Tải bản đầy đủ

ôn thi tâm lý học đại cương

TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG

Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 1


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG

Câu 1: Khái niệm và đặc điểm của hiện tượng tâm lý:
1.Khái niệm: Là hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não sinh ra gọi
chung là hoạt động tâm lý.
2.Đặc điểm:
- Các hiện tượng tâm lý của con người vô cùng đa dạng, phức tạp, phong phú.
- Các hiện tượng tâm lý con người là hiện tượng tinh thần, tồn tại chủ quan trong đầu óc
con người. Nó giúp con người định hướng, điều khiển, điều chỉnh hoạt động. Chúng ta
không thể cân, đong, đo, đếm… nhưng vẫn có thể nghiên cứu được thông qua sự biểu hiện
ra ngoài của chúng một cách thường xuyên.
- Các hiện tượng tâm lý trong cùng một chủ thể luôn có sự tương tác lẫn nhau
- Các hiện tượng tâm lý con người có sức mạnh vô cùng to lớn, chi phối hoạt động của con

người.
Câu 2: Đối tượng, nhiệm vụ và các phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học:
1.Đối tượng nghiên cứu: Tâm lý học nghiên cứu sự nảy sinh, vận hành và phát triển của
các hoạt động tâm lý.
2.Nhiệm vụ nghiên cứu:
Mô tả và nhận diện các hiện tượng tâm lý.
Nghiên cứu bản chất của hoạt động tâm lý, những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh
hưởng đến hoạt động tâm lý.
Nghiên cứu cơ chế hình thành, hình thức biểu hiện, quy luật hoạt động và phát triển của
các hiện tượng tâm lý.
Chức năng, vai trò của tâm lý đối với hoạt động của con người.
Ứng dụng những thành tựu đã nghiên cứu vào trong hoạt động thực tiễn của con người.
3.Các phương pháp nghiên cứu:
*Phương pháp quan sát:
Nội dung:nhà nghiên cứu sử dụng các cơ quan cảm giác của mình nhằm tri giác sự biểu
hiện ra ngoài một cách thường xuyên các đặc điểm tâm lý bên trong của đối tượng để thu
thập thông tin cần thiết phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
Các hình thức quan sát: Kín-mở; Toàn diện - bộ phận; Có trọng điểm - không có trọng
điểm; Chiến lược - chiến thuật; Tiêu chuẩn hóa - không tiêu chuẩn hoá.
Ưu và nhược điểm:
- Dễ tiến hành; tư liệu phong phú;
- Tiết kiệm.
- Tuy nhiên thường bị phụ thuộc, tư liệu thường là cảm tính, trực quan, độ tin cậy không
cao, tốn nhiều thời gian và đôi khi không đạt được mục đích.
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 2


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Yêu cầu: Khi tiến hành nghiên cứu cần phải:
+ Xác định rõ mục đích, nội dung, kế hoạch quan sát.
+ Chuẩn bị chu đáo về mọi mặt trước khi quan sát
+ Tiến hành quan sát một cách cẩn thận và có hệ thống.
+ Ghi chép và phân tích ti liệu một cách đầy đủ, trung thực, khách quan.
+ Cần phải kết hợp với các phương pháp khác trong nghiên cứu.
Quan sát lại lần nữa để kiểm tra các kết quả đ quan st.
*Cách quan sát:Sử dụng cái gì để quan sát?
Dùng các cơ quan cảm giác như: mắt, tai, mũi, lưỡi, da. Trong đó mắt và tai là sử dụng
thường xuyên hơn.

Sử dụng như thế nào?
- Dùng mắt để nhìn:
+ Những đặc điểm tĩnh như: Hình dáng; mặt (trán, chân mày, mắt, mũi, gò má, miệng,
cằm, tai…); trang phục (đồng phục, màu sắc…)
+ Những đặc điểm động như: Dáng (đi, đứng, ngồi, nằm); đầu, chi…
- Dùng tai để nghe: Chú ý đến từ ngữ, ngữ điệu, nội dung.
- Cần kết hợp các cơ quan cảm giác khi quan sát.
* Phương pháp thực nghiệm:
- Nội dung: thực nghiệm là phương pháp chủ động tác động vào đối tượng trong điều kiện
đã được khống chế để gây ra ở đối tượng những biểu hiện về mối quan hệ nhân quả, tính
quy luật, cơ chế... của các hiện tượng tâm lý.
- Thường được dùng kèm với phương pháp quan sát để hạn chế nhược điểm của phương
pháp quan sát.
- Ưu và nhược điểm: rất chủ động; tài liệu tương đối tin cậy có thể định tính và định lượng
được; có thể lặp đi lặp lại nhằm kiểm tra. Tuy nhiên không hoàn toàn có thể khống chế
những yếu tố chi phối đến kết quả nghiên cứu; và có thể tốn kém về mặt kinh tế.
Có 2 loại thực nghiệm cơ bản:
- Thực nghiệm tự nhiên được tiến hành trong các điều kiện hoạt động bình thừơng của đối
tượng thực nghiệm.
Thực nghiệm tự nhiên có 2 loại: Thực nghiệm nhận định: là loại thực nghiệm nhằm xác
định tình trạng những vấn đề tâm lý ở đối tượng thực nghiệm. Thực nghiệm hình thành:
nhằm hình thành một phẩm chất tâm lý nào đó ở đối tượng thực nghiệm dưới tác động của
nhà nghiên cứu.
- Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm là loại thực nghiệm được tiến hành trong điều kiện
khống chế một cách nghiêm ngặt các tác động chi phối, ảnh hưởng từ bên ngoài.
* Phương pháp đàm thoại:
Nội dung: là phương pháp sử dụng lời nói giao tiếp với đối tượng nghiên cứu nhằm thu
thập những thông tin cần thiết.
Có nhiều cách trao đổi, đàm thoại với đối tượng: đặt ra các nội dung trao đổi; đặt ra những
câu hỏi trực tiếp, gián tiếp...
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 3


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Ưu và nhược điểm: dễ nghiên cứu; kinh tế; chủ động. Tuy nhiên tư liệu thu được dễ bị đối
tượng ngụy trang; phụ thuộc nhiều vào tâm trạng của đối tượng.
Muốn đàm thoại có kết quả tốt cần ch ý:
- Xác định r vấn đề cần tìm hiểu
- Tìm hiểu trước thông tin về đối tượng đàm thoại với 1 số đặc điểm của họ.
- Có kế hoạch để chủ động điều khiển qu trình đàm thoại.
- Nên linh hoạt trong qu trình điều khiển 1 cuộc đàm thoại để nó vừa giử được tính logic,
vừa đáp ứng được yêu cầu của người nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
Nội dung: là phương pháp dựa vào sản phẩm vật chất và tinh thần của đối tượng để nghiên
cứu về các đặc điểm tâm lý của đối tượng đó.
Yêu cầu:
+ Cần phải cẩn trọng trong nghiên cứu, đánh giá.
+ Phải đặt trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể để nghiên cứu, đánh giá.
* Phương pháp điều tra
Nội dung: là phương pháp sử dụng một hệ thống câu hỏi được trình bày bằng văn bản
thông qua việc trả lời của đối tượng nghiên cứu để thu thập những thông tin cần thiết.
Ưu và nhược điểm: dễ nghiên cứu; thông tin thu thập được trên một loạt đối tượng, dễ xử
lý bằng toán thống kê. Tuy nhiên các ý kiến thường mang tính chủ quan, đối tượng dễ trả
lời giả tạo.
Yêu cầu:
- Câu hỏi soạn thảo phải rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với đối tượng.
- Cách trả lời câu hỏi phải được nhà nghiên cứu hướng dẫn cụ thể.
* Phương pháp nghiên cứu hồ sơ, tài liệu.
Nội dung: là phương pháp nghiên cứu lịch sử về quá trình hoạt động của cá nhân đối tượng
nghiên cứu, trên cơ sở đó có những đánh giá, nhận định về vấn đề nghiên cứu.
Yêu cầu:
+ Cần phải nhìn nhận đánh giá các vấn đề tâm lý trong tính lịch sử, cụ thể và phát triển.
+ Tránh thành kiến, áp đặt chủ quan.
+ Kết hợp với phương pháp khác trong nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
Nội dung: là phương pháp dựa vào sản phẩm vật chất và tinh thần của đối tượng để nghiên
cứu về các đặc điểm tâm lý của đối tượng đó.
Yêu cầu:
+ Cần phải cẩn trọng trong nghiên cứu, đánh giá.
+ Phải đặt trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể để nghiên cứu, đánh giá.
* Phương pháp trắc nghiệm
Nội dung: “Test” là một phép thử đã được chuẩn hoá dùng đề đo lường một phẩm chất tâm
lý nào đó ở đối tượng nghiên cứu.
Cấu tạo của “Test” gồm 4 phần: Văn bản “Test”; quy trình tiến hành; khoá “test”; Bản
đánh giá.
Ưu - nhược điểm: dễ tiến hành; có thể đo nhiều đối tượng; tính mục đích trong nghiên cứu
cao. Tuy nhiên khó soạn thảo.

Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 4


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Câu 3: Khái niệm, đặc điểm của nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính:

1. Nhận thức cảm tính: là mức độ nhận thức đầu tiên, mức độ nhận thức thấp nhất của con
người, trong đó con người mới chỉ phản ánh những thuộc tính bên ngoài, những cái đang
tác động trực tiếp đến các cơ quan cảm giác tương ứng của con người.
Đặc điểm: Trong nhận thức cảm tính có 2 mức độ cảm giác và tri giác. Cảm giác là hình
thức phản ánh tâm lý khởi đầu thấp nhất, là hình thức định hướng đầu tiên của cơ thể trong
thế giới. Tri giác là hình thức phản ánh cao hơn trong cùng 1 bậc thang nhận thức cảm
tính.Giữa cảm giác và tri giác có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chi phối lẫn nhau.
2. Nhận thức lý tính: là mức độ nhận thức cao hơn bao, gồm tư duy và tưởng tượng.
Đặc điểm: Ở mức độ nhận thức này con người phản ánh được các thuộc tính bản chất bên
trong, những mối liên hệ và quan hệ có tính qui luật của các sự vật và hiện tượng hiện thực
khách quan.

Câu 4: Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cảm giác và tri giác:
a. Cảm giác:
• Khái niệm: Cảm giác là một quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc
tính bề ngoài của sự vật và hiện tượng, những trạng thái bên trong của cơ thể khi chúng
đang trực tiếp tác động vào các cơ quan cảm giác tương ứng của chúng ta.
• Đặc điểm:
- Cảm giác là 1 quá trình tâm lý, nghiĩa là nó có mở đầu, diễn biến và kết thúc 1 cách rõ
ràng, cụ thể.
- Cảm giác mới chỉ phản ánh riêng rẽ từng thuộc tính của sự vật, hiện tương thông qua
từng cơ quan cảm giác riêng rẽ.
- Muốn có cảm giác thì sự vật, hiện tượng phải trực tiếp tác động đến các cơ quan cảm giác
tương ứng của con người
- Hình ảnh của cảm giác bao giơ cũng thuộc về 1 sự vật, hiện tượng nhất định
* Vai trò:
- Là hình thức định hướng đầu tiên của con người trong hiện thực khách quan, tạo nên mối
liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và môi trường xung quanh
- Là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các quá trình nhận thức cao hơn, là nguồn gốc của
hiểu biết.
- Là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt động của vỏ não, nhờ đó đảm bảo
hoạt đông thần kinh của con người được bình thường
- Là con đường nhận thức hiện thực khach quan đặc biệt quan trọng đối với người khuyết
tật
b. Tri giác:
• Khái niệm:. Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề
ngoài của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan khi chúng đang trực tiếp tác
động vào các cơ quan cảm giác tương ứng của chúng ta
• Đặc điểm:
- Là một quá trình tâm lí, tức là có 3 giai đoạn :nảy sinh, diễn biến và kết thúc.
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 5


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
- Tri giác phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng, thể
hiện sự phản ánh ở mức độ cao hơn của tri giác so với sự phản ánh của cảm giác.
- Muốn có hình ảnh của tri giác thì sự vật, hiện tượng phải tác động trức tiếp đến các cơ
quan cảm giác của con người. Nó thể hiện tính trực quan trong sự phản ánh của nhận thức
cảm tính.
- Cũng như cảm giác, hình ảnh của tri giác bao giờ cũng thuộc về 1 sự vật, hiện tượng nhất
định, đặc điểm này thể hiện tính cụ thể trong sự phản ánh của nhận thức cảm tính.
* Vai trò: Tri giác định hướng cho hoạt động của con người.
Cung cấp tài liệu cho quá trình nhận thức cao hơn
“Tất cả các hiểu biết của con người đều bắt nguồn từ kinh nghiệm, từ cảm giác, tri giác” V.l. Lê-nin

Câu 5: Các quy luật cơ bản của cảm giác và tri giác:
* Quy luật cơ bản của cảm giác:
1. Quy luật về “sức ỳ” và “quán tính” của cảm giác.
- Khoảng thời gian từ khi kích bắt đầu tác động đến khi xuất hiện cảm giác được gọi là
khoảng thời gian trước cảm giác hay “sức ỳ” của cảm giác.
- Khoảng thời gian từ khi kích ngừng tác động đến khi mất hẳn cảm giác được gọi là
khoảng thời gian sau cảm giác hay “quán tính” của cảm giác.
2. Quy luật “bù trừ:
Khi một cảm giác nào đó bị yếu đi hay mất hẳn thì độ nhạy cảm của một số cơ quan cảm
giác khác tăng lên rõ rệt.
3.Quy luật về ngưỡng cảm giác và độ nhạy cảm:
• Khái niệm:
Là giới hạn mà ở đó cường độ kích thích có thể giây ra được cảm giác.
• Các loại ngưỡng
- Ngưỡng tuyệt đối:
+ Ngưỡng tuyệt đối dưới : Cường độ kích thích tối thiểu đủ để gây ra cảm giác.
+ Ngưỡng tuyệt đối trên : Cường độ kích thính tối đa còn có thể gây ra cảm giác.
- Ngưỡng sai biệt:
Khả năng phân biệt được sự khác biệt nhỏ nhất (về cường độ và tính chất) giữa hai kích
thích thuộc cùng một loại.
• Vùng phản ánh tối ưu:.
Là vùng mà ở đó cường độ kích thích có thể tạo ra cảm giác rõ ràng nhất.
• Độ nhạy cảm của cảm giác:
- Là khả năng cảm nhận nhanh chóng, chính xác
- Độ nhạy cảm phụ thuộc vào: giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, sự rèn luyện.
4.Quy luật về sự thích ứng của cảm giác.

Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 6


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
• Sự thích ứng của cảm giác là sự thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với sự
thay đổi của cường độ kích thích.
• Kích thích tăng thì độ nhạy cảm giảm và kích thích giảm thì độ nhạy cảm tăng.
• Mất cảm giác khi cường độ kích thích mạnh, kéo dài, không đổi.
• Khả năng thích ứng của mỗi loại cảm giác khác nhau là khác nhau.
5.Quy luật về sự tác động qua lại giữa các cảm giác:
• Sự thay đổi độ nhạy cảm của một cảm giác dưới ảnh hưởng của một kích thích vào các cơ
quan cảm giác khác thì gọi là sự tác động qua lại giữa các cảm giác.
• Một kích thích yếu lên cơ quan cảm giác này làm xuất hiện hoặc tăng độ nhạy cảm của
cơ quan cảm giác khác; ngược lại, một kích thích mạnh lên cơ quan cảm giác này làm mất
đi hoặc giảm độ nhạy cảm của cơ quan cảm giác khác.
* Quy luật cơ bản của tri giác:
1. Tính đối tượng của tri giác:
• Khi tri giác sự vật và hiện tượng, trong óc của chúng ta có hình ảnh của sv và ht, hình ảnh
đó là do các thuộc tính của sv và ht tác động vào cơ quan cảm giác chúng ta tạo nên trong
não.
• Quy luật này cho phép con người định hướng hành vi và hoạt động.
• Quy luật này phủ nhận các quan điểm sai lầm của CN duy tâm chủ quan hoặc cho rằng có
một “genstalt” (cấu trúc) có sẵn tạo nên.
2. Tính trọn vẹn của tri giác:
• Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn, tức là nó đem lại cho ta một hình
ảnh hoàn chỉnh về sự vật, hiện tượng.
• Tính trọn vẹn có được là nhờ 2 yếu tố:
- Bản thân các sự vật, hiện tượng có cấu trúc trọn vẹn
- Quy luật hoạt động theo hệ thống của hệ thần kinh cấp cao.
3. Tính lựa chọn của tri giác:
• Hiện thực khách quan đa dạng và phong phú.
• Khả năng của tri giác cho phép tách một số dấu hiệu hoặc đối tượng ra khỏi bối cảnh để
phản ánh tốt hơn.
• Quy luật này rất có ý nghĩa trong trang trí, hội hoạ, hoá trang, nguỵ trang...
• Tính lựa chọn của tri giác phụ thuộc:
- Nhu cầu, hứng thú của chủ thể tri giác.
- Trong tri giác ngôn ngữ giúp con người có khả năng nhận biết nhanh chóng sự vật.
4. Tính ý nghĩa của tri giác:
• Khi tri giác sự vật và hiện tượng khả năng của tri giác cho phép con người nhận biết được
cái chúng ta đang tri giác, gọi tên và xếp chúng vào một nhóm đối tượng cùng loại.
• Sở dĩ như vậy bởi tri giác gắn chặt với tư duy, ngôn ngữ, kinh nghiệm của cá nhân.
5. Tính ổn định của tri giác:
• Tính không thay đổi khi tri giác đối tượng trong sự thay đổi các điều kiện tri giác.
• Tính ổn định cho phép con người hoạt động linh hoạt, hiệu quả trong điều kiện môi
trường hoạt động luôn thay đổi.
6. Tổng giác:
• Sự phụ thuộc của hình ảnh tri giác vào kinh nghiệm, vào đời sống tâm lý, nhân cách của
chủ thể tri giác gọi là tổng giác.
• Tổng giác làm cho tri giác mang tính chủ thể rõ nét.
• Để tri giác tốt đòi hỏi con người phải phải rèn luyện khả năng tri giác, tích lũy kinh
nghiệm, hình thành thái độ tích cực...
7. Ảo ảnh:Là sự phản ánh sai lệch về đối tượng tri giác một cách khách quan.
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 7


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Các nguyên nhân:
• Nguyên nhân vật lý
• Nguyên nhân sinh lý, não tổn thương
• Nguyên nhân tâm lý: mệt mỏi

Câu 6: Trí nhớ và các giai đoạn của quá trình trí nhớ? Quá trình quên?
Là quá trình phản ánh những kinh nghiệm đã trải qua của con người dưới hình thức những
biểu tượng, bao gồm quá trình ghi nhớ, giữ gìn và tái hiện những tác động trước đây.
Phản ánh những cái đã qua, những cái không còn trực tiếp tác động.
Biểu tượng vừa mang tính trực quan, vừa mang tính khái quát.
*Các giai đoạn của quá trình trí nhớ:
+ Quá trình ghi nhớ: Là quá trình hình thành dấu vết của đối tượng trên vỏ não, đồng thời
hình thành mối liên hệ giữa các phần của đối tượng đang được ghi nhớ và mối liên hệ giữa
đối tượng đang ghi nhớ với những đối tượng khác có sẵn trong kinh nghiệm.
Hình thức ghi nhớ: Ghi nhớ không chủ định, Ghi nhớ có chủ định.
Cách ghi nhớ: Ghi nhớ máy móc, Ghi nhớ ý nghĩa.
+ Quá trình giữ gìn: Là quá trình củng cố vững chắc những dấu vết đã được ghi nhận trên
vỏ não.
-Hình thức giữ gìn
Giữ gìn tiêu cực
Giữ gìn tích cực
+ Quá trình tái hiện: Là quá trình làm xuất hiện những dấu vết đã ghi nhận và củng cố trên
vỏ não trước đây.
• Hình thức tái hiện:
- Nhận lại.
- Nhớ lại.
- Hồi tưởng.
* Quá trình quên: Là biểu hiện của sự không tái hiện được hoặc tái hiện sai những tác động
trước đây vào một thời điểm nhất định.
- Các mức độ: quên tạm thời, quên hoàn toàn, quên cục bộ, quên một phần…
• Nguyên nhân quên
- Nguyên nhân khách quan
- Nguyên nhân chủ quan
• Quy luật quên
- Trình tự quên: Quên cái tiểu tiết, vụn vặt trước, quên cái đại để, chính yếu sau.
- Tốc độ quên: Lúc đầu rất nhanh, sau đó giảm dần.
- Nhịp độ quên: Phụ thuộc vào nội dung và khối lương thông tin.

Câu 7: Khái niệm, đặc điểm, các giai đoạn của tư duy.
Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bên trong thuộc về bản chất,
những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực
khách quan mà trước đó ta chưa biết.
*Đặc điểm:
-Tính “có vấn đề của tư duy”: Tư duy chỉ nảy sinh khi gặp những hoàn cảnh, những tình
huống mà bằng vốn hiểu biết cũ, những phương pháp hành động cũ đã có, con người
không đủ để giải quyết.
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 8


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
“Tình huống có vấn đề” phải được chủ thể tư duy nhận thức đầy đủ và chuyển nhiệm vụ tư
duy.
“Tình huống có vấn đề” phải vừa sức đối với chủ thể: Khộng quá khó và cũng không quá
dễ.
-Tính trừu tượng và khái quát của tư duy:
• Tính trừu tượng của tư duy
Là khả trừu xuất (gạt bỏ) khỏi đối tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cụ thể, cá biệt
không cần thiết đối với nhiệm vụ mà chỉ để lại những thuộc tính bản chất, quy luật cần
thiết cho quá trình tư duy.
• Tính khái quát của tư duy
Khả năng của tư duy cho phép con người bao quát chung những thuộc tính bản chất,
những qui luật, những đặc điểm... của một loạt đối tượng.
-Tính gián tiếp của tư duy: Thể hiện trước hết ở việc con người sử dụng ngôn ngữ để tư
duy
Sử dụng những công cụ, phương tiện (như đồng hồ, nhiệt kế, máy móc…) để nhận thức
những đối tượng khi không thể tri giác trực tiếp.
-Tư duy gắn liền với ngôn ngữ: Tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ. Chúng thống
nhất nhưng không đồng nhất, cũng không tách rời nhau.
Tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ.
Ngôn ngữ cũng không thể có nếu không dựa vào tư duy.
-Tư duy quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính: Nhận thức cảm tính là nguồn cung cấp
tư liệu cho tư duy.
Tư duy lại ảnh hưởng đến nhận thức cảm tính.
Nhờ tư duy mà con người tri giác nhanh chóng, chính xác hơn.
Tư duy ảnh hưởng tới sự lựa chọn, tính ổn định, tính có ý nghĩa của tri giác.
*Các giai đoạn của tư duy:
Giai đoạn nhận thức vấn đề: Khi gặp hoàn cảnh có vấn đề, chủ thể tư duy nhận thức nó và
đặt ra vấn đề cần giải quyết, trên cơ sở đó đề ra nhiện vụ của quá trình tư duy.
Giai đoạn xuất hiện các liên tưởng: Đây là giai đoạn huy động vốn tri thức, kinh nghiệm
có liên quan đến vấn đề làm xuất hiện trong đầu chủ thể tư duy những mối liên tưởng xung
quanh vấn đề cần giải quyết.
Giai đoạn sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết: Trong giai đoạn này, chủ thể tư
duy gạt bỏ những liên tưởng không cần thiết, đưa ra những phương án giải quyết có thể có
đối với nhiệm vụ tư duy.
Giai đoạn kiểm tra giả thuyết: Kết quả của việc kiểm tra sẽ dẫn đến sự khẳng định, phủ
định hay chính xác hóa giả thuyết. Nếu tất cả các giả thuyết đều bị phủ định thì một quá
trình tư duy mới lại bắt đầu từ đầu.
Giai đoạn giải quyết nhiệm vụ: Khi giả thuyết (tức là cách giải quyết nhiệm vụ có thể có)
đã được khẳng định thì nó sẽ được thực hiện, nghĩa là đi đến câu trả lời cho vấn đề được
đặt ra.

Câu 8: Tưởng tượng và vai trò của tưởng tượng:
Tưởng tượng là một quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa từng có trong kinh
nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những biểu tượng mới trên cơ sở những hình ảnh,
biểu tượng đã có.
*Vai trò: Tưởng tượng có vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức của con người.
Tưởng tượng cũng có vai trò rất lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người.
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 9


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Tưởng tượng có vai trò lớn trong đời sống tinh thần của con người.

Câu 9: Khái niệm, các mức độ biểu hiện và các quy luật cơ bản của đời sống tình
cảm.
Xúc cảm, tình cảm là thái độ của cá nhân đối với hiện thực khách quan có liên quan đến sự
thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của cá nhân dưới hình thức những rung cảm.
* Các mức độ biểu hiện:
1. Màu sắc xúc cảm của cảm giác: Là mức độ thấp nhất, thường đi kèm với cảm giác. Ví
dụ màu đỏ cho ta cảm thấy rạo rực....
2. Xúc cảm:
- Là những rung cảm xảy ra nhanh, mạnh, rõ rệt, ngắn, nhất thời, hay thay đổi, không ổn
định.
Theo E.Izard có 8 loại xúc cảm làm nền tảng: hứng thú, hồi hộp, vui sướng, ngạc nhiên,
đau khổ, căm giận, ghê tởm, khiếp sợ, xấu hổ, tội lỗi...
Các loại xúc cảm:+ Xúc động: là một dạng của xúc cảm có cường độ rất mạnh, xảy ra
trong một thời gian ngắn và xâm chiếm toàn bộ hoạt động của con người một cách nhanh
chóng.
+Tâm trạng: là một dạng khác của xúc cảm có cường độ vừa phải hoặc tương đối yếu, tồn
tại trong khoảng thời gian tương đối dài, chi phối hành vi của con người trong suốt thời
gian tồn tại tâm trạng đó.
3.Tình cảm:
- Đó là thái độ ổn định của con người đối với hiện thực xung quanh và đối với bản thân.
Nó mang tính ổn định và là thuộc tính tâm lý của nhân cách.
- So với các mức độ của đời sống tình cảm đã nêu trên, tình cảm có tính khái quát hơn, ổn
định hơn và được chủ thể ý thức một cách rõ ràng hơn.
* Các quy luật cơ bản của đời sống tình cảm:
• Quy luật về tính hai mặt của đời sống tình cảm:
Khi thỏa mãn một nhu cầu nào đó thì một số nhu cầu khác bị kìm hãm ức chế. Điều đó tạo
ra hai thái cực trong đời sống tình cảm con người. Đó là tính hai mặt của đời sống tình
cảm.
• Quy luật “lây lan”:
Xúc cảm, tình cảm có thể lan truyền từ người này sang người khác.
• Quy luật “thích ứng”: Một xúc cảm, tình cảm nào đó được lặp đi lặp lại nhiều lần một
cách không đổi, thì cuối cùng sẽ bị suy yếu, bị lắng xuống. Đó là sự “chai sạn” của tình
cảm.
• Quy luật “tương phản”: Một xúc cảm, tình cảm nào đó có thể làm tăng cường hoặc suy
yếu một xúc cảm, tình cảm khác đối cực với nó.
• Quy luật “di chuyển”: Xúc cảm, tình cảm của con người có thể lan truyền từ đối tượng
này sang đối tượng khác.
• Quy luật “pha trộn”: Ở một con người, trong cùng một thời điểm và đối với cùng một đối
tượng có thể cùng tồn tại hai hay nhiều cảm xúc khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Chúng
không loại trừ nhau mà quy định lẫn nhau.
• Quy luật về sự hình thành tình cảm:Tình cảm được hình thành từ những xúc cảm cùng
loại do quá trình tổng hợp hóa, động hình hóa, khái quát hóa mà thành.
Câu 10: So sánh hoạt động nhận thức và đời sống tình cảm. Các loại tình cảm cao
cấp của con người.
Hoạt động nhận thức và đời sống tình cảm:
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 10


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
• Giống nhau: Đều là sự phản ánh hiện thực khách quan, đều mang tính chủ thể và có bản
chất xã hội-lịch sử
• Khác nhau:
-Về nội dung phản ánh: nhận thức chủ yếu phản ánh những thuộc tính và các mối liên hệ
của bản thân hiện thực khách quan, còn tình cảm phản ánh mối quan hệ giữa hiện thực
khách quan với nhu cầu động cơ con người
-Về phạm vi phản ánh: mọi sự vật hiện tượng tác động vào cơ quan cảm giác tương ứng
của con người, ít nhiều được con người nhận thức nhưng không phải mọi tác động của hiện
thực vào các cơ quan cảm giác đều được con người tỏ thái độ. Chỉ những sự vật hiện tượng
nào liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu, động cơ của họ thì mới tạo
nên cảm xúc. Phạm vi phản ánh của cảm xúc có tính lựa chọn và hẹp hơn so với phạm vi
phản ánh của nhận thức
-Về phương thức phản ánh: nhận thức phản ánh thế giới bằng hình ảnh, biểu tượng, khái
niệm, phạm trù, quy luật… còn tình cảm phản ánh thế giới dưới hình thức những rung cảm
xao xuyến, bồi hồi…
-Mức độ thể hiện của chủ thể, của tình cảm cao hơn, đậm nét hơn so với nhận thức
-Quá trình hình thành tình cảm lâu dài, phức tạp hơn nhiều và được diễn ra theo những quy
luật khác với quá trình nhận thức
* Các loại tình cảm cao cấp của con người:
-Tình cảm trí tuệ: nảy sinh trong quá trình hoạt động trí óc và liên quan đến việc thỏa mãn
hay không thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người thể hiện ở sự ham hiểu biết, óc hoài
nghi khoa học
-Tình cảm đạo đức: liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu đạo đức của
con người, thể hiện thái độ của con người đối với các yêu cầu đạo đức, hành vi đạo đức
-Tình cảm thẩm mỹ: liên quan đến nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu cái đẹp. Thể hiện thái độ
thẩm mỹ của con người với hiện thực xung quanh và ảnh hưởng lớn đến sự đánh giá cái
đẹp, đến thị hiếu thẩm mỹ của cá nhân
-Tình cảm hoạt động: liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu về việc
thực hiện một loại hoạt động nhất định, thể hiện thái độ của con người đối với hoạt động
đó
-Tình cảm mang tính chất thế giới quan: là mức độ cao nhất của tình cảm con người, có
tính bền vũng và ổn định, tính khái quát cao, tính tự giác và tính ý thức cao và trở thành
nguyên tắc trong thái độ và hành vi của cá nhân.
Câu 11: Khái niệm nhân cách, cấu trúc “đức – tài” trong nhân cách. Các yếu tố
ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách.
Nhân cách: là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của một cá nhân, biểu hiện ở bản sắc và giá
trị xã hội của cá nhân ấy.
Cấu trúc đức- tài trong nhân cách:
Đức (phẩm chất) Tài (năng lực)
- Các phẩm chất xã hội (hay đạo đức- chính trị): thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, lập
trường, quan điểm, thái độ chính trị, thái độ lao động… đặc biệt là biểu giá trị xã hội (hay
biểu định hướng giá trị).
- Các phẩm chất cá nhân (hay đạo đức- tư cách): các tính (tâm tính, tính nết, tính tình) , các
thói, các “thú” (ham muốn)…
- Các phẩm chất ý chí của cá nhân: tính mục đích, tính quyết đoán, kiên trì, chịu đựng…
(hoặc trái lại).
- Các cung cách ứng xử hay tác phong - Năng lực xã hội hóa: thích nghi, sáng tạo, cơ
động, mền dẻo…
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 11


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
- Năng lực chủ thể hố: biểu hiện tính độc đáo, đặc sắc, cái riêng, cái “bản lĩnh” của cá
nhân.
- Năng lực hành động: hành động có mục đích, có điều kiển, chủ động, tích cực.
- Năng lực giao lưu: thiết lập và duy trì quan hệ.
- Năng lực chun biệt (hay chun mơn), thiết kế, tính tốn, ngoại ngữ, nghệ thuật, năng
lực nghề nghiệp …
• Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách:
Vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền:
Bẩm sinh – di truyền chỉ đóng vai trò tiền đề thể chất, khơng có tính quyết định đến sự
hình thành và phát triển nhân cách.
Vai trò của hồn cảnh sống: Hồn cảnh sống có vai trò rất quan trọng trong sự hình thành
và phát triển nhân cách. Nhưng nhân cách con người khơng phải do hồn cảnh quyết định
(Gần bùn mà chẳng hơi tanh mùi bùn).
Giáo dục là tổ chức và hướng dẫn mọi hoạt động của con người.
Giáo dục đóng vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân.
Vai trò quyết định của hoạt động và giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách.
Hoạt động là yếu tố quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách.
Hoạt động đề ra cho con người những u cầu nhất định, đòi hỏi ở con người những phẩm
chất tâm lý nhất định, qua đó hình thành nên năng lực và phẩm chất nhất định ở con người.
Thơng qua giao tiếp con người lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội lịch sử của các thế hệ
trước, qua đó hình thành và phát triển tâm lý, ý thức. Cũng chính trong giao tiếp con người
lĩnh hội các tiêu chuẩn đạo đức, ngun tắc các hành vi để vận dụng vào cách ứng xử cá
nhân, tạo nên những ngun tắc đạo đức hành vi cho mình.
Câu 12: Tính cách và các kiểu người dựa vào đặc điểm của tính cách?
• Khái niệm: - Tính cách là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lý ổn đònh
của con người, những đặc điểm này quy đònh phương thức hành vi điển hình
của người đó trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất đònh, thể hiện thái độ
của họ đối với thế giới xung quanh và bản thân.
• Các kiểu người dựa vào đặc điểm của tính cách:
Kiểu 1: Nội dung tốt – hình thức tốt: đây là loại người tồn diện, vừa có bản chất tốt, thái
độ tốt, vừa có hành vi, cử chỉ, cách ăn nói cũng tốt. Những người này thường có trình độ,
có hiểu biết, có kinh nghiệm sống và vì thế họ có cơ hội được sự tín nhiệm của mọi người
và được quần chúng tin tưởng.
Kiểu 2: Nội dung tốt – hình thức chưa tốt: là loại người có bản chất tốt, nhưng chưa từng
trải. Là loại người vụng về trong giao tiếp, trong quan hệ vì vậy họ đơi khi bị hiểu lầm là
người khơng tốt. Nếu họ được huấn luyện, giáo dục sẽ trở thành loại người kiểu 1.
Kiểu 3: Nội dung xấu - hình thức tốt: thường là những người cơ hội, thủ đoạn, thiếu trung
thực. Đây là những người lọc lõi, hiểu đời, nhưng bản chất khơng tốt. Họ thường dùng
những hành vi, cử chỉ, lời nói để nịnh hót, tâng bốc người khác nhằm mục đích trục lợi cho
riêng mình.
Kiểu 4: Nội dung xấu – hình thức cũng xấu: là loại người xấu tồn diện, xấu cả bản chất,
thái độ, và hành vi, cử chỉ, cách nói năng.
Câu 13: Năng lực, các mức độ và cơ sở để đánh giá năng lực của cá nhân.
• Khái niệm: · Là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những u cầu
của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt.
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 12


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
· Các mức độ của năng lực:Dựa vào tốc độ tiến hành và chất lượng sản phẩm hoạt động,
người ta phân biệt 3 mức độ phát triển của năng lực: năng lực, tài năng và thiên tài.
- Năng lực là một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị khả năng hoàn thành
có kết quả một hoạt động nào đó.
- Tài năng là mức độ năng lực cao hơn biểu thị sự hoàn thành một cách sáng tạo một hoạt
động nào đó.
- Thiên tài là mức độ cao nhất của năng lực biểu thị ở mức kiệt xuất, hoàn chỉnh nhất của
những vĩ nhân trong lịch sử nhân loại.
* Cơ sở để đánh giá năng lực cá nhân:
- Dựa vào phương thức hoàn thành công việc (làm bằng cách nào, có tính sáng tạo hay
không, có độc lập hay không… ).
- Dựa vào hiệu suất hoàn thành công việc (làm việc đó tốn bao nhiêu thời gian, bao nhiêu
sức lực…).
- Dựa vào mức độ kết quả của công việc (xét về chất lượng cũng như số lượng).

Câu 14: Khí chất và các kiểu khí chất.
• Khái niệm: Khí chất là đặc trưng chung nhất về cường độ, tốc độ và nhịp độ của các hoạt
động tâm lý, thể hiện sắc thái riêng về hành vi và cử chỉ của người đó.
• Các kiểu khí chất:
- Khí chất linh hoạt:
Những người có khí chất này thường nhận thức nhanh, nhưng hời hợt, chủ quan. Họ là
những người hoạt bát, vui vẻ, dễ tiếp xúc, giao tiếp rộng, dễ thích nghi với mọi điều kiện,
giàu sáng kiến, nhiều mưu mẹo.
Họ nhiệt tình, tích cực trong mọi công tác, nhưng thiếu kiên trì, chóng chán. Cảm xúc của
họ bộc lộ phong phú, sôi động nhưng tình cảm không bền vững, hay đổi thay. Những
người có khí chất linh hoạt thích hợp với những công việc có tính chất đổi mới, có nội
dung hoạt động sôi nổi, linh hoạt. Còn đối với những công việc đơn điệu, kém thú vị thì họ
sẽ chóng chán.
- Khí chất bình thản (điềm tĩnh).
Những người này thường tỏ ra ung dung, bình thản. Họ có thể kìm chế được cảm xúc và
những cơn xúc động. Trong quan hệ thường đúng mực, hơi kín đáo và tỏ ra thờ ơ, thiếu
nhiệt tình với những người xung quanh. Họ thường nhận thức hơi chậm, nhưng sâu sắc và
chín chắn. Trong hoạt động có sự đều đặn, cân bằng, có tính kế hoạch, tính nguyên tắc,
không thích mạo hiểm. (Trong hoạt động quản lý những người này thường thích hợp với
công tác kế hoạch, tổ chức, nhân sự, những công việc đòi hỏi tính cẩn thận và tính nguyên
tắc).
- Khí chất nóng.

Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 13


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Là người tỏ ra có sức sống dồi dào, các biểu hiện tâm lý bộc lộ mạnh mẽ. Họ thường vội
vàng, hấp tấp, làm việc sôi động, phung phí sức lực. Trong quan hệ họ thường nóng nảy,
thậm chí đôi khi tỏ ra cục cằn, thô bạo, họ dễ bị kích động, nhưng không để bụng lâu.
Họ thường nhanh chóng say sưa với công việc, nhưng cũng nhanh xẹp. Họ ít có khả năng
làm chủ bản thân trong các trường hợp bất thường, ít có khả năng đánh giá hành động của
người khác một cách khách quan.
Những người này không thích hợp với những công việc mang tính tổ chức, nhân sự, những
công việc mang tính tỷ mỷ. Họ có thể thích hợp với những công việc mang tính xông xáo.
- Khí chất ưu tư.
Những người này có dáng vẻ chậm chạp, dễ xúc động, thường sống trầm lặng, kín đáo,
ngại va chạm, ngại giao tiếp. Họ thường đắn đo, suy nghĩ chi tiết, thận trọng trong công
việc sắp làm.
Họ có tính kiên trì, chịu khó trong những công việc đơn điệu. Trong quan hệ với mọi
người, tuy họ ít cởi mở nhưng tình cảm sâu sắc, bền vững và tế nhị. Nó chung họ thường là
những người tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức tổ chức, kỷ luật cao.
Trong hoạt động họ cần có sự khuyến khích, động viên, tin tưởng giao việc cho họ và
không nên phê bình, góp ý một cách trực tiếp.

Câu 15. Vai trò của yếu tố giao tiếp đới với sự hình thành, phát triển
nhân cách
 Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người
Đối với xã hội loài người, ta nhận thấy giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người. Nếu
mỗi người không giao tiếp với những người xung quanh, với xã hội thì bản thân con người
cũng không thể phát triển, tồn tại được.
Và chắc chắn nếu không có giao tiếp thì sẽ không tồn tại xã hội, khi đó sẽ không có khái
niệm “xã hội” đối với loài người. Bởi nhẽ đã là xã hội nghĩa là phải có những tập thể, cộng
đồng người có sự liên kết, gắn bó chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau.
Mặt khác, nhờ giao tiếp mỗi người nhận ra và xác định được tư tưởng, tình cảm, nhu cầu,
vốn sống, kinh nghiệm, hiểu biết, quan điểm,… của đối tượng mà mình giao tiếp. Do có sự
nhận biết này mà chủ thể giao tiếp đáp ứng được mục đích, nhiệm vụ của giao tiếp một
cách chính xác, hợp lí, kịp thời. Qua đó con người tự tạo nên các hình thức giao tiếp khác
nhau giữa cá nhân với cá nhân; giữa cá nhân với nhóm, tập thể, cộng đồng; giữa nhóm với
cộng đồng.
 Nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu xã hội cơ bản, xuất hiện sớm nhất ở
con người
Ngay từ khi con người mới sinh ra đã có nhu cầu giao tiếp để thỏa mãn những nhu cầu của
bản thân.Một đứa trẻ vừa chào đời sẽ cất tiếng khóc. Đây có lẽ là sự giao tiếp đầu tiên khi
đứa trẻ đó sinh ra, việc khóc ấy giúp chính đứa bé hô hấp bình thường và hơn nữa khi đứa
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 14


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
bé khóc phần nào báo hiệu cho ba mẹ biết em vẫn khỏe mạnh, báo cho nhân viên y tế và ba
mẹ em biết em cần được chăm sóc, bảo vệ,…
Sự phát triển cả một cá nhân được quy định bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác
mà nó giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp với họ. Chính con người làm xuất hiện, duy trì,
phát triển giao tiếp và trở thành sản phẩm của giao tiếp. Chắc chắn ở đâu có sự tồn tại của
loài người thì ở đó có sự giao tiếp giữa người với người, ấy vậy giao tiếp trở thành một cơ
chế bên trong của sự tồn tại và phát triển con người. Để giao tiếp vào các quan hệ xã hội
cũng cần có những điều kiện nhất định như tên tuổi hay phương tiện, cách thức giao tiếp.
Chưa hết, khi con người ta lớn lên cần cho mình nghề nghiệp nhất định. Việc chuẩn bị tri
thức, kiến thức, việc học tập, đào tạo bài bản cần thực hiện theo một trình tự phù hợp, khoa
học, cụ thể và chính xác. Vốn dĩ nghề nghiệp do xã hội tạo ra và quy định, nếu không học
tập giao tiếp với mọi người xung quanh thì sẽ không thể có nghề nghiệp. Khi đi làm quan
trọng hơn nữa đó là nghệ thuật giao tiếp, một trong những công cụ giúp con người thành
công trong sự nghiệp cũng như trong cuộc sống.
Nếu như mỗi người đã có cho mình những nghề nghiệp nhất định thì trong quá trình làm
việc, lao động sản xuất con người cũng không thể tránh những mối quan hệ. Giữa chúng ta
phải có sự tương tác, phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau.Mà để làm được điều đó chúng ta cần sử
dụng tiếng nói và ngôn ngữ.Đây là phương tiện tất yếu trong giao tiếp mà chỉ có ở xã hội
loài người.Có giao tiếp chúng ta mới chia sẻ được cho nhau, mới học hỏi, truyền đạt,
thuyết phục đối tượng giao tiếp.Có giao tiếp chúng ta mới hiểu được đối phương từ đó có
cách thức tiếp cận, hoạt động hay giải quyết các vấn đề phát sinh, từ đó đáp ứng được nhu
cầu, cảm xúc của tất cả chủ thể trong giao tiếp.
 Nhờ có giao tiếp, con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh vực văn hóa
xã hội, chuẩn mực xã hội đồng thời thông qua giao tiếp, con người đóng góp năng
lực của mình vào kho tàng chung của nhân loại
Từ quá trình giao tiếp, con người sẽ có cách nhìn nhận về nhau, hiểu ý nhau nên từ đó mỗi
người sẽ tự điều chỉnh, điều khiển nhận thức, hành vi của mình để phù hợp với những quy
phạm đạo đức, chuẩn mực xã hội, các quan hệ xã hội. Điều này sẽ giúp cá nhân phát huy
điểm mạnh và hạn chế những tiêu cực trong đời sống xã hội. Các nhà tâm lý học đã nghiên
cứu và chứng minh nếu con người không giao tiếp thì một đứa trẻ không thể phát triển
nhân cách, tâm lý, ý thức một cách bình thường. Song song với hoạt động giao tiếp con
người sẽ tự động tiếp thu tri thức về nền văn hóa, xã hội, lịch sử và chuyển hóa chúng
thành kinh nghiệm, vốn sống, chiêm nghiệm đúc rút cho bản thân. Kinh nghiệm của cá
nhân tạo thành và phát triển trong chính đời sống tâm lí, góp phần vào sự phát triển của xã
hội. Ta dễ dàng nhận thấy một người chính nhờ có giao tiếp mà đã biết được những kiến
thức lịch sử về chiến tranh xâm lược, về những điều tất yếu của kẻ mạnh, kẻ yếu từ xưa
đến nay. Và cũng nhờ vốn tri thức ấy người này nghiệm ra được chân lí cho riêng mình,
nhiều quy luật bất biến từ chính những giá trị lịch sử, là tăng giá trị tinh thần cho bản
thân.Không có sự giao tiếp giữa người với người sẽ chẳng có xã hội, không tồn tại xã hội
tiến bộ hay con người tiến bộ.Không giao tiếp với mọi người xung quanh thì chúng ta
không biết cách cư xử sao cho đúng mực, khi đó cá nhân sẽ gặp nhiều khó khăn, khủng
hoảng cô lập về mặt tinh thần.Chưa kể đến việc nếu con người không giao tiếp với nhau thì
không thể truyền đạt những tâm tư, tình cảm dẫn đến sự nghèo nàn, thiếu thốn trong tâm
hồn, thiếu cách ứng xử sao cho phù hợp. Chẳng hạn như một em bé 7 tuổi, tuy còn nhỏ
nhưng em đã được học tập tại trường, giao tiếp với cha mẹ, thầy cô, bạn bè xung quanh
trường lớp của em vì thế em học hỏi được nhiều thứ: em biết mình cần phải chào hỏi lễ
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 15


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
phép khi gặp thầy cô, cha mẹ, ông bà hay người lớn tuổi; đến trường em biết phải gọi
“bạn” xưng “tôi” với những người bạn đồng trang lứa; về nhà em biết mình phải vâng lời
người lớn trong gia đình, nghe lời thầy cô giáo khi
học ở trường;…
 Qua giao tiếp con người hình thành năng lực tự ý thức
Trong giao tiếp con người không chỉ nhận thức người khác, nhận thức các quan hệ xã hội
mà còn nhận thức, đánh giá bản thân mình. Bằng cách này mỗi người sẽ thông qua người
khác xem những người xung quanh mình nghĩ thế nào về bản thân họ, nói cách khác là họ
đánh giá bản thân thông qua những người họ giao tiếp, xem ý kiến của mình có đúng đắn
không, có được người khác thừa nhận không. Trên cơ sở đó, mỗi người sẽ tự nhận thức
được và tự điều chỉnh, điều khiển hành vi của bản thân theo hướng tăng hoặc giảm sự thích
ứng với mọi người xung quanh. Ví dụ như sinh viên A qua quá trình giao tiếp làm việc
nhóm, một số bạn nam cho rằng A có chút hấp tấp khi kết luận ý kiến của mọi người trong
nhóm dẫn đến ý kiến còn mang tính phiến diện; số khác cho rằng dù có hơi hấp tấp, vội
vàng nhưng A lại là người nhiệt tình nhất nhóm. Qua sự đóng góp của các thành viên trong
nhóm, A hiểu được và đã tự mình chỉnh sửa tính nóng vội của bản thân và cố gắng duy trì
sự nhiệt tình của mình trong công việc để hoàn thiện bản thân hơn. Rõ ràng thông qua giao
tiếp mà A đã điều chỉnh giảm bớt tính hấp tấp của mình, hòa nhập với mọi người hơn và
hiệu quả công việc cũng cao hơn.
Việc tự ý thức trong giao tiếp là điều kiện để trở thành chủ thể hành động độc lập, chủ thể
của xã hội.Tự ý thức giúp cá nhân tự tin, độc lập, quyết đoán, rõ ràng hơn trong mọi việc.
Qua quá trình giao tiếp cá nhân tự điều chỉnh suy nghĩ, hành vi với mục đích tự giác; mỗi
người có xu hướng tự giáo dục chính mình, tự hoàn thiện bản thân. Vậy nhờ giao tiếp cá
nhân tự nhận thức, đánh giá được gì ở bản thân? Đó có thể là bề ngoài của mình trong mắt
mọi người, đó cũng có thể là nội tâm, tâm hồn bên trong hay thậm chí là giá trị tinh thần
của chính mình, vị thế bản thân trong xã hội cũng những quan hệ xã hội mà mình đã, đang
và sẽ có. Nhờ có sự tự nhận thức này mà khi giao tiếp với mọ người xung quanh, kể cả
trong công việc lẫn trong cuộc sống đời thường con người, họ luôn tự nhìn nhận đúng bản
thân, tự đối chiếu so sánh mình với người khác để biết mọi người hơn mình ở điểm nào,
mình còn khiếm khuyết phần nào. Từ đó có sự phấn đấu, nỗ lực để phát huy điểm mạnh,
tích cực và giảm thiểu, hạn chế điểm yếu kém.
Ta thử đặt những câu hỏi ngược lại, nếu không giao tiếp liệu cá nhân đó có biết được xã
hội chấp nhận hay không chấp nhận họ? Nếu không giao tiếp với mọi người xung quanh
liệu chẳng phải cá nhân đó hoặc luôn xem mình là nhất hoặc lúc nào cũng mặc cảm tự ti
cho rằng mình yếu kém.Một người chỉ khi tham gia các hoạt động xã hội, tiếp xúc, giao
tiếp với tập thể, cộng đồng thì mới tự nhận thức được mình nên làm gì là tốt nhất, trong
hoàn cảnh nào thì không nên làm gì. Việc tốt thì ta làm như ủng hộ ngư dân bị bão lụt,
quyên góp tình thương, tình nguyện nơi vùng sâu vùng xa; bên cạnh đó họ tự ý thức được
bản thân cần tránh xa các tệ nạn xã hội.

Câu 16: “Trình bày các loại chú ý. Tại sao nói chú ý sau chủ định là
loại chý ý có hiệu quả nhất đối với hoạt động nhận thức của con
người. Liên hệ với hoạt động học tập của bản thân”.
Phân loại chú ý.
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 16


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
a) Căn cứ vào tính tích cực của con người trong việc tổ chức chú ý có thể chia thành ba
loại :
Chú ý không chủ định :là sự tập trung ý thức lên một đối tượng nhất định khi có sự tác
động kích thích của đối tượng đó.
Co thể thấy, chú ý không chủ định à trạng thái chú ý không định trước, không theo một kế
hoạchvà mục đích nào cả, được tạo nên do các nguyên nhân bên ngoài gây nên, hoặc do
các đặc điểm nào đó của đối tượng tác động vào con người ở tại một thời điểm nhất định.
Chú ý không chủ định có thể xuất hiện phụ thuộc vào những đặc điểm sau đây của kích
thích:
- Tính chất mới mẻ, sinh động bất thường.
- Cường độ của kích thích.
- Độ hấp dẫn.
- Sự bắt đầu hoặc kết thúc của một kích thích.
Nhiều trường hợp, chú ý không chủ định đóng vai trò tích cực trong các lĩnh vực đời sống
như học tập, sinh hoạt, công tác…nhờ nó, con người có thể phát hiện kịp thời sự xuất hiện
kịp thời của một số sự vật, hiện tượng, từ đó nhanh chóng quyết định biện pháp hành động
cần thiết.
Ví dụ: Cứu người khi nghe thấy tiếng kêu cứu phát ra ở gần sông, nhờ có chú ý không chủ
định mà cứu được người không may ngã xuống sông.
Chú ý có chủ định: Là sự điều chỉnh một cách có ý thức sự tập trung lên một đối tượng nào
đónhằm thỏa mãn những yêu cầu của hoạt động.
Đặc điểm nổi bật của chú ý có chủ định là tính mục đích.Khi tham gia vào hoạt động, đây
là sự định hướng hoạt động do bản thân chủ thể tự đặt ra. Do bản thân xác định được mục
đích hành động, không tùy thuộc vào đối tượng mới lạ hay quen thuộc, có cường độ kích
thích mạnh hay yếu, hấp dẫn hay không hấp dẫn, ta tập trung vào đối tượng hay sự vật để
tiến hành một hoạt động tương ứng theo một động cơ nhất định, bao gồm các hành động
nhằm vào một mục đích nhất định. Loại chú ý này mang tính bền vững cao hơn. Đặc điểm
nổi bật không chỉ thế, chú ý phủ định còn phải có sự nỗ lực của ý chí, tuy nhiên sự nỗ lực
của ý chí gây nên một trạng thái căng thẳng, một sự tập trung sức lực để giải quyết nhiệm
vụ đã đặt ra.Đặc điểm cuối cùng, chú ý có chủ định thể hiện ở tính tổ chức của ý chí. Chú ý
có chủ định được hình thành trong rất nhiều quá trình như học tập, lao động sản xuất, chiến
đấu,…
Ví dụ: Trong giảng đường, sinh viên chăm chú nghe giảng viên giảng bài.
Chú ý sau chủ định:Là sự tập trung ý thức tới một đối tượng mà đối tượng đó có ý nghĩa
nhất định đối với cá nhân.
Chú ý sau chủ định xuất hiện sau khi đã hình thành chú ý có chủ định.Đối tượng mà chú ý
này hướng tới gây nên cho cá nhân những hứng thú đặc biệt. Vì thế, chú ý được duy trì
không cần có sự tham gia của ý chí. Loại chú ý này giúp cho con người giảm được căng
thẳng thần kinh, giảm được tiêu hao năng lượng. Bộc lộ ở trạng thái say xưa công việc của
con người rất có lợi cho hoạt động tư pháp, hoạt động học tập của học sinh, sinh viên,…
Ví dụ: Trong giờ học, mới đầu có thể chú ý có chủ định, nhưng sau đó, do sự hấp dẫn của
nội dung bài học, ta không cần sự cố gắng vẫn có thể tập trung chú ý. Như vậy, chú ý có
chủ định đã chuyển thành chú ý sau chủ định.
b) Căn cứ vào đối tượng mà chú ý hướng tới ta có thể phân chia chú ý thành:
Chú ý bên ngoài:Là loại chú ý hướng vào các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan.
Loại chú ý này đòi hỏi phải sử dụng các giác quan (thị giác, thính giác…). Các yếu tố gây
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 17


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
ra chú ý bên ngoài gồm các kích thích từ bên ngoài thế giới khách quan tác động lên giác
quan của con người. Ví dụ: Những tiếng dộng mạnh, mùi thơm của nước hoa,…
Chú ý bên trong:Là loại chú ý gắn liền với ý thức của cá nhân đối với hành động của mình,
đối với thế giới nội tâm và ý thức bản ngã của cá nhân đó.
Đối tượng của chú ý bên trong à những cảm xúc, những hồi tưởng, những suy tư ,…của cá
nhân. Chú ý bên trong chỉ có ở con người, còn động vật không tồn tại loại chú ý này, do
động vật không có ý thức đối với cuộc sống nội tâm của chúng.
Chú ý sau chủ định , loại chú ý có hiệu quả nhất đối với hoạt động nhận thức của con
người.
Đúng như vậy, chú ý sau chủ định là loại chú ý có hiệu quả nhất đối với hoạt động nhận
thức của con người vì đây là loại chú ý cao cấp nhất , bền vững nhất. Chú ý sau chủ định
xuất hiện sau khi đã hình thành chú ý có chủ định .Ở chú ý sau chủ định, đối tượng mà chú
ý hướng tới gây nên cho cá nhân những hứng thú đặc biệt . Do vây, chú ý được duy trì mà
không cần có sự tham gia của ý chí nên nó không gây nên trạng thái căng thẳng trong tâm
lí cá nhân, giảm căng thẳng thần kinh, giảm được tiêu hao năng lượng, cũng chính vì vậy
mà bền vững nhất.Chú ý là sự tập trung của hoạt động tâm lý vào một hoặc một số đối
tượng nào đó , nhằm phản ánh chúng một cách đầy đủ, rõ ràng nhất nên chú ý càng bền
vững, đối tượng của hoạt động tâm lý càng được phản ánh sâu sắc hoạt động nhận thức của
con người càng hiệu quả.

Câu 17: Phân loại các hiện tượng tâm lý
1. Quá trình tâm lý là những hoạt động có khởi đầu, có diễn biến, có kết thúc nhằm biến
những tác động bên ngoài thành hình ảnh tâm lý bên trong.
Quá trình tâm lý là nguồn gốc của đời sống tinh thần, xuất hiện như một yếu tố điều chỉnh
ban đầu với hành vi con người (có đặc điểm TL, có kinh nghiệm sống, có kiến thức, có bản
lĩnh...) gồm các quá trình:
Quá trình nhận thức: là quá trình phản ảnh bản thân hiện tượng khách quan (cảm giác, tri
giác, biểu tượng, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy,)
- Quá trình cảm xúc: là những rung cảm của chủ thể khi nhận thức thế giới bên ngoài từ đó
biểu thị thái độ đối với khách quan bên ngoài.
- Quá trình ý chí: là quá trình điều khiển, điều hành động của chủ thể nhằm cải tạo thế giới,
thỏa mãn yêu cầu cá nhân và xã hội (không khí điều khiển cá nhân mà cả thế giới bên
ngoài)
Đời sống tâm lý luôn phải cân bằng có 3 quá trình trên đây
Nếu thiên về lý trí con người sẽ thiếu tình cảm, tâm hồn khô khan.
Nếu thiên về tình cảm con người sẽ thiếu sáng suốt.
Thiếu ý chí thì tình cảm con người không thể biến thành hành động.
2. Trạng thái tâm lý
- Là đặc điểm của hoạt động tâm lý trong những khoảng thời gian ngắn được gây nên bởi
hoàn cảnh bên ngoài (hoặc do cảm giác con người ảnh hưởng lên hành vi con người trong
thời gian đó)
Con người thường ở trong những trạng thái nhất định như trạng thái tập trung, lơ đãng, tích
cực, tiêu cực, khẳng định, phủ định, do dự, quyết tâm...
3. Thuộc tính tâm lý
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 18


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
- Là những quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý thường xuyên lập đi lập lại trong đời sống trở
thành đặc điểm tâm lý bền vững của nhân cách cá nhân.
- Là những nét tâm lý tương đối bền vững và ổn định được hình thành từ quá trình tâm lý
và trạng thái tâm lý bảo đảm nhất định về số lượng chất lượng hành vi và hoạt động tâm lý.
- Thuộc tính tâm lý tạo sự khác biệt cá nhân, khó hình thành và cũng khó mất đi có tác
động ngược lại với quá trình tâm lý và trạng thái tâm lý.
4.Quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý
- Quá trình tâm lý là những hiện tượng có khởi đầu, diễn biến, kết thúc; quá trình diễn ra
ngắn; là nguồn gốc của đời sống tâm lý.
- Trạng thái tâm lý là những hiện tượng luôn gắn với quá trình tâm lý là cái nền của tâm
lý .
- Thuộc tính tâm lý là những nét đặc trưng tâm lý ï của con người hình thành từ quá trình
tâm lý và trạng thái tâm lý. Thuộc tính tâm lý gồm tình cảm, xu hướng, tính cách ...tạo nên
2 mặt đức và tài.
Các hiện tượng tâm lý trên đây được chi phối bởi ý thức. Ý thức là hiện tượng tâm lý cao
cấp ảnh hưởng rất nhiều đến các hiện tượng tâm lý.

Câu 18: Trình bày về tư duy trong quá trình nhận thức
4.1. Khái niệm
Tư duy là nhận thức lý tính là quá trình phản ảnh những thuộc tính bản chất , những mối
quan hệ có qui luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa
biết.
- Ở mức độ nhận thức cảm tính con người mới phản ảnh được những thuộc tính trực quan
cụ thể, bên ngoài. Những mối quan hệ không gian, thời gian và trạng thái vận động của sự
vật hiện tượng.Là những phản ánh trực tiếp những tác động của sự vật hiện tượng .
- Ở mức độ nhận thức lý tính, con người có tư duy. Tư duy đi sâu phản ánh những thuộc
tính bản chất bên trong của sự vật hiện tượng. Ví dụ, qua tư duy mà chúng ta biết được bản
chất vật chất của các hiện tượng tâm lý; biết được bản chất của sự di truyền sinh vật là các
gen di truyền…Tư duy còn đi sâu phản ánh những mối quan hệ nhân quả, liên hệ mang
tính quy luật của các sự vật hiện tượng,như mối quan hệ nhân quả giữa thiếu iod và bệnh
bướu cổ, giữa viêm gan siêu vi và triệu chứng vàng da, vàng niêm mạc.
- Mặt khác, tư duy còn có thể phản ánh nhũng sự vật, hiện tượng mới, khái quát, hiện tại
không có, không trục tiếp tác động vào giác quan, ví dụ như, như con nguời suy nghĩ để
thiết kế ngôi nhà mới, bác sĩ tìm phương pháp mổ tối ưu cho bệnh nhân.
- Tư duy của con người mang bản chất xã hội, sáng tạo và có cá tính ngôn ngữ. Những tình
huống tư duy cua con người được đặt ra do nhu cầu cuộc sống, lao động học tập và hoạt
động xã hội, được quy định bởi nguyên nhân xã hội, nhu cầu xã hội. Sự phát triển các hình
thức, thao tác tư duy của con người liên quan đến sự phát triển lịch sử - xã hội. Trong quá
trình tư duy, con nguời sử dụng phương tiện ngôn ngữ. Kết quả hoạt động tư duy của con
người là đóng góp lớn lao cho nhận thức, cải tạo và phát triển xã hội loài người.
Bản chất của tư duy thể hiện:
+ Tư duy nẩy sinh từ đời sống và hoạt động sống.
+ Tư duy bị qui định bởi xã hội.
+ Nhận thức phát triển từ thao tác.....> Hình tượng.....> Ngôn ngữ.....>Tư duy trừu
tượng....>Tư duy khái quát.
Tư duy khái quát là hình thức đặc biệt của con người.
+ Nhờ tư duy mà con người đã đóng góp to lớn cho xã hội bằng những giá trị vật chất và
tinh thần.
4.2. Phân loại tư duy
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 19


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Có thể phân loại tư duy theo nhiều phương diện khác nhau. Sau đây là cách phân loại theo
phương diện phát triển chủng loại cá thể ( phương diện lịch sử hình thành và phát triển tư
duy), gồm 3 loại:
- Tư duy trực quan - hành động
Là loại tư duy có ở người và một số động vật cao cấp. Trong loại tư duy này, các thao tác
tay chân (cơ bắp ) được sử dụng hướng vào việc giải quyết một số tình huống cụ thể, trực
quan.
- Tư duy trực quan - hình ảnh
Là loại tư duy phát triển cao hơn, ra đời muộn hơn so với tư duy trực quan hành động.
Trong loại tư duy này, việc giải quyết vấn đề dựa vào các hình ảnh trực quan của sự vật
hiện tượng khách quan.
- Tư duy trừu tượng
Là tư duy phát triển cao hơn và chỉ có ở người bao gồm:
+ Tư duy hình tượng: kết quả của loại tư duy này cho ta một hình tượng.Mỗi hình tượng
mang một nội dung khái niệm bản chất. Qua hình tượng, ta có thể hiểu được những khái
niệm có chứa trong đó.
Ví dụ : hình tượng “ ông gióng nói lên sức mạnh chống ngoại xâm của dân tộc ta, hình
tượng tứ linh, tứ quý...
+ Tư duy ngôn ngữ - logic: Là loại tư duy phát triển ở mức độ cao nhất. Trong loại tư duy
này việc giải quyết vấn đề dựa trên các khái niệm, các mối quan hệ logic và gắn bó chặt
chẽ với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương tiện.
Ba loại tư duy trên đây liên quan chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau. Tư duy trừu tượng
đựợc thực hiện dựa trên cơ sở của 2 loại tư duy trực quan thấp hơn. Ở người trưởng thành,
khi đã phát triển tư duy trừu tượng điều đó không có nghĩa là không còn phát triển tư duy
trực quan - hành động và tư duy trực quan - hình ảnh nữa mà trái lại tư duy tư duy trừu
tượng tác động vào tư duy trực quan thêm cụ thể, thêm sinh động. Và tư duy trực quan tác
động vào tư duy trừu tượng thêm sâu sắc hơn làm cho các tư duy tồn tại, không ngừng phát
triển và hoàn thiện.
Ngoài ra nếu phân loại theo phương thức giải quyết vấn đề còn có tư duy thực hành và tư
duy lý luận.
4.3. Đặc điểm của tư duy
- Tính có vấn đề của tư duy
+ Tính có vấn đề của tư duy chỉ xẩy ra ở hoàn cảnh có vấn đề, tình huống có vấn đề.
+ Hoàn cảnh và tình huống có vấn đề kích thích con người tư duy..
+ Có nhu cầu nhận thức, có nhu cầu giải quyết các mâu thuẫn nẩy sinh tư duy.
Không phải bất kỳ tác động nào của thế giới khách quan cũng khiến con người có
tư duy. Trong thực tế tư duy chỉ nẩy sinh khi gặp hoàn cảnh và tình huống mới, đòi hỏi con
người phải giải quyết, song bằng vốn hiểu biết cũ, đã có người không thể giải quyết được.
Đây chính là hoàn cảnh có vấn đề hay còn gọi là tình huống có vấn đề. Để hoàn cảnh có
vấn đề kích thích tư duy, con người phải nhận thức được mâu thuẫn chứa trong vấn đề,
phải có nhu cầu giải quyết, nhu cầu nhận thức và phải có tri thức cần thiết liên quan đến
giải quyết vấn đề, nghĩa là con người phải ý thức được hoàn cảnh có vấn đề. Chỉ trên cơ sở
hoàn cảnh có vấn đề tư duy con người mới nẩy sinh và diễn biến. Trong thực tế học tậ,
nghiên cứu, công tác khám, chữa bệnh, có rất nhiều tình huống có vấn đề khiến người thầy
thuốc phải tư duy. Ví dụ: Trước người bẹnh mới cần được chẩn đoán và diều trị, trên cơ sở
hiểu biết về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của mình, người thầy thuốc phải tư duy để
giải quyết tình huống cụ thể này.
- Tính khái quát của tư duy

Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 20


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Tư duy có khả năng đi sâu vào nhiều sự vật hiện tượng nhằm vạch ra các thuộc tính
chung, mối quan hệ phổ biến có tính qui luật giữa chúng. Vì vậy tư duy mang tính khái
quát, nhờ tính khái quát của tư duy mà con người có thể nhận thức thế giới, cải tạo thế giới.
- Tính gián tiếp của tư duy
Tư duy có khả năng phản ảnh một cách gián tiếp sự vật hiện tượng khách quan, phản
ảnh bằng ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ và khả năng phản ánh gián tiếp, khái quát của tư duy
mà con người tìm ra được những thuộc tính bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có tính quy
luật, dự đoán chiều hướng diễn biến của sự vật hiện tượng để nhận thức và cải tạo chúng.
Trên cơ sở nắm được quy luật của thế giới mà con người đã sáng tạo ra nhiều công cụ để
tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới tốt hơn.
- Tư duy của con người quan hệ mật thiết với ngôn ngữ
Có nhiều quan điểm về sự quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ. Theo quan điểm duy vật
biện chứng thì tư duy và ngôn ngữ quan hệ mật thiết với nhau nhưng không đồng nhất với
nhau mà là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức.
Mối quan hệ giữa tư duy và nôn ngữ thể hiện trong suốt quá trình tư duy. Trong giai
đoạn mở đầu, muốn ý thức được, nhìn nhận ra được hoàn cảnh có vấn đề, đặt ra được vấn
đề cần giải quyết, con người phaỉ sử dụng phương tiện ngôn ngữ để phản ánh khái quát và
gián tiếp, để tiến hành các thao tác tư duy ( phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa,
khái quát hóa). Để biểu đạt kết quả, để trình bày sản phẩm của tư duy ( những tư duy phản
ánh bản chất, những quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng), con người
phải sử dụng ngôn ngữ. Ngay cả khi con người tiến hành các hình thức tư duy thực hành,
tư duy hình ảnh vẫn phải chịu sự chi phối chặt chẽ của hệ thống tín hiệu thứ hai tiếng nói
và chữ viết.
- Tư duy là một quá trình
Quá trình của tư duy có nẩy sinh, diễn biến và kết thúc, thông qua các giai đoạn :
+ Giai đoạn xác định vấn đề:
Khi gặp một tình huống có vấn đề, chủ thể tư duy phải có ý thức đó chính là tình huống có
vấn đề đối với bản thân và nhiệm vụ của tư duy là cần phải giải quyết các mâu thuẫn, các
nhu cầu bằng vốn tri thức và kinh nghiệm đã có của bản thân có liên quan đến giải quyết
vấn đề, trên cơ sở đó đề ra nhiệm vụ tư duy.
+ Giai đoạn huy động tri thức, kinh nghiệm:
Khi vấn đề đã xuất hiện trong đầu, chủ thể huy động mọi tri thức mọi kinh nghiệm của bản
thân tạo ra mối liên tưởng xung quanh vấn đề cần giải quyết.
+ Giai đoạn sàng lọc của liên tưởng :
Tức là chủ thể tư duy gạc bỏ những cái không cần thiết để hình thành giả thuyết về các
cách giải quyết vấn đề có thể đối với nhiệm vụ của tư duy.
+ Giai đoạn thực hiện nhiệm vụ tư duy và tìm ra kết quả.
+ Giai đoạn kiểm tra
Quá trình tư duy không tách rời quá trình nhận thức cảm tính. Quá trình tư duy bắt đầu từ
nhận thức cảm tính. Quá trình tư duy bắt đầu từ nhận thức cảm tính và trong suốt quá trình
của mình, tư duy sử dụng các tài liệu của nhận thức cảm tính. Mặt khác nhờ kết quả của
quá trình tư duy mà nhận thức cảm tính nói riêng và các phản ánh tâm lý khác nói chung
thêm sâu sắc và đầy đủ.
- Tư duy là một hành động trí tuệ
Trong quá trình tư duy, chủ thể tiến hành các thao tác trí tuệ nhằm giải quyết vấn đề lĩnh
hội, tiếp thu kiến thức. Những thao tác trí tuệ này tham gia vào quá trình tư duy như là
những thành tố của một hành động trí tuệ. Thường sử dụng các thao tác cơ bản sau đây:
+ Phân tích: Là thao tác nhằm tách sự vật hiện tượng thành những thuộc tính, những bộ
phận cụ thể và chỉ ra từng mối liên hệ, quan hệ giữa những bộ phận, thuộc tính này.Nhờ
phân tích mà con người nhận thức đối tượng tư duy đầy đủ hơn, sâu sắc hơn.
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 21


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
+ Tổng hợp: Thao tác đưa các thuộc tính, các bộ phận đã được phân tích vào một chính thể
bao quát hơn.
Phân tích, tổng hợp là hai thao tác cơ bản, có quan hệ mật thiết, bổ sung cho nhau trong
quá trình tư duy thống nhất. Phân tích là cơ sở của tổng hợp và tổng hợp diễn ra trên cơ sở
của phân tích ..
+ So sánh: Thao tác trong đó chủ thể xác định sự giống nhau, khác nhau giữa các sự vật
hiện tượng .
+Trừu tượng hóa: Thao tác trong đó chủ thể gạt bỏ những bộ phận, những thuộc tính, quan
hệ không cần thiết, về một phương diện nào đó không phải là bản chất và chỉ giữ lại những
yếu tố cần thiết, những thuộc tính cơ bản nhất.
+ Khái quát hóa: Chủ thể sử dụng để bao quát nhiều đối tượng khác nhau thành một
nhóm, một loại, một phạm trù trên cơ sở những thuộc tính chung, bản chất và có mối liên
hệ có tính qui luật. Kết quả của khái quát hóa cho ta một cái gì đó chung, cùng loại của
nhiều sự vật hiện tượng .
Trừu tượng hóa và khái quát hóa là hai thao tác cơ bản, đặc trưng của tư duy. Chúng
có quan hệ với nhau mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau tương tư như thao tác phân tích,
tổng hợp.Kết quả của tư duy là những sản phẩm của trí tuệ đi từ khái niệm đến phán đoán,
rồi tới suy lý (suy lý là hình thức trừu tượng của tư duy đi tư phán đoán)
4.4. Những phẩm chất của tư duy liên quan tới nhân cách
- Mức độ sâu sắc và khái quát của tư duy.
- Tính logic chặt chẽ.
- Khả năng cơ động, linh hoạt, mềm dẻo.
- Khả năng độc lập.
Người có khả năng độc lập suy nghĩ là người luôn tự mình tìm ra cách giải quyết vấn đề ,
tự hình thành nên nhiệm vu tư duy, ở mức độ cao hơn, họ còn đặt lại vấn đề theo sự hiểu
biết của mình, tự tìm ra cách giải quyết mới, có tính sáng tạo. Phẩm chất độc lập suy nghĩ
của tư duy có quan hệ chặt chẽ với óc phê phán, hoài nghi khoa học, ham hiểu biết tìm tòi,
kiên trì chịu khó. Phẩm chất độc lập không mâu thuẫn với tinh thần hợp tác, tập thể,ø cộng
đồng. Thông qua tập thể và cộng đồng mà phẩm chất độc lập của tư duy được xác định và
phát triển.
4.5. Sai sót trong tư duy
Sai sót trong tư duy có khi là hiện tượng tâm lý bình thường nhưng cũng có khi sai sót do
bệnh lý. Là những sai sót thuộc về kết quả tư duy (phán đoán, suy lý không chính xác, sự
hiểu biết khái niệm không đầy đủ ..) hoặc về hình thức thao tác của tư duy ( không biết tư
duy trừu tượng, sai sót trong phân tích, tổng hợp vấn đề, thiếu mềm dẻo ...)
Sai sót của tư duy có quan hệ chặt chẽ với những sai sót của các quá trình tâm lý khác nhất
là ý thức, cảm xúc, chú ý, năng lực, vốn hiểu biết. Sau đây là một số sai sót của tư duy có
liên quan đến quá trình bệnh lý của người bệnh:
Sự định kiến
Là kết quả tư duy về những sự vật hiện tượng có thực như người bệnh cố gán cho nó một
ý nghĩa khác quá mức, không đúng như vốn có của nó và ý tưởng này chiếm ưu thế trong ý
thức, tình cảm...của người bệnh.
Ví dụ người bệnh quá cường điệu về khuyết điểm của mình, tự ty…
- Ý tưởng ám ảnh: bệnh nhân có những ý tưởng không phù hợp với thực tế khách quan.
Ví dụ : Bệnh nhân luôn có ý nghĩ rằng mình có lỗi hoặc xúc phạm với thầy thuốc... nhưng
trong thực tế thì không phải như vậy . Ý nghĩ này có khi người bệnh biết là sai và tự đấu
tranh để xua duổi nó nhưng không được. Ý tưởng ám ảnh thường gắn với những hiện
tượng ám ảnh khác, như lo sợ ám ảnh, hành vi ám ảnh.
- Hoang tưởng : Là những ý nghĩ, phán đoán sai lầm, không phù hợp với thực tế do bệnh
tâm thần sinh ra.
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 22


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Ví dụ: Bệnh nhân luôn có ý nghĩ mình bị truy hại, bị nhiều bệnh hoặc mình là người vĩ
đại... những ý nghĩ này sẽ mất đi khi bệnh khỏi hoặc thuyên giảm trong các bệnh tâm thần.
Tư duy nhất là tư duy trừu tượng là một trong những hình thức phát triển cao của quá trình
nhận thức. Kết quả của tư duy được biểu hiện ra ngoài bằng ngôn ngữ. Quá trình hoạt động
chuyển lời thành ý và chuyển ý thành lời rất phức tạp có liên quan tới việc lĩnh hội kiến
thức, lĩnh hội thế giới khách quan.

Câu 19: Trình bày về cảm giác trong quá trình nhận thức
1.1.Khái niệm
- Cảm giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện
tượng khách quan khi chúng đang tác động trực tiếp vào giác quan.
- Là quá trình đơn giản nhất, có tính chất, cường độ và thời hạn có vai trò mở đầu cho các
hoạt động nhận thức .
- Là phản ánh ban đầu do tác động của thế giới khách quan vào các cơ quan cảm giác, cảm
giác phản ảnh sao chụp lại các thuộc tính của sự vật hiện tượng tồn tại ở bên ngoài và độc
lập với ý thức. Như vậy cảm giác là cái có sau so với hiện thực vật chất.
Trong thực tế, mỗi sự vật, hiện tượng là một chỉnh thể, trọn vẹn, gồm nhiều thuộc
tính, cùng tác động vào con người. Do giới hạn của mình nên cảm giác chỉ phản ánh được
từng thuộc tính riêng lẻ và phản ánh một cách trức tiếp những thuộc tính của sự vật, hiện
tượng.
Tuy là hiện tượng tâm lý sơ đẳng, song cảm giác là nền tảng của nhiều hoạt động
tâm lý khác của cả người và động vật. Với con vật, cảm giác là hình thức định hướng cao
nhất trong môi trường. Còn với con người, cảm giác chỉ là hình thức định hướng đầu tiên,
song nó đã giúp đỡ tích cực con người trong việc điều khiển, điều chỉnh hoạt động trong
môi trường.
Giác quan của một số loài vật phản ánh khá tinh vi và nhạy bén, như mắt của chim
đại bàng, tai của dơi…Giác quan của người qua quá trình phát triển lâu dài, qua rèn luyện,
nhờ kinh nghiệm, vốn sống và hoạt động nghề nghiệp mà không ngừng hoàn thiện, trở nên
tinh vi và nhạy bén hơn nhiều so với giác quan của các loài vật.
1.2. Phân loại cảm giác
Dựa vào những tiêu chuẩn khác nhau mà có những phân loại cảm giác khác nhau.
Căn cứ vào vị trí của nguồn kích thích và bộ máy thụ cảm, nguời ta chia thành hai loại hệ
thống: cảm giác bên ngoài và cảm giác bên trong cơ thể.
Cảm giác bên ngoài
Là những cảm giác phản ánh những thuộc tính của thế giới bên ngoài và những bộ máy thụ
cảm ở mặt ngoài và do những bộ máy thụ cảm ở mặt ngoài cơ thể thu nhận, bao gồm:
+ Cảm giác nhìn (Thị giác): được nẩy sinh do sóng điện từ tác động vào mắt (khoảng từ
380-780(m) trong đó có # 90% cảm giác là thị giác. Loại cảm giác này cho biết những
thuộc tính về hình dáng, độ lớn, màu sắc…của đối tượng. Nó cung cấp 90% lượng thông
tin mà con người thu nhận được từ tất cả các giác quan.
+ Cảm giác nghe (Thính giác): nẩy sinh do sóng âm thanh tác động vào tai, con người có
thể nhận biết âm thanh có tần số từ 16-20.000 Hertz.
Là những cảm giác cho biết những thuộc tính như độ cao, cường độ âm thanh của đối
tượng.
+ Cảm giác ngửi (Khứu giác): nẩy sinh do các chất trong không khí tác động vào mũi.
Là những cảm giác cho biết thuộc tính mùi của đối tượng.
+Cảm giác nếm (Vị giác): nẩy sinh do các chất kể cả trong không khí tác động vào lưỡi.
Loại cảm giác này cho biết những thuộc tính vị của đối tượng. Có 4 loại thuộc tính nếm cơ
bản là chua, cay, mặn, đắng. Sự kết hợp của bốn loại này sẽ cho đa dạng của vị giác.
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 23


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
+ Cảm giác da (Xúc giác): Nẩy sinh do các chất kể cả trong không khí tác động vào da.
Là cảm giác cho biết các thuộc tính cơ học hoặc nhiệt độ của đối tượng. Có 3 loại cảm giác
da: cảm giác tiếp xúc da( đụng chạm, nén, rung động, ngứa); cảm giác nhiệt độ ( nóng,
lạnh ) và cảm giác đau.
Cảm giác bên ngoài liên kết với vận động tạo nên sức mạnh của lao động “Bàn tay ta làm
nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm.”
Cảm giác bên trong
Là những cảm giác phản ánh trạng thái của cơ quan nội tạng và do bộ máy cảm thụ ở bên
trong cơ thể nhận kích thích, bao gồm:
+ Cảm giác vận động: là cảm giác do cơ khớp, dây chằng, bộ phận thụ cảm bên trong cơ
thể kích thích tay, lưỡi, môi, răng hoạt động.
Là những cảm giác về sự vận động, về vị trí từng bộ phận của thân thể, phản ánh độ co,
duỗi của cơ, của dây chằng và khớp xương…Cảm giác này cùng với cảm giác bên ngoài,
cho ta những thuộc tính như: rắn, mềm, khối lượng, co giãn, xù xì, trơn nhẵn…của đối
tượng.
+ Cảm giác thăng bằng: Phản ánh vị trị của cơ thể trong không gian, nhờ sự kích thích vào
các khí quan thụ cảm của bộ máy tiền đình (cơ quan cảm giác thăng bằng nằm ở thành của
3 ống bán khuyên trong tai).
+ Cảm giác cơ thể ( cảm giác bản thể ): Cho ta biết tình trạng hoạt động của các cơ quan
nội tạng(đau, đói, no, khát...) có liên quan tới các quá trình hô hấp, tuần hoàn, gan mật, cơ
bắp...
1.3. Những thuộc tính chung của cảm giác
Ngoài những thuộc tính riêng, cảm giác còn có các thuộc tính chung:
- Dạng thức của cảm giác: Các dạng thức này được dùng để phân biệt các loại cảm giác
( ví dụ nhìn màu, ngửi mùi) và để phân biệt sự biến đổi trong phạm vi từng loại cảm giác
( ví dụ cảm giác nếm mặn hay nhạt, ngọt hay đắng ).
- Cường độ: Đây là thuộc tính phản ánh sức mạnh của kích thích và trạngthái của bộ máy
thụ cảm, ví dụ tùy cường độ cảm giác kgác nhau mà ta nhìn đồ vật có độ rõ ràng khác
nhau.
1.4.Quy luật của cảm giác
- Quy luật ngưỡng cảm giác và mối quan hệ giữa ngưỡng và độ nhậy cảm
Mỗi giác quan được chuyên biệt hóa để phản ánh một dạng kích thích phù hợp, ví
dụ mắt phản ánh các song ánh sáng, tai phản ánh các song âm thanh…Song không phải
mọi kích thích khi đã tác động vào các giác quan tương ứng đều gây ra cảm giác. Muốn
gây nên cảm giác, kích thích phải đạt đạt tới một giới hạn nhất định gọi là ngưỡng cảm
giác, có ngưỡng tuyệt đối trên và ngưỡng tuyệt đối dưới.
+ Ngưỡng tuyệt đối
Bao gồm ngưỡng tuyệt đối phía dưới ( là cường độ hoặc tính chất kích thích tối thiểu đủ
gây ra cảm giác) và ngưỡng tuyệt đối phía trên ( là cường độ hoặc tính chất kích thích tối
đa mà ở đó vẫn còn gây ra cảm giác tương ứng. Phạm vi giữa ngưỡng trên và ngưỡng dưới
gọi là vngf cảm giác. Ví dụ:
Cơ quan thị giác có thể tiếp nhận ánh sáng kích thích trong khoảng 380-780m có nghĩa là
ngưỡng tuyệt đối trên là 780mu(tối đa) và ngưỡng tuyệt đối dưới là 390m (tối thiểu) vùng
tiếp nhận tốt nhất là 565m.
Cơ quan thính giác tiếp nhận âm thanh trong vùng cảm giác khoảng 16-20.000Hertz
ngưỡng tuyệt đối trên là 20.000Hertz và ngưỡng tuyệt đối dưới là 16Hertz vùng phản ánh
tốt nhất là 1000 Hertz
+ Ngưỡng sai biệt: là mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hoặc tính chất của 2 kích
thước đủ để ta phân biệt được gọi là ngưỡng sai biệt.
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 24


TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Ngưỡng sai biệt của thị giác là 1% ( Nếu 2 màu đỏ chênh nhau 1% về cường độ hoặc bước
sóng trở lên ta mới phân biệt được chúng).
Ngưỡng sai biệt của thính giác là 1/10 (Trên 2 nốt nhạc chênh nhau 1/10 cường độ hoặc
tần số trở lên ta mới phân biệt được chúng)
Ngưỡng sai biệt của cảm giác trọng lượng, nén ép là 1/30.
Ngưỡng tuyệt đối và ngưỡng sai biệt không giống nhau giữa các loại cảm giác và giữa các
cá nhân. Ngưỡng cảm giác có thể thay đổi theo lứa tuổi, trạng thái sức khỏe, trạng thái tâm
– sinh lý, tính chất nghề nghiệp, sự rèn luyện, kinh nghiệm…của mỗi người.
- Mối quan hệ giữa ngưỡng cảm giác và độ nhậy cảm sai biệt
+ Độ nhậy: Khả năng nhận cảm khác nhau ở mức độ rất nhỏ giữa 2 kích thích gọi là độ
nhậy (nhậy cảm). Khả năng cảm nhận sự khác nhau rất nhỏ giữa hai kích thích ( nhận ra
ngưỡng sai biệt) gọi là độ nhậy cảm sai biệt, hay tính nhậy cảm sai biệt.
Ngưỡng cảm giác phía dưới và ngưỡng sai biệt tỷ lệ nghịch với độ nhậy cảm của cảm
giác. Ngưỡng dưới càng thấp thì độ nhậy cảm càng cao; ngưỡng sai biệt càng bé thì độ
nhạy cảm sai biệt càng cao.
Quy luật về sự thích ứng
Cảm giác được xác định không chỉ do vật kích thích mà còn do những điều kiện tâm - sinh
lý nữa. Để đảm bảo cho sự phản ánh tốt nhất và bảo vệ hệ thần kinh, cảm giác của con
người có khả năng thích ứng với kích thích. Sự thích ứng của cảm giác là khả năng thay
đổi độ nhậy cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ, tính chất của kích thích, quy luật
chung về sự thích ứng của cảm giác là :
+ Tăng độ nhậy cảm khi gặp kích thích yếu.
Ví dụ vào buổi tối, đèn trong phòng đang sáng, tự nhiên tắt. Lúc đầu ta chưa nhìn rõ đồ
vật, nhưng sau vài giây, độ nhậy cảm tăng lên, thị giác thích ứng và bắt đầu nhìn rõ đồ vật
trong phòng hơn.
+ Giảm độ nhậy cảm khi gặp kích thích mạnh và lâu.
Ví dụ như trong phòng đang tối, đèn tự nhiên bật sáng, mắt ta lóa lên và không nhìn rõ
ngay đồ vật. Phải đợi vài giây, độ nhậy cảm giảm xuống, thị giác thích ứng dần và bắt đầu
nhìn thấy rõ. Hoặ một ví dụ khác, chúng ta không cảm thấy sức nặng của đồng hồ đeo ở
tay, vì do đeo nó đã lâu ngày, độ nhậy cmr về kích thích của đồng hồ giảm đi và ta đã thích
ứng với nó.
Sự thích ứng của mỗi cảm giác không giống nhau.Có những cảm giác thích ứng nhanh như
nhìn, ngửi, nóng lạnh...Có những cảm giác thích ứng chậm như nghe, đau, thăng
bằng...Khả năng thích ứng của cảm giác con người có thể thay đổi tùy theo sự rèn luyện
trong quá trình sống của mỗi người.
Quy luật về sự tác động qua lại giữa các cảm giác
Thế giới khách quan tác động vào con người bằng nhiều thuộc tính, tính chất và gây ra cho
con người nhiều cảm giác khác nhau. Mặt khác con người là một chỉnh thể, thống nhất,
mọi giác quan đều quan hệ chặt chẽ với nhau tác động qua lại với nhau. Kết quả của sự tác
động qua lại giữa các cảm giác là làm thay đổi độ nhậy cảm của một cảm giác này dưới
một tác động của một cảm giác khác.Quy luật chung của sự tác động qua lại giữa các cảm
giác là:
+ Kích thích yếu lên cơ quan phân tích này sẽ làm tăng nhạy cảm lên cơ quan khác. Ví dụ
cảm giác nếm chất chua nhẹ sẽ làm tăng độ nhạy của cảm giác thị giác.
+ Kích thích mạnh lên cơ quan phân tích này sẽ làm giảm độ nhậy cảm lên cơ quan khác.
Ví dụ nhìn ánh sáng gay gắt, tai nghe sẽ kém hơn.
Sự tác động qua lại giữa các cảm giác có thể diễn ra đồng thời hoặc nối tiếp, có thể
giữa các cảm giác cùng loại hay khác loại. Sự tác động qua lại giũa những cảm giác cùng
loại được gọi là hiện tượng tương phản trong cảm giác. Đó là sự thay đổi cường độ hay
Tài liệu Luật học – Kinh tế (fanpage)

Page 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×