗ trợ giảng dạy bằng SĐTD


6

1.3

Ý nghĩa của luận văn
Nhu cầu thực tiển về một chương trình hỗ trợ hiệu quả về SĐTD

là khá cao và cần thiết. Do đó, mục tiêu của ứng dụng đặt ra là xây
dựng một chương trình hỗ trợ chuyển đổi văn bản dạng đặc tả SĐTD
sang dạng SĐTD trực quan. Ứng dụng này không mang tính chất phủ
định tính hiệu quả của các ứng dụng hỗ trợ SĐTD trên phương diện
SĐTD dạng trực quan đã có. Mà nó góp phần bổ xung thêm các tiện
ích nhằm khắc phục một số hạn chế mà các ứng dụng trên phương
diện SĐTD dạng trực quan mắc phải như sau:
- Tận dụng tài nguyên văn bản: Việc soạn thảo SĐTD dạng văn
bản tận dụng được các tài nguyên dạng văn bản hiện có, thông qua
một số hiệu chỉnh về cú pháp có thể chuyển đổi thành dạng SĐTD
dạng trực quan.
- Tận dụng đƣợc tài nguyên SĐTD: Dữ liệu SĐTD của chương
trình có đặc tả cụ thể, có thể được khai thác sử dụng cho các mục
đích khác.
- Tiện ích hơn khi SĐTD lớn: Việc hiệu chỉnh SĐTD dạng văn bản
có thể hỗ trợ một số tiện ích như : xóa, di chuyển các nút hoặc
nhánh trên SĐTD một cách khá dễ dàng, gióng như trên văn bản
thông thường, đặc biệt khi SĐTD càng nhiều chủ đề, vượt quá
khung nhìn trên SĐTD thì việc sử dụng văn bản vẫn tỏ ra hiệu quả,
trong khi trên giao diện trực quan gặp khá nhiều khó khăn.
- Việc ghép, nối, tách SĐTD khá dễ dàng: Việc ghép các SĐTD lại
với nhau hoặc chèn một SĐTD vào một SĐTD hiện có hay tách


7

một nhánh SĐTD thành một SĐTD mới trở nên dễ dàng như thao
tác copy văn bản thông thường.
- Dễ dàng chuyển đồi thành dạng văn bản thông thƣờng: Việc
lưu trữ SĐTD dạng văn bản có thể chuyển đổi thành dạng văn bản
thông thường dễ dàng hơn. Nhằm phục vụ cho viêc sử dụng văn
bản theo một số nhu cầu thực tế hoặc lưu trữ tài nguyên dạng văn
bản.
- Tiếc kiệm thời gian hơn: Việc soạn thảo SĐTD dạng văn bản có
thể rút ngắn thời gian tạo SĐTD hơn trong một số trường hợp có
thể rút ngắn thời gian hơn.
Bên cạnh việc nghiên cứu xây dựng ứng dụng đáp ứng nhu cầu
thực tiễn, đề tài còn có những đóng góp phát triển, đề xuất mới về kỹ
thuật cũng như giải pháp thiết kế tốt hơn các giải pháp hiện có theo
mục tiêu ứng dụng được đặt ra. Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu
về cấu trúc và các kỹ thuật trên SĐTD cho thấy được có thể sử dụng
SĐTD như một mô hình biểu diễn tri thức, vừa đáp ứng được các xử
lý tri thức trên máy tính đồng thời còn đem lại sự trực quan về tri thức
cho con người.
1.4

Kết luận chƣơng 1
Trong chương này đã sơ lược, khái quát một số vấn đề liên quan

đến SĐTD. Thông qua đó chúng tôi kế thừa được một số thành tựu
như: các ý nghĩa, lợi ích và ứng dụng của SĐTD trong thực tế, một số
kỹ thuật xử lý trên SĐTD đã có, các ý tưởng, kỹ thuật đồ họa về


8

SĐTD, và số lượng phong phú các SĐTD đang có hiện nay. Bên cạnh
đó chúng ta cũng thấy được những vấn đề về SĐTD hiện đang tồn tại
cần phải cải thiện và phát triển như: cần có sự phân loại cụ thể các
dạng SĐTD, và bổ xung thêm một số kỹ thuật mới để tạo nên sự tiện
ích cũng như góp phần làm phong phú thêm các kỹ thuật xử lý trên
SĐTD. Thông qua việc khái quát tình hình nghiên cứu về xử lý văn
bản dạng ngôn ngữ tự nhiên chúng tôi nhận thấy sưu hướng này vẫn
còn nhiều hạn chế, do đó định hướng xử lý văn bản dựa trên phương
pháp đặc tả SĐTD và dạng ngôn ngữ SĐTD dựa trên ngôn ngữ tự
nhiên.


9

Chƣơng 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trong chương này sẽ đề cập đến một số lý thuyết liên quan đến
SĐTD như: Nguồn gốc ra đời của SĐTD, ý nghĩa của SĐTD đối với
người dùng, một số lý thuyết về hình ảnh màu sắc ảnh hưởng đến quá
thị giác cũng như quá trình ghi nhớ của người sử dụng SĐTD.
Tiếp theo trong chương này đề cập đến các loại SĐTD. Để có
cái nhìn khái quát, hệ thống hóa về SĐTD chúng tôi dựa trên các tính
chất ý nghĩa và đặc trưng của các SĐTD để phân loại chúng thành
từng loại riêng biệt. Thông qua việc phân loại và mô hình hóa các loại
SĐTD sẽ cho thấy đặc điểm, cấu trúc của từng loại SĐTD, ứng dụng
của từng loại SĐTD riêng biệt, nhằm đưa các kỹ thuật xử lý phù hợp
với từng loại SĐTD tương ứng.
2.1 Giới thiệu về Sơ đồ tƣ duy
2.1.1 Lịch sử ra đời và sự phát triển của Sơ đồ tư duy
2.1.2 Một số khái niệm về Sơ đồ tư duy và ý nghĩa
2.1.3 Các thành phần quan trọng tạo nên ý nghĩa của Sơ đồ tư duy
2.2 Phân loại Sơ đồ tƣ duy
2.2.1 Sơ đồ tư duy dạng Đỉnh
Khái niệm: Là loại SĐTD dùng để biểu diễn thông tin một cách
trực quan, với thông tin các chủ đề con được thể hiện trên các cung


10

của SĐTD. Tuy nhiên thông tin của chủ đề trung tâm được thể hiện
trên một nút, còn được gọi là nút gốc.
Sử dụng loại SĐTD này để thu thập, tổng kết thông tin hoặc
trình bày các khái niệm, ý tưởng, các hướng dẫn hay tóm tắc nội dung
cho các bày giảng, các kế hoạch v.v…
Một SĐTD dạng Đỉnh được ký hiệu là VTOM (Vertex Type Of
Mindmap). Và được biểu diễn như sau:
VTOM =
2.2.2 Sơ đồ tư duy dạng Khối
Khái niệm: Là loại SĐTD dùng để sắp xếp thông tin một cách
trực quan, với thông tin các chủ đề được thể hiện trên các nút của
SĐTD. Các nút chưa thông tin thông thường có dạng hình chữ nhật,
hình elip hoặc hình đám mây v.v...
Thông thường sử dụng SĐTD dạng Khối để thu thập, tổng kết
thông tin hoặc trình bày các khái niệm, ý tưởng, các hướng dẫn hay
tóm tắt nội dung cho các bày giảng, các kế hoạch v.v…
Một SĐTD dạng Khối được ký hiệu là BTOM (Block Type Of
MindMap) và được biểu diễn như sau:
BTOM =
2.2.3 Sơ đồ tư duy dạng Trình bày
Khái niệm: Là loại SĐTD được thiết kế để hỗ trợ trình bày, diễn
thuyết.Với mục đích hướng người dùng tập trung vào thông điệp mà
người trình bày đang muốn nói. SĐTD dạng trình bày là một loại


11

được phát triển từ SĐTD dạng khối. Tuy nhiên, các nút được tổ chức
theo cấu trúc cây chỉ có một cấp và các nút lá có cung liên kết với
nhau theo dạng danh sách liên kết đơn.
Khi trình bày bằng SĐTD loại này, thông tin được trình bày bắt
đầu từ các chủ đề phía bên phải, làm việc theo chiều kim đồng hồ, đến
khi gặp chủ đề cuối cùng.
Sử dụng SĐTD dạng trình bày khi người sử dụng cần kể các câu
chuyện hay dẫn dắt người dùng tới một hành động, một kết quả nào
đó.
Đặc điểm của loại SĐTD này là giúp người xem có thể nhìn tổng
quan từ điểm bắt đầu quá trình diễn ra và kết quả đạt được. Khắc phục
được một nhược điểm khá lớn khi trình bày bằng các dạng văn bản,
khi đó thông tin nhanh chóng trôi dần từ đầu đến cuối, đôi khi vấn đề
trình bày khá dài dòng, tới điểm cuối thì người nghe lại quên dần các
điểm đầu và giữa. Hơn nữa, khi trình bày theo dạng văn bản theo trình
tự từ đầu đến cuối sẽ gặp trường hợp không trình bày được tới đích
khi nội dung quá dài, do các vấn đề về thời lượng trình bày, hoặc nội
dung trình bày. Loại SĐTD này có xu hướng hiện thị thông tin theo
dòng chảy của các ý tưởng để người xem theo dõi các bước và các
thông tin liên quan đến từng bước của quá trình đang trình bày. Do đó
người trình bày có thể trình bày được quy trình của kịch bản từ đầu
đến cuối.
Không giống như các sơ đồ dạng tham khảo ý kiến, SĐTD dạng
trình bày được thiết kế để theo dõi các cuộc thảo luận và hình dung


12

dòng chảy cụ thể của nó, chứ không phải là kiểm soát các phiên thông
qua những ý tưởng thu thập.
Chủ đề chính đầu tiên thông thường là phần tổng quan vấn đề
cần trình bày và chủ đề kết thúc là kết quả cần trình bày.
SĐTD dạng trình bày ký hiệu là PTOM (Presentation Type Of
MindMap) và được biểu diễn như sau:
PTOM =
2.2.4 Sơ đồ tư duy dạng Kế hoạch
Khái niệm: Là loại SĐTD được thiết kế để trình bày kế hoạch
hoạt động. Với mục đích tổng hợp các hoạt động riêng lẻ để hướng tới
hoàn thành kế hoạch chính cần đạt được. SĐTD dạng kế hoạch là một
loại được phát triển từ SĐTD dạng khối.
SĐTD dạng kế hoạch các chủ đề có hướng thông tin từ ngoài
vào trong. Thông tin của các chủ đề là các từ, hình ảnh chỉ các hành
động cụ thể liên quan nội dung kế hoạch ở chủ đề trung tâm.
Để xây dựng SĐTD dạng này đầu tiên cần xác định chủ đề trung
tâm, sau đó thêm các chủ đề chính, và sau đó tạo ra các ý tưởng cho
các tiểu chủ đề . Giai đoạn thứ hai là tổ chức, và xác định phạm vi. Ở
giai đoạn này, cần so sánh những điều đang đặt trên SĐTD với các kế
hoạch chiến lược, để đảm bảo rằng chúng ta đang đi đúng hướng, và
cũng nhìn vào tính khả thi và mong muốn của các ý tưởng. Từ các kết
quả trên SĐTD, tiếp tục tinh chỉnh nó cho đến khi có được một kế
hoạch hành động cho từng lĩnh vực, bằng cách xác nhận các mục tiêu


13

và đảm bảo các nhiệm vụ đã được xác định đúng, và sau đó ưu tiên và
lập kế hoạch cho chúng. Cuối cùng và quan trọng nhất của quá trình
này là để đảm bảo rằng có biện pháp thích hợp để theo dõi và phản hồi
vào các kế hoạch tương lai. Những cơ chế này có thể được xây dựng
thành các SĐTD tổng hợp và tạo các link đến các kế hoạch cụ thể, vì
vậy cần ghi lại các thông tin phản hồi ở các vị trí thích hợp trên SĐTD
khi kế hoạch này được đưa vào hoạt động.
Sơ đồ dạng kế hoạch ký hiệu PNTOM(Planning Type Of MindMap)
và được biểu diễn như sau:
PNTOM =
2.2.5 Sơ đồ tư duy dạng Cây
Khái niệm: Là dạng SĐTD trình bày thông tin theo cấu trúc
cây, một cách trực quan. Thông tin được trình bày theo chiều hướng
từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, từ phải qua trái chỉ theo một chiều
nhất định. SĐTD sẽ có đặc điểm đặc trưng là , có thể sử dụng màu sắc
phân biệt các nhánh, có thể dùng hình ảnh, icon để minh họa cho mỗi
hoạt động, dùng các liên kết để liên kết đến các vấn đề liên quan đến
hoạt động v.v..
Sơ đồ dạng này được ký hiệu là TTOM(Tree Type Of
MindMap), và được biểu diễn như sau:
TTOM =


14

2.3

Kết luận chƣơng 2
Trong chương này đã trình bày các lý thuyết cơ bản của SĐTD,

lý do ra đời của SĐTD, một số khái niệm liên quan SĐTD, và ý nghĩa
của chúng. Đồng thời, cũng đề cập đến các thành phần quan trọng trên
SĐTD là hình ảnh và màu sắc cũng như ý nghĩa của chúng với thị giác
và quá trình ghi nhớ thông tin.
Dựa vào các đặc điểm trên SĐTD đã phân loại SĐTD thành 5
loại chính, đưa ra khái niệm, ý nghĩa, mô hình và cấu trúc các thành
phần thông tin trên từng loại SĐTD. Thông qua việc phân loại SĐTD
cũng đưa ra các minh họa cụ thể tương ứng từng loại SĐTD, làm rõ
các thành phần trên SĐTD và sự kết hợp của các thành phần riêng lẻ
tạo nên SĐTD.


15

Chƣơng 3 - PHƢƠNG PHÁP ĐẶC TẢ VÀ KỸ THUẬT
XỬ LÝ TRÊN SƠ ĐỒ TƢ DUY
Trong chương này trình bày ngôn ngữ quy ước đặc tả SĐTD, từ
ngôn ngữ đặc tả trên sẽ đề cập đến giải thuật chuyển đổi từ ngôn ngữ
quy ước đặc tả SĐTD thành dạng hình ảnh trực quan. Để thuận tiện
hơn cho việc sử dụng SĐTD, trong phần này cũng đề cập đến ngôn
ngữ SĐTD hướng tự nhiên, nhằm hỗ trợ người sử dụng SĐTD có thể
tạo ra SĐTD bằng dạng văn bản dưới dạng ngôn ngữ gần với ngôn
ngữ tự nhiên, thay vì sử dụng phương pháp đồ họa như trước đây. Bên
cạnh đó, trong chương này cũng đề cập giải thuật chuyển đồi từ văn
bản dưới dạng ngôn ngữ SĐTD hướng tự nhiên sang dạng ngôn ngữ
đặc tả SĐTD và hiển thị SĐTD dạng trực quan. Cuối cùng chương
này sẽ trình bày một số kỹ thuật xử lý trên SĐTD nhằm đem lại hiệu
quả cho người sử dụng SĐTD.
3.1 Đề xuất ngôn ngữ quy ƣớc đặc tả Sơ đồ tƣ duy
Để phục vụ cho các xử lý trên SĐTD trong mục này sẽ đề cập
đến ngôn ngữ quy ước đặc tả trên SĐTD. Là đặc tả các cấu trúc thành
phần của SĐTD dạng văn bản máy tính có thể xử lý được. Với cấu
trúc đặc tả này thông qua giải thuật chuyển đổi có thể hiển thị thành
SĐTD dạng hình ảnh trực quan. Để tiện cho việc trình bày các phần
sau chúng tôi ký hiệu ngôn ngữ quy ước đặc tả SĐTD là:
MMSL(Mind Map Specification Language). Để tận dụng công nghệ


16

hiện có và tiện ích xử lý sau này, các đặc tả trong mục này chúng tôi
dựa trên ngôn ngữ XML.
3.1.1 Đặc tả cho Sơ đồ tư duy dạng Đỉnh
3.1.2 Đặc tả cho Sơ đồ tư duy dạng Khối
3.1.3 Đặc tả cho Sơ đồ tư duy dạng Trình bày
3.1.4 Đặc tả cho Sơ đồ tư duy dạng Kế hoạch
3.1.5 Đặc tả cho Sơ đồ tư duy dạng Cây
3.2 Đề xuất ngôn ngữ đặc tả cho Sơ đồ tƣ duy dựa trên ngôn ngữ
tự nhiên
Ở mục trước chúng ta đã được giới thiệu về ngôn ngữ quy ước
đặc tả SĐTD hay còn gọi là MMSL. Như chúng ta đã thấy, SĐTD
được trình bày dạng MMSL thì tính xử lý được. Tuy nhiên văn bản
trình bày dạng MMLS cấu trúc tương đối phức tạp, đối với những
người dùng thông thường thì việc này tương đối khó khăn. Để đơn
giản hơn về cú pháp, chúng ta đặc tả thêm một ngôn ngữ trung gian
đơn giản để giao tiếp giữa máy tính và người sử dụng. Ở đây chúng tôi
tạm gọi là Ngôn ngữ SĐTD dựa trên ngôn ngữ tự nhiên, gọi tắc là
NLMM(Natural Language - based Mind Map).
Quy trình chuyển đổi từ văn bản dưới dạng NLMM sang hình
thức SĐTD dạng hình ảnh trực quan được minh họa như hình bên
dưới:


17

Văn bản dạng
NLMM

Trình
dịch

Văn bản
dang MMSL

Trình hiển
thị

SĐTD dạng
Hình ảnh trực quan

Hình 3.4: Mô hình chuyển đổi từ MMSL sang SĐTD trực quan
Trong đó trình dịch sẽ được trình bày trong mục tiếp theo.
MMSL là ngôn ngữ đặc tả SĐTD đã được trình bày ở chương trước.
Trong mục này sẽ tập trung tìm hiểu về NLMM các cấu trúc và thành
phần của nó.
Một văn bản thông thường có thể được soạn thảo trên trình soạn
thảo bất kỳ được xem là văn bản dưới dạng NLMM khi nội dung văn
bản trình bày đúng cú pháp được đặc tả trong NLMM.
NLMM bao gồm các thành phần sau:
NLMM = <Σ, S, R>
 Trong đó:
 Σ là bảng từ vựng. Bao gồm một số từ khóa đơn giản liên quan
đến cách thành phần trên SĐTD, các từ khóa này cũng thường
được con người sử dụng ví dụ:
Σ ={Tilte, MainTopic, Topic, Bound, Callout, Image, Link,
Note,
Comment, Child, End}
 S là tập cú pháp (Systax) để trình bày văn bản.


18

Tập cú pháp của NLMM được hình thành từ các biểu thức
(Expression) dựa trên bảng từ vựng cho trước. Sau đây là một số cú
pháp thông dụng trong NLMM:
 R: Luật(Rules) để cho biết mối quan hệ giữa các từ khóa của
dạng NLMM tương ứng với thành phần nào trên đặc tả dạng
MMSL. Ở đây chúng tôi sử dụng các luật sinh dạng đơn giản
dạng a => b và không có luật sinh qua nhiều cấp.
3.3 Giải thuật chuyển đồi Sơ đồ tƣ duy dạng văn bản NLMM
sang dạng MMSL và hình ảnh trực quan
3.4 Một số kỹ thuật xử lý trên Sơ đồ tƣ duy
3.4.1 Kỹ thuật hiện lần lược các nút trên Sơ đồ tư duy
3.4.2 Kỹ thuật che dấu các nút, nhánh trên Sơ đồ tư duy
3.4.3 Kỹ thuật trên nhánh của Sơ đồ tư duy
3.4.4 Một vài kỹ thuật hỗ trợ trình chiếu trên nhiều SĐTD
3.5

Kết luận chƣơng 3
Chương này đã trình bày về MMSL một ngôn ngữ đặc tả SĐTD.

Các cấu trúc tương ứng của MMSL theo từng loại SĐTD, tuy nhiên
MMSL có cấu trúc khá phức tập khó sử dụng. Nhằm giảm độ phức tạp
cho người sử dụng chúng tôi đã trình bày về NLMM một dạng đặc tả
SĐTD dựa trên ngôn ngữ tự nhiên, nghĩa là ngôn ngữ này gần gióng


19

ngôn ngữ tự nhiên và chỉ phục vụ cho các xử lý trên SĐTD. Nhằm
phục vụ cho mục đích trình bày SĐTD dạng văn bản dựa trên NLMM.
Bên cạnh đó, chương này cũng đề cập đến giải thuật để chuyển
đổi từ đặc tả dạng MMSL sang dạng NLMM và dạng SĐTD trực
quan. Nhằm phục vụ cho mục đích trình bày SĐTD dạng văn bản.
Cuối cùng, trong chương này đề cập đến một số kỹ thuật trên
SĐTD như là: các kỹ thuật hiển thị, che dấu các nút và nhánh trên
SĐTD, các kỹ thuật xử lý trên nhánh của SĐTD và trên các SĐTD.


20

Chƣơng 4 - CÀI ĐẶT VÀ KIỂM THỬ
Trên cơ sở ứng dụng các giải pháp đã được nghiên cứu, chúng
tôi xây dựng thử nghiệm chương trình chuyển đổi tập tin văn bản dưới
dạng NLMM thành dạng SĐTD dạng hình ảnh trực quan phục vụ cho
mục đích hỗ trợ tạo và trình bày bài giảng điện tử bằng SĐTD.
Trong đó chúng tôi đưa ra mô hình cài đặt thử nghiệm và sau đó cài
đặt chương trình cho phép người dùng soạn thảo SĐTD bằng văn bản
dưới dạng NLMM, rút trích nội dung văn bản từ tập tin định dạng
word dựa vào đặc trưng của văn bản, hỗ trợ chèn các cú pháp tương
ứng các thành phần trên SĐTD, chèn một SĐTD dạng văn bản với
định dạng NLMM vào một văn bản dưới định dạng NLMM khác.
Chương trình cung cấp chức năng chuyển đổi văn bản dưới dạng
NLMM sang dạng MMSL thông qua việc cài đặt các giải thuật chuyển
đổi NLMM sang dạng MMSL. Ngoài ra chương trình còn hỗ trợ một
số chỉnh sửa trên SĐTD dạng hình và hỗ trợ chức năng trình chiếu.
Tiếp theo là thử nghiệm chương trình trên một số dữ liệu mẫu đánh
giá và đưa ra kết quả.
4.1 Thiết kế hệ thống
4.1.1 Mục tiêu ứng dụng
Mục tiêu của ứng dụng là xây dựng một chương trình hỗ trợ
SĐTD, cho phép người dùng chuyển đổi SĐTD bằng dạng văn bản
theo cấu trúc của MMSL thành SĐTD dạng hình ảnh và hỗ trợ một số


21

tiện ích trên SĐTD dạng hình ảnh. Chương trình này được xây dựng
để hỗ trợ những người sử dụng SĐTD, cung cấp một tùy chọn mới
đến các học sinh, sinh viên, các nhà nghiên cứu, các nhà kinh doanh
có thể tổng hợp thông tin, sáng tạo, và trình bày thông tin dựa trên
SĐTD.
Tạo giao diện thống nhất kết hợp giữa việc sử dụng SĐTD dạng
văn bản và SĐTD dạng hình ảnh, để tăng tính linh hoạt đáp ứng mục
tiêu của người sử dụng.
Ứng dụng một số kỹ thuật mới trên SĐTD trong việc soạn thảo
và trình bày SĐTD thông qua đó kiểm tra tính ứng dụng hiệu quả của
các kỹ thuật này trên thực tế.
4.1.2 Chức năng chương trình
4.1.3 Quy trình sử dụng chương trình
Định dang

Văn bản
dạng NLMM

Kết xuất

Văn bản
dạng rút trích

Rút trích đặc
trưng từ văn bản

Văn bản dạng tự
nhiên

Giải thuật
Chuyển đổi
SĐTD dạng
MMSL

Hiển thị

SĐTD dạng
trực quan

Đặt các
chỉ mục

Trình bày
SĐTD

Kết xuất
Hình ảnh

Hình 4.1: Quy trình sử dụng chƣơng trình


22

4.2

Cài đặt thử nghiệm

4.2.1 Nền tảng công nghệ
4.2.2 Giao diện chương trình
4.3

Kết quả thực nghiệm
Để đánh giá hiệu quả của chương trình chúng tôi sử dụng hai

thông số là số lượng văn bản chuyển đổi thành dạng hình ảnh thành
công và chấp nhận được, và tham số thứ hai số lượng chuyển đổi chưa
hoàn chỉnh không đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng SĐTD.
Hiện tại tôi đã kiểm thử chương trình trên mỗi loại 50 mẫu dựa
trên các hình ảnh có sẳn tương ứng cho 2 loại SĐTD: dạng đỉnh, dạng
khối với kết quả như sau:


23

Bảng 4.2: Bảng kết quả thực nghiệm lần 2
Số lƣợng chuyển đổi

Phải hiệu chỉnh

thành công

Trên dạng trực quan

Dạng đỉnh

50

0

Dạng khối

46

0

Loại SĐTD

Như kết quả được liệt kê ở bảng trên số lượng SĐTD chuyển đổi
từ văn bản sang dạng hình ảnh trực quan được tính dựa trên các yếu tố
về các từ khóa, hiển thị của các nút, cạnh và sự phối hợp giữa thành
phần cơ bản trên SĐTD. Ở đây trong thử nghiệm này chúng tôi không
xét đến yếu tố hình ảnh, icon, tập tin đính kèm và một số thành phần
phụ trên SĐTD vì các SĐTD được thu thập từ nhiều nguồn, và không
được cung cấp hình ảnh, tập tin, hay các ghi chú đính kèm.
4.4

Kết luận chƣơng 4

Trong chương này, chúng ta đã được giới thiệu về chương trình
chuyển đổi văn bản với dạng ngôn ngữ SĐTD dựa trên ngôn ngữ tự
nhiên sang dạng SĐTD dạng hình ảnh trực quan. Trong đó đã giới
thiệu qua mục tiêu của ứng dụng, các chức năng của chương trình, quy
trình thực hiện. Bên cạnh đó trong chương này cũng giới thiệu qua về
cài đặt chương trình thử nghiệm, trong đó đã giới thiệu các mục bao
gồm: nền tảng công nghệ đã sử dụng, các thiết kế giao diện của
chương trình, chức năng tương ứng. Cuối cùng chương này đề cập đến


24

các thử nghiệm trên SĐTD dạng Khối và dạng Đỉnh với dữ liệu mẫu
và đưa ra kết quả thử nghiệm.


25

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
 Kết quả của luận văn
So với mục tiêu ban đầu đề ra, chúng tôi đã hoàn thành được
mục tiêu chính đặc ra là: Xây dựng chương trình chuyển đổi văn bản
sang SĐTD dạng hình ảnh. Cung cấp các chức năng năng để hỗ trợ
cho việc ghi chú, soạn thảo và trình chiếu trên SĐTD, ứng dụng để hỗ
trợ cho công tác giảng dạy của các giáo viên. Đưa ra một cách tiếp cận
mới về công cụ hỗ trợ SĐTD, một công cụ hỗ trợ soạn thảo SĐTD
dựa trên dạng văn bản. Các tiếp cận này tạo một góc nhìn mới cho
việc thiết kế và trình bày bày giảng điện tử dựa trên SĐTD. Đồng thời
nó còn là một công cụ để tổ chức các tài liệu, bài giảng dạy một cách
có hệ thống và trực quan. Ngoài ra ứng dụng hỗ trợ soạn thảo SĐTD
dạng văn bản còn là một lựa chọn phù hợp cho việc tổng hợp các
SĐTD có số lượng các chủ đề nhiều và phức tạp. Ngoài ra trong luận
văn này cũng đã xây dựng trình soạn thảo SĐTD dựa trên văn bản với
ngôn ngữ NLMM. Nhằm hỗ trợ tính tiện ích cho người sử dụng và
hạn chế các sai sót trong cú pháp trong quá trình soạn thảo. Dựa vào
đó ứng dụng một số kỹ thuật xử lý trên SĐTD dạng văn bản.
Thông qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu chi tiết các vấn đề liên
quan đế SĐTD, để hoàn thành mục tiêu của luận văn chúng tôi đã xây
dựng được một số giải pháp kỹ thuật tương ứng như:
- Phân loại hóa các loại SĐTD dựa vào các đặc trưng của từng
loại. Đưa ra mô hình, cấu trúc, thành phần tương ứng của từng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×