Tải bản đầy đủ

Phương tiện tu từ môn phong cách học tiếng Việt

I.

CÁC PHƯƠNG TIỆN TU TỪ CỦA TIẾNG VIỆT
1. Nhóm so sánh: (nhóm tỉ dụ)
- So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật
khác miễn là giữa hai vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ
thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc người nghe.
Vd: Đen như than, khỏe như trâu,….
“Chòng chành như nón không quai
Như thuyền không lái như ai không chồng”

“Gái thương chồng, đương đông đầy chợ”

“Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu”

“Gió thổi là chổi trời
Nước mưa là cưa trời”

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.
 so sánh trừu tượng: nói lên nỗi niềm hân hoan, hạnh phúc, thân thương
khi trở lại nơi trốn quen thuôc.
Thà rằng nhịn miệng qua ngày
Còn hơn vay mượn mắc dây nợ nần
Một trăm gầu tát không bằng một bát nước mưa

Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hánh tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng

Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.
 so sánh không ngang bằng, khẳng định công lao to lớn của người mẹ
( bầm) và tình cảm kính yêu của tác giả với mẹ


Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu


2. Nhóm ẩn dụ:
a) Ẩn dụ
- Ẩn dụ thực chất là so sánh ngầm, trong đó vế so sánh giảm lược đi chỉ còn vế

-

-

được so sánh => là phương thức chuyển nghĩa của một đối tượng này thay cho
đối tượng khác khi hai đối tượng có một nét nghĩa tương đồng nào đó.
Ẩn dụ hình tượng: cách gọi sự vật A bằng sự vật B.
Người Cha mái tóc bạc
Lấy hình tượng Người Cha để gọi tên Bác Hồ. Nếu thay Bác Hồ mái tóc
bạc thì tính biểu cảm sẽ mất đi.
Ẩn dụ cách thức: gọi hiện tượng A bằng hiện tượng B.
Về thăm quê Bác làng Sen

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng.
Nhìn “hàng râm bụt” với những bông hoa đỏ rực tác giả tưởng như những
ngọn đèn “thắp lên lửa hồng”.
Vd: cún con, heo con, gà con,….của mẹ. Thằng ranh con, quỷ sứ, đồ quỷ,…
Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu
Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
 Ẩn dụ: Đóa trà mi: chỉ Kiều;
Con ong: Mã GS.
Ý nói sự trinh trắng của người con gái đã bị gã đàn ông ong bướm kia lấy mất.
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu
Trong đoạn thơ trên nhà thơ nói về thuyền nhưng thật ra không phải là thuyền,
về biển nhưng không phải là biển. Hình ảnh của thuyền di động khắp nơi trên
mặt biển mênh mông sóng vỗ. Nhờ hủ pháp nghệ thuật ẩn dụ ta thấy được mối
quan hệ khăng khít giữa thuyền và biển chính là tâm trạng của đôi bạn tình
đang yêu nhau tha thiết, đó là sự so sánh ngâm, thuyền và biển chính là ẩn dụ
của đôi nam nữ.
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt

Để lòng anh hóa bến
Nghe thuyền em ra đi

Cũng có lúc rạt rào
Muốn nghiến nát bờ em


-


''Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ''
Trong 2 câu thơ trên hình ảnh mặt trời trong câu thơ thứ nhất là mặt trời thật
còn hình ảnh mặt trời ở câu thơ thứ hai để chỉ hình tượng Bác Hồ . Với cách
nói ẩn dụ như vậy, nhà thơ Viễn Phương đã làm nổi bật hình tượng Bác Hồ
.Bác tượng trưng cho ánh sáng của lí tưởng, soi rõ đường đi cho cả dân tộc Việt
Nam. Giữa Bác Hồ và mặt trời không có mối quan hệ về mặt bản chất, người
ta chị khai thác những nét tương đồng giữa mặt trời và Bác thông qua sự liên
tưởng để làm nổi bật vẻ đẹp của bác .Tuy nhiên, cần lưu ý rằng : Ý nghĩa trên
chỉ xuất hiện trong ngữ cảnh mà 2 câu thơ tạo ra .Còn rời ngữ cảnh này thì Bác
Hồ là Bác Hồ ,còn mặt trời là mặt trời, không còn được dùng để thay thế cho
nhau nữa.
'' Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền''
Trong câu ca dao này, người ta đã khai thác được một mối quan hệ khăng khít,
gần gũi giữa thuyền và bến. Bến là nơi cố định để thuyền đi về, thuyền thì lại
luôn thay đổi .Từ đó, người ta đã tạo ra cách nói ẩn dụ rất tinh tế, mượn thuyền
và bến để nói con người. Đó chính là lời nhắn nhủ về tấm lòng thủy chung của
nhân vật ''BẾN'' tượng trưng cho một tấm lòng chung thủy của người con gái,
nhắn nhủ với đối tượng ''THUYỀN'' tượng trưng cho những người con trai đi
xa Ẩn dụ thể hiện những hàm ý mà người đọc suy ra mới hiểu được
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng
Ở đây, hình ảnh chim chiền chiện, giọt sương rơi (giọt long lanh) là những dấu
hiệu báo mùa xuân đến. Ẩn dụ này được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng
dấu hiệu đặc trưng - mùa.
Thác bao nhiêu thác cũng qua
Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời
Câu thơ có hai hình ảnh ẩn dụ:
+ Thác - chỉ những khó khăn vất vả, những thử thách.
+ Chiếc thuyền - chỉ con đường cách mạng, chỉ con đường của cả nước non
mình.
+ Câu thơ xây dựng hình ảnh ẩn dụ dựa trên những liên tưởng có thực (thác khó khăn, con thuyền - sức vượt qua) để nói lên sức sống và sức vươn lên
mãnh liệt của cả dân tộc chúng ta.
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa
+ Đào: cô gái.


+ Vườn hồng: trái tim / tình cảm của cô gái.
Tác giả đã mượn hình ảnh đối đáp của “mận”, “đào”, “vườn hồng” để tỏ tình 1
cách kín đáo của chàng trai với cô gái. Mượn cây nói người chính là ẩn dụ.
b) Ẩn dụ bổ sung
- Ẩn dụ bổ sung hay còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, tức là sự thay thế của
một cảm giác này bằng một cảm giác khác trong nhận thức cũng như trong
diễn đạt bằng ngôn ngữ.
Vd: Xuân Diệu đưa cái mới vào thơ bằng những cảm quan và những biểu đạt
rất mới
Này lằng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn
Hãy tự buông cho khúc nhạc hường
Dẫn vào thế giới của du dương
Ngừng hơi thở lại xem trong ấy
Hiển hiện hoa và phảng phất hương
Hãy uống thơ tan trong khúc nhạc
Ngọt ngào than gọi thở xa khơi
Khúc nhạc của nhà thơ không chỉ nghe bằng tai mà nghe bằng mắt bằng da và
bằng lưỡi, lúc này các giác quan được huy động đến tột độ và dẫn đến sự giao
thoa xuyên thấm lẫn lộn. Phải là nghệ sĩ mới có cái nghe kỳ diệu ấy và cũng là
lúc chính nhà thơ làm cho độc giả trở thành nghệ sĩ
Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng
….
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn
Hãy tự buôg cho khúc nhạc hường
Dẫn vào thế giới của du dương
Khúc nhạc của nhà thơ không chỉ nghe bằng tai mà còn nghe bằng da bằng
lưỡi…thấm vào tâm hồn. Lúc này mọi giác quan được huy động đến tột dẫn tới
sự giao thoa, xuyên thấm.
Mới được nghe giọng hờn dịu ngọt
Huế giải phóng nhanh mà anh lại muộn về.

Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò

Tăm tăm tình bạn
Chếnh choáng tình đời
Líu lưỡi tình người
Nôn nao thân phận…


c)
-

-

-

-

-

d)
-

Cảm nhận tình bạn, tình đời, tình người, số phận cũng có hơi men chếnh
choáng nôn nao.
Ẩn dụ nhân (cách) hóa và vật hóa
Là chuyển đổi từ những vật vô sinh thành hữu sinh hoặc từ thế giới vật chất
sang thế giới ý thức của con người.
Vật hóa là hướng chuyển ngược lại từ người sang động vật hoặc đồ vật.
Vd:
Khăn thương nhớ ai khăn rơi xuống đất
Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt

Người tình ta để trên cơi
Nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ
Dùng từ ngữ chỉ tính chất của con người để chỉ tính chất của con vật, đồ vật
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đựng trong nghiên sầu
Đau đớn thay cho cây quế giữa rừng
Để ác đen nó đậu đau lòng quế thay
Ước gì con ác nó bay
Tiên ngồi gốc quế, quế nay bằng lòng
Quế chỉ một loại cây thân gỗ, là dược liệu quý , có vị cay, mùi thơm, với thuộc
tính nóng.  ẩn dụ nhân hóa:
+ Quế ở đây không còn vô tri vô giác nữa, mà đã biết “đau lòng” hay biết
“bằng lòng” rồi.
+ Hàm chỉ sự không tương xứng, thường là trong quan hệ lứa đôi (như vậy:
Quế chỉ người có phẩm chất cao quý và ngoại hình đẹp đẽ, tài hoa. Con ác
chỉ kẻ thấp hèn, xấu xí).
Coi đối tượng không phải là người như con người để trò chuyện tâm sự
Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương
Vật hóa
Gái chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên bỏ lọ gánh chồng đi chơi
Chẳng may quang đứt, lọ rơi
Bò ra lổm ngổm, chín nơi chín chồng
Bài ca dao trên đem tới cho người đọc tiếng cười vui vẻ và sảng khoái. Qua đó
thể hiện sự châm biếm, hóm hỉnh mà thâm thúy  thái độ, tình cảm của mình
trước hiện thực một cách sâu sắc và thấm thía
Phúng dụ
Phúng dụ là hệ thống những ẩn dụ, nhân hóa được sử dụng để biểu đạt một nội
dung triết lí hay bài học luân lí mà người nói không muốn trình bày trực tiếp.
Có thể coi phúng dụ là dạng thức ẩn dụ nhưng với quy mô lớn hơn, không chỉ
ở cấp độ câu, đoạn mà còn bao quát toàn bộ tác phẩm. Phúng dụ dựa trên cơ sở


lối nói ngụ ý, bóng gió, biểu đạt một ý tưởng trừu tượng, khái quát bằng hình
ảnh trực quan.
Vd: Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao diễn tả một
triết lý về sự đoàn kết.
Với nhiều bàn tay, thuyền sẽ được chèo lên núi.
Nói lên kinh nghiệm sống đoàn kết tạo nên sức mạnh phi thường.
-

Đặc điểm:
+ Thường gặp nhất của phúng dụ trong nghệ thuật là phương thức nhân cách
hóa các loại tư tưởng bằng hình ảnh các sinh thể sống hoặc các định đề ẩn dụ.
Chẳng hạn: trong Thần thoại Hy Lạp, sự chiến thắng được miêu tả bằng hình
ảnh nữ thần Nike với vòng nguyệt quế, công lý được mô tả bằng hình ảnh nữ
thần Thémis có cặp mắt nghiêm khắc và đôi tay cầm chiếc cân, ý niệm về sức
mạnh, sự quả cảm, sự sáng suốt thể hiện dưới dạng các con thú như sư tử, đại
bàng, gấu v.v.
+ Ẩn dụ chỉ có một nghĩa. Phúng dụ bao giờ cũng được hiểu ở cả hai bình diện
nghĩa: bề mặt và bề sâu. Chẳng hạn hình ảnh trực quan về "cái ao" trong câu ca
dao Việt Nam: ta về ta tắm ao ta/dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn theo truyền
thống là sự ca ngợi tình yêu quê hương ruột thịt, tấm lòng thủy chung sắt son
với những gì thân quen nhất của một con người dù cho những điều ấy có thể
không hoàn hảo bằng thiên hạ.
Vd:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.


Tổ ong lủng lẳng trên cành,
Trong đầy mật nhộng, ngon lành lắm thay!
Cáo già nhè nhẹ lên cây,
Định rằng lấy được ăn ngay cho dòn.
Ong thấy cáo muốn cướp con,
Kéo nhau xúm lại vây tròn cáo ta.
Châm đầu, châm mắt cáo già,
Cáo già đau quá phải sa xuống rồi.
Ong kia yêu giống, yêu nòi,
Đồng tâm, hợp lực đuổi loài cáo đi.
Bây giờ ta thử so bì,
Ong còn đoàn kết, huống chi là người!


Nhật, Tây áp bức giống nòi,
Ta nên đoàn kết để đòi tự do.
e) Tượng trưng:
- Phương pháp tu từ này có đặc điểm là sử dụng một từ (hình ảnh) đã được qui

-

ước về mặt xã hội để biểu thị cho một đối tượng (đặc tính) nào đó ngoài nghĩa
thông thường của nó. Chẳng hạn cây tùng tượng trưng cho người quân tử, cây
trúc tượng trưng có ngay thẳng công minh, hoa hồng tượng trưng cho tình
yêu… Từ những ước lệ đó, người ta vận dụng ẩn dụ hoặc hoán dụ với những
trường hợp cụ thể để có những tượng trưng nhất định.
Là sự kết hợp của môt khái niệm trừu tượng với một khái niệm về cảm giác
Vd: Cỏ cây một màu khổ não
Xanh ve mãi lên môt niềm hoài vọng
Màu đỏ giận dữ
Ở đây có sự kết hợp của các từ ngữ: màu + “khổ não, giận dữ, hoài vọng” 
một khái niệm thì trừu tượng, một khái niệm thì cụ thể
Vd: “Chênh vênh thẳng đuột bách tùng, Với hàng lau cỏ đứng cùng được
sau”.
Hoa thơm bán một đồng mười
Hoa tàn nhị rữ bán đôi lạng vàng
….
Nàng rằng khoảng vắng đêm trường
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa

Phượng những tiếc cao diều hay liệng
Hoa thì hay héo cỏ thường tươi

Nghĩa gốc: hoa là cơ quan sinh sản của một loài thực vật, thường có màu sắc
đẹp và hương thơm. Từ hoa khi thì được dùng để ví người phụ nữ đẹp, khi thì
dùng đê ví người tình hào hoa phong nhã, khi thì lại dùng để ví người có phẩm
chất cao đẹp. Như vậy hoa đồng nghĩa với những điều tốt đẹp cao quý.
….
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”
– Nghĩa đen: Bánh trôi nước về màu sắc và hình dáng
– Nghĩa bóng : Hình ảnh về vẻ đẹp người phụ nữ có làn da trắng và thân hình
đầy đặn .
 Qua hình ảnh cái bánh nhà thơ đã gợi cho người đọc hình dung được một hình
ảnh khác thật sâu săc kín đáo đó là hình ảnh , từ đó gợi cảm xúc cho người đọc
về người phụ nữ xưa …
3. Nhóm nhân hóa


Nhân hóa là biến sự vật thành con người bằng cách gán cho nó những hoạt
động, tính cách, suy nghĩ… giống như con người, làm cho nó trở nên sinh
động, hấp dẫn, gần gũi, sống động và có hồn hơn.
Vd: Những chị luá phất phơ bím tóc, Những cây tre bá vai nhau thì thầm đứng
học, Ðàn cò trắng - Khiêng nắng qua sông.
Ông trời
mặc áo giáp đen
Ra trận
Muôn ngàn cây mía
Múa gươm
- Nhân hóa để tả hình dáng: Dòng sông uốn mình qua cánh đồng xanh ngắt
lúa khoai…
- Nhân hóa để tả hoạt động: Bão bùng thân bọc lấy thân - Tay ôm tay níu tre
gần nhau thêm.
- Nhân hóa để tả tâm trạng: Hết mùa hoa - chim chóc cũng vãn. Cây gạo
chấm dứt những ngày tưng bừng, ồn ã, lại trở về với dáng vẻ xanh mát, trầm
tư.
- Nhân hóa để tả tính cách: Dòng sông mới điệu làm sao - Nắng lên mặc áo
lụa đào thướt tha…
- Trò chuyện tâm sự với vật như đối với người:
Em hỏi cây kơ nia
Gió mày thổi về đâu
Về phương mặt trời mọc…

Ðêm nằm than thở, thở than
Gối ơi hỡi gối, bạn lan đâu rồi?
4. Hoán dụ
- Là phương thức chuyển nghĩa bằng cách gọi tên (hoán đổi) sự vật, hiện tượng,
khái niệm này bằng tên sự vật, hiện tượng, khái niệm khác khi chúng có quan
hệ gần gũi với nhau.
-

-

Lấy bộ phận để chỉ toàn thể:

Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cùng thành cơm
 Chỉ người lao động
-

Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng (số lượng cụ thể và số nhiều):

Một cây làm chẳng lên non Chỉ số ít
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Chỉ số nhiều

Vì lợi ích mười năm trồng cây , thời gian trước mắt
Vì lợi ích trăm năm trồng người. thời gian lâu dài.



Trăm năm trăm tuổi trăm chồng
Lấy ai thì bế thì bồng trên tay

Trăm người như một, trăm công nghìn việc, trăm người như
một, nghìn nhớ vạn thương
Gọi đích xác là “trăm, nghìn” nhưng ai cũng hiểu là số
nhiều, nhiều không kể hết
-

Lấy dấu hiệu của hiện tượng để gọi hiện tượng:

Ngày Huế đổ máu  Chiến tranh, xảy ra chiến sự
Chú Hà Nội về
Tình cờ chú cháu
Gặp nhau Hàng Bè.

Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.
 Người dân Việt Bắc.
- Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng:
Áo nâu liền với áo xanh
Nông dân cùng với thị thành đứng lên.
Chỉ những người sống ở nông thôn, thành thị
Vì sao? Trái đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên người: Hồ Chí Minh.
 Chỉ nhân loại
- Chuyển tên riêng thành tên chung:
Những hồn Trần Phú vô danh
Sóng xanh biển cả cây xanh núi ngàn
- Tượng trưng:
Thương thay thân phận con rùa
Lên đình đội hạt xuống chùa đội bia
 Thể hiện tính cách nhẫn nhục trong lao động và trong
mọi hoàn cảnh bị áp bức
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời, vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thời trèo với thông
 Thông hay tùng trúc cúc mai tượng trưng cho khí phách
của bậc chính nhân quân tử, không biết khuất phục trước
gió
5. Cách phân biệt Ẩn dụ - Hoán dụ
- Dựa trên quan hệ tương cận


- Lô gíc có thực, mang tính khách quan
- Dựa trên quan hệ tương đồng
- Lô gic chủ quan
+ Ẩn dụ: dựa vào sự liên tưởng tương đồng, tức là giữa A và B có điểm gì đó giống
nhau, nên người ta dùng A để thay cho tên gọi B. Trong đó cả hai sự vật thường khác
hoàn toàn.
Ví dụ : “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”
Hoa lựu có màu đỏ như lửa, bởi vậy lửa (A) được dùng làm ẩn dụ
chỉ hoa lựu (B)
+ Hoán dụ: dựa vào sự liên tưởng tương cận (gẫn gũi). Trong đó, cả hai sự vật mối
quan hệ gần kề.
Ví dụ : Đầu xanh có tội tình gì
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi”
Đầu xanh : chỉ 1 bộ phận trên cơ thể người (gần kề với người) chỉ
người còn trẻ. Tương tự, má hồng: chỉ người con gái đẹp



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×