Tải bản đầy đủ

LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG LÃNH đạo GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA TRONG PHÁT TRIỂN nền KINH tế NHIỀU THÀNH PHẦN từ năm 1996 đến năm 2006

BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Ban Chấp hành Trung ương

Chữ viết tắt
BCHTW

Chính trị quốc gia

CTQG

Chủ nghĩa tư bản

CNTB

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá


CNH,HĐH

Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐCSVN

Lực lượng sản xuất

LLSX

Quan hệ sản xuất

QHSX

Quân đội nhân dân

QĐND

Tư bản chủ nghĩa

TBCN

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

MỤC LỤC


Tran
MỞ ĐẦU

g

Chương 1: YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA

3

ĐẢNG VỀ GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA TRONG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ NHIỀU

THÀNH PHẦN TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006
1.1. Yêu cầu khách quan giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thời

11

kỳ 1996- 2006
1.2. Chủ trương của Đảng về giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần từ năm

11

1996 đến năm 2006
Chương 2: ĐẢNG CHỈ ĐẠO GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA TRONG PHÁT TRIỂN NỀN KINH

29

TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM
2006, KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM
2.1. Đảng chỉ đạo giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần từ năm 1996 đến năm 2006
2.2. Kết quả và kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng lãnh đạo

51

giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần từ năm 1996 đến năm 2006

51

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
64
94
96


3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Định hướng XHCN là vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản, trọng yếu
chi phối các hoạt động tư tưởng, lý luận của chúng ta hiện nay. Từ Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI(1986), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đó là nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng XHCN. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước, Đảng ta tiếp tục khẳng định thực hiện nhất quán chính sách kinh tế
nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ
phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Thực hiện chủ trương đó, kinh tế Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới đã
đạt được những thành tựu hết sức quan trọng có ý nghĩa lịch sử. Điều đó chứng
tỏ chính sách kinh tế nhiều thành phần của Đảng, Nhà nước đã phát huy hiệu
quả. Tuy nhiên, thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay luôn tồn tại trên
thực tế cuộc đấu tranh sống còn giữa hai định hướng XHCN và TBCN. Bản thân
nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường với sự có mặt của các
thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân sẽ tự phát vận động theo xu hướng
TBCN nếu như sự kiểm soát định hướng của Nhà nước XHCN không đủ mức.
Trong điều kiện nền kinh tế mở với sự hậu thuẫn của CNTB quốc tế thì cuộc đấu
tranh giữa hai xu hướng trên càng trở nên quyết liệt. Nếu chủ quan với khuynh
hướng TBCN, tự bằng lòng với những thành tựu đã đạt được, không chăm lo
củng cố, đổi mới, phát triển các nhân tố XHCN thì nền kinh tế nước ta sẽ chệch
sang hướng TBCN. Đó là một trong những nguy cơ đối với chế độ XHCN ở
nước ta mà Đảng đã xác định từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994). Đại
hội lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ: “Trong quá trình thực hiện chúng ta đã phạm


4
một số khuyết điểm lệch lạc lớn và kéo dài dẫn đến chệch hướng ở lĩnh vực này
hay lĩnh vực khác, ở mức độ này hay mức độ khác” [24, tr.13].
Quá trình thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay có
thể phát triển theo hai khả năng: đó là phát triển đúng định hướng XHCN và
chệch hướng XHCN. Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Bên cạnh đó còn không ít người băn khoăn,
nghi ngờ về khả năng đi lên CNXH ở nước ta khi chúng ta thực hiện chính sách
kinh tế nhiều thành phần. Mặt khác, các thế lực thù địch và bọn phản động luôn
tìm mọi cách chống phá chúng ta trên mặt trận tư tưởng với mục tiêu là xoá bỏ sự
lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ CNXH ở nước ta bằng các luận điệu như: kinh tế thị
trường thì không thể đi cùng CNXH; kinh tế thị trường là sản phẩm riêng có của
CNTB; chế độ chúng ta là chế độ XHCN thì không cần phải định hướng
XHCN…tất cả những quan điểm trên đều là những luận điệu sai trái, phản khoa
học mà chúng ta cần phải đấu tranh, bác bỏ.
Thực tiễn quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta
với việc giữ vững định hướng XHCN và những nhận thức khác nhau cũng
như để đấu tranh chống lại các luận điểm sai trái, tôi chọn đề tài: “Đảng lãnh
đạo giữ vững định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần từ năm 1996 đến năm 2006” làm luận văn thạc sỹ lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giữ vững định hướng XHCN trong quá trình đổi mới là một vấn đề lớn,
có phạm vi rộng bao hàm nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khoa học. Do đó,
những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tập thể, các nhà
khoa học đề cập đến vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau.
Nhóm các tác phẩm của các cá nhân, tập thể đã xuất bản thành sách,
tiêu biểu như:


5
Nguyễn Tĩnh Gia (1998), “Xu hướng biến đổi của nền kinh tế nhiều
thành phần ở Việt Nam”, Nxb CTQG, Hà Nội. Nội dung cuốn sách đã đề cập
một cách có hệ thống sự vận động, biến đổi cũng như xu hướng phát triển của
các thành phần kinh tế ở nước ta, đồng thời đề cập đến vai trò của Đảng, Nhà
nước trong việc định hướng phát triển của các thành phần kinh tế.
Lê Xuân Tùng (1999), “Các thành phần kinh tế và cách mạng quan hệ
sản xuất”, Nxb CTQG, Hà Nội. Nội dung cuốn sách đã trình bày một cách có
hệ thống vai trò của các thành phần kinh tế trong quá trình hoàn thiện quan hệ
sản xuất XHCN ở nước ta.
Đỗ Mười (1999), “Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb
CTQG, Hà Nội. Đây là cuốn sách gồm những bài phát biểu của nguyên Tổng
Bí thư Đỗ Mười tại các Hội nghị Trung ương, đại hội các đảng bộ địa
phương, cơ quan ban ngành từ năm 1991 đến 1997. Trong đó tác giả đã phân
tích một cách sâu sắc vị trí, vai trò, tính tất yếu của sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước, nêu rõ vai trò của phát triển kinh tế nhiều thành phần trong sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước; phê phán những nhận thức sai lệch khi chúng ta phát
triển nền kinh tế thị trường mà xa rời những giá trị truyền thống của dân tộc.
Nguyễn Đức Bách (Chủ biên) (2001), “Một số vấn đề về định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb Lao động, Hà Nội. Đây là cuốn sách gồm
nhiều tác giả, trong đó đã đề cập một cách tương đối đầy đủ về con đường đi
lên CNXH ở Việt Nam; những nội dung cơ bản về định hướng XHCN ở Việt
Nam; về công tác xây dựng Đảng ngang tầm công cuộc đổi mới theo định
hướng XHCN; về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Trong
đó tác giả đã trình bày một cách có hệ thống cơ sở lý luận cũng như thực tiễn
của định hướng XHCN trong nền kinh tế nhiều thành phần, những nội dung
cơ bản của định hướng XHCN trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá- xã
hội.


6
Trần Xuân Trường (2008), “Về định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
lý luận và thực tiễn”, Tuyển tập, Nxb QĐND, Hà Nội. Trong phần thứ nhất của
cuốn sách, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận cấp
bách về định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, tác giả đã khẳng định: Định
hướng XHCN- mục tiêu và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam; làm rõ
một số nội dung cần định hướng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và
con người; vấn đề định hướng XHCN và tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc.
Lê Xuân Lựu(chủ biên) (2003), “Một số vấn đề về định hướng xã hội
chủ nghĩa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, Nxb QĐND, Hà
Nội. Đây là cuốn sách có nhiều bài viết của tác giả, trong đó đề cập đến vấn
đề định hướng XHCN trong lĩnh vực kinh tế. Trong bài viết “Vấn đề định
hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế”, tác giả đã khẳng định vấn đề định
hướng XHCN trong phát triển kinh tế đặt ra như một nguyên tắc, một vấn đề
chiến lược. Từ đó tác giả đã đề cập đến một số chủ trương và giải pháp nhằm
bảo đảm định hướng XHCN trong phát triển kinh tế.
Lê Minh Quân (2003), “Xây dựng Nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu
cầu phát triển đất nước theo định hướng XHCN”, Nxb CTQG, Hà Nội. Nội
dung cuốn sách đã đề cập đến vai trò của Nhà nước trong giữ vững định hướng
XHCN, đồng thời đưa ra một số giải pháp để xây dựng Nhà nước vững mạnh,
đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng XHCN.
Nguyễn Phú Trọng (chủ biên) (2001), “Về định hướng xã hội chủ nghĩa
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Nxb CTQG, Hà Nội. Đây
là cuốn sách gồm nhiều tác giả đã trình bày một cách có hệ thống nhiều vấn
đề về định hướng XHCN ở Việt Nam. Trong bài viết “Định hướng xã hội chủ
nghĩa- một khái niệm khoa học”, tác giả Hà Xuân Trường đã làm rõ khái
niệm, nội hàm của định hướng XHCN; bài viết “Con đường và điều kiện bảo
đảm định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, tác giả Tô Huy Rứa đã phân


7
tích, làm rõ những điều kiện để bảo đảm định hướng XHCN ở nước ta hiện
nay; bài viết “Định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá”, tác giả Đoàn Ngọc Hải đã nêu lên tính tất yếu và vai trò của
định hướng XHCN trong quá trình CNH, HĐH; bài viết “Xu hướng và các
nhân tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nhiều thành
phần”, tác giả Nguyễn Chí Mỳ đã nêu lên những xu hướng chủ yếu của quá
trình phát triển nền kinh tế thế giới, qua đó đề cập đến các nhân tố bảo đảm
định hướng XHCN đối với nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.
Vũ Đình Bách (2008), “Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt
Nam”, Nxb CTQG, Hà Nội. Nội dung cuốn sách đã đề cập một cách có hệ
thống về kinh tế thị trường là gì, nó có tương hợp với CNXH không, sự khác
nhau giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN và kinh tế thị trường TBCN.
Phạm Văn Dũng (2008), “Định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị
trường ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội. Tác giả đã trình bày những nội dung cần định hướng phát triển trong nền
kinh tế thị trường ở nước ta, từ đó nêu lên thực trạng và những giải pháp để giữ
vững định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
Nhóm các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học, tiêu biểu như:
Trần Thị Minh Châu, “Kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (số 5), 2007.
Nội dung bài viết đề cập quá trình cải tổ ở các nước XHCN ở Đông Âu cũng
như ở Liên Xô và khẳng định sự lựa chọn nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, khẳng định vai trò chủ đạo của
kinh tế nhà nước trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, quá trình phát
triển trong nhận thức của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
từ Đại hội Đảng lần thứ VII đến Đại hội X.


8
Trần Ngọc Hiên, “Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, thực trạng và giải
pháp”, Tạp chí Cộng sản, (số 6), 2007. Bài viết đề cập thực trạng và những vấn
đề đặt ra sau 15 năm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, đồng thời nêu lên 3
giải pháp để tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả.
Hoàng Thị Bích Loan, “Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong
phát triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (số 7),
2007. Bài viết đã đề cập đến nhận thức của Đảng ta về nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN, về mục tiêu, phương hướng của phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, những nội dung cần thực hiện để giữ vững định
hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Nhóm các luận văn, luận án, tiêu biểu như: Bùi Thanh Xuyên
(2001), “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế nhiều thành
phần trong công cuộc đổi mới thời kỳ 1986-1996”, Luận văn Thạc sỹ Lịch
sử Đảng, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội. Luận văn đã trình bày một
cách có hệ thống về tính tất yếu khách quan phát triển kinh tế nhiều thành
phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Qua đó, tác giả đã làm
rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với nền kinh tế nhiều thành phần
giai đoạn 1986-1996, đồng thời nêu lên 3 kinh nghiệm chủ yếu trong phát
triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.
Nguyễn Mạnh Hùng (2003), “Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường
trong điều kiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Luận văn đã trình bày vai
trò của Nhà nước XHCN trong công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường của
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Qua đó tác giả đã nêu lên


9
một số giải pháp để Nhà nước kiểm tra, kiểm soát thị trường một cách có hiệu
quả trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
Lê Văn Hệ (2002), “Học thuyết hình thái kinh tế- xã hội với vấn đề
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ Triết học, Học
Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Trên cơ sở phân tích sự vận
động của các hình thái kinh tế xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, tác giả đã khẳng định việc xây dựng CNXH ở nước ta là “một quá
trình lịch sử tự nhiên”. Song để quá trình đó phát triển theo đúng quỹ đạo
của nó đòi hỏi phải có sự định hướng của Đảng, quản lý vĩ mô của Nhà
nước XHCN, sự đồng thuận trong nhân dân.
Phạm Đức Tài (2006), “Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn Hà Nộithực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Học viện chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Tác giả đã trình bày quá trình phát triển của thành
phần kinh tế tư nhân trên địa bàn Hà Nội, qua đó nêu lên những thành tựu và
hạn chế trong việc phát triển thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế
nhiều thành phần, những giải pháp để khuyến khích thành phần kinh tế tư
nhân ở Hà Nội phát triển đúng định hướng XHCN.
Nhìn chung, các tác giả đã trình bày một cách có hệ thống về nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, về chủ trương phát triển các
thành phần kinh tế, thực trạng của các thành phần kinh tế ở nước ta. Tuy
nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
thống về định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần từ
năm 1996 đến năm 2006. Vì vậy, luận văn là một công trình nghiên cứu độc
lập, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu


10
Làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong lãnh đạo giữ
vững định hướng XHCN đối với quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần trong những năm 1996- 2006, trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm
góp phần bổ sung, phát triển hoàn thiện lý luận về phát triển kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, làm rõ tính tất yếu khách quan giữ vững định hướng
XHCN trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta giai đoạn
1996- 2006.
Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng nhằm giữ vững định hướng
XHCN trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần từ 1996 đến 2006
Đánh giá những thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm lịch sử.
Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động của Đảng trong lãnh đạo giữ vững định hướng XHCN đối
với nền kinh tế nhiều thành phần.
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong lãnh
đạo giữ vững định hướng XHCN đối với nền kinh tế nhiều thành phần.
Về không gian và thời gian: Nghiên cứu vấn đề giữ vững định
hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam
từ năm1996 đến năm 2006.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Phương pháp nghiên cứu


11
Phương pháp chủ yếu để thực hiện luận văn là phương pháp lịch sử,
phương pháp lôgíc và kết hợp hai phương pháp đó, đồng thời có sử dụng
một số phương pháp khác như: phương pháp so sánh, thống kê, phân tích,
tổng hợp…để làm sáng tỏ những nội dung của luận văn.
5. Ý nghĩa của luận văn
Thành công của luận văn sẽ góp phần vào việc tổng kết những vấn đề
lý luận và thực tiễn về quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam.
Là cơ sở để đấu tranh chống những quan điểm, nhận thức sai trái, bảo vệ lý
chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được kết cấu thành 2 chương, (4tiết).
Chương 1
YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ GIỮ
VỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG PHÁT TRIỂN NỀN
KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006
1.1. Yêu cầu khách quan giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thời kỳ 1996- 2006
Định hướng XHCN trong xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần chính là thông qua nhận thức các quy luật khách quan, tự giác tác
động vào mỗi thành phần kinh tế, làm cho mỗi thành phần phát huy tác dụng
tối đa của nó cho sự phát triển của LLSX; kiểm soát và điều chỉnh các quá
trình kinh tế, sao cho các yếu tố, các giá trị XHCN ngày càng nảy nở và phát
triển trong tất cả các thành phần kinh tế, làm cho bản thân thành phần kinh tế


12
XHCN ngày một mạnh lên, thực sự là thành phần kinh tế chủ đạo xét cả về
quy mô, tính hiệu quả và tính dẫn dắt.
1.1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tính
tất yếu và chủ trương phát triển các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội
Khi nghiên cứu sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế- xã hội,
chủ nghĩa Mác- Lênin luôn khẳng định ở mỗi hình thái kinh tế- xã hội, ngoài
QHSX thống trị, điển hình cũng còn tồn tại những QHSX lỗi thời, lạc hậu. Sự
tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần suy đến cùng là do quy luật QHSX
phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Khi xem
xét tiến trình vận động của lịch sử xã hội loài người, đứng trên lập trường của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã kết luận: Sự chuyển
biến từ hình thức sở hữu này tới một hình thức sở hữu khác cao hơn bao giờ
cũng phải dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Không một xã hội nào lại diệt vong khi tất cả những lực lượng
sản xuất mà chế độ xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển vẫn còn
chưa phát triển và những quan hệ sản xuất mới cao hơn không bao giờ
xuất hiện khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó
còn chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ [44, tr.15- 16].
Một hình thức kinh tế không bao giờ mất đi trước khi QHSX của nó vẫn
còn tác dụng. Nền kinh tế nhiều thành phần không phải tồn tại tự nó, mà nó
thường xuyên biến đổi, tác động qua lại với nhau. Trong thời kỳ quá độ lên
CNXH còn tồn tại nhiều kết cấu kinh tế khác nhau, không phải chỉ có kết cấu
kinh tế XHCN mà còn có kết cấu kinh tế phi XHCN.
Một trong những đặc trưng nổi bật của thời kỳ quá độ lên CNXH được
V.I.Lênin đề cập trong các tác phẩm: Về bệnh ấu trĩ “tả khuynh” và tính tiểu tư


13
sản (1918), Bàn về thuế lương thực (1921) và nhiều tác phẩm khác đó là sự tồn tại
của nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế tồn tại đan xen với nhau
trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH. Tương ứng với các thành phần kinh tế
đó là các chế độ sở hữu và với những trình độ tổ chức sản xuất khác nhau.
Điều mà V.I.Lênin lưu ý là, Nhà nước với tên gọi là Nhà nước XHCN là để
xác định phương hướng tiến lên CNXH chứ chưa có nghĩa là nền kinh tế đó
đã là kinh tế XHCN. Nhà nước XHCN cần phải biết sử dụng thành phần kinh
tế tư bản nhà nước, tư bản tư nhân để phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ
chiến lược phát triển kinh tế, thực hiện mục tiêu của CNXH.
V.I.Lênin đã chỉ rõ sự cần thiết phải có một loạt những bước quá độ như
CNTB nhà nước. Ở một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH cũng cần phải
biết sử dụng CNTB nhà nước và các thành phần kinh tế khác:
Trong một nước tiểu nông, trước hết các đồng chí phải bắc
những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà
nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không phải bằng cách trực tiếp dựa vào
nhiệt tình, mà là với nhiệt tình do cách mạng vĩ đại sinh ra, bằng cách
khuyến khích lợi ích cá nhân, bằng sự quan tâm thiết thân của cá nhân,
bằng cách áp dụng chế độ hạch toán kinh tế. Nếu không, các đồng chí
sẽ không tiến đến chủ nghĩa cộng sản được; nếu không, các đồng chí sẽ
không dẫn được hàng chục và hàng chục triệu người đến chủ nghĩa
cộng sản [38, tr.189].
Quá độ lên CNXH là một thời kỳ lịch sử lâu dài, phải trải qua những chặng
đường, những bước đi cụ thể, nhiều bước quá độ ngắn, ở đó chưa thể có ngay
QHSX XHCN được, do vậy đòi hỏi phải sử dụng một cách có hiệu quả các thành
phần kinh tế phi CNXH. Năm 1918, V.I.Lênin đã từng giả định thời hạn của thời
kỳ quá độ. Năm 1921, trong tác phẩm Bàn về thuế lương thực, V.I.Lênin viết:
“Những điều trên đây viết năm 1918, có một loạt sai lầm về thời hạn. Các thời hạn


14
đều dài hơn như đã giả định hồi đó. Điều đó không có gì là lạ” [37, tr.189]. Chính
thực tiễn đã điều chỉnh nhận thức về thời hạn về các chặng đường của thời kỳ quá
độ.
V.I.Lênin đã chứng minh tính hiện thực của bước quá độ từ CNTB lên CNXH.
Trong trường hợp tốt nhất thì bước quá độ ấy cũng chiếm mất
nhiều năm. Suốt cả thời kỳ đó, trong chính sách của chúng ta lại chia ra
nhiều bước quá độ nhỏ hơn nữa. Và tất cả cái khó khăn của nhiệm vụ
chúng ta phải làm, tất cả cái khó khăn của chính sách và tất cả sự khéo
léo của chính sách là ở chỗ biết tính đến những nhiệm vụ đặc thù của
từng bước quá độ [36, tr.119- 120].
Sự khéo léo trong chính sách, theo V.I.Lênin đó chính là cần thiết phải sử
dụng một cách có hiệu quả các thành phần kinh tế phi CNXH để xây dựng
CNXH.
Trong tác phẩm Bàn về thuế lương thực, V.I.Lênin viết: “Danh từ quá độ có
nghĩa là gì? vận dụng nó vào kinh tế có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có
những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa
xã hội không? bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có” [37, tr.248]. Luận điểm trên cho
thấy trong thời kỳ quá độ lên CNXH tất yếu phải tồn tại nền kinh tế đa thành phần.
Khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, nghiên cứu thực tiễn nền kinh tế của
nước Nga lúc bấy giờ, V.I.Lênin đã xác định đó là nền kinh tế không thuần nhất, ở
đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế đan xen và tác động lẫn nhau, đó là những yếu
tố của 5 thành phần kinh tế xã hội khác nhau là kinh tế gia trưởng, tiểu sản xuất
hàng hoá, chủ nghĩa tư bản tư nhân, chủ nghĩa tư bản nhà nước và CNXH.
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn hướng tới mục
đích là đất nước được độc lập, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Để đạt
được mục đích đó chỉ có thể dưới CNXH. Như vậy, Hồ Chí Minh luôn gắn tiền đề
kinh tế với tiền đề chính trị, trong đó tiền đề kinh tế có ý nghĩa quyết định, tiền đề
chính trị sẽ định hướng phát triển kinh tế đúng mục tiêu và con đường mà chính trị


15
đã đặt ra. Trong quá trình xây dựng CNXH, người chỉ rõ: Muốn xây dựng thành
công CNXH thì trước hết phải xây dựng con người mới XHCN. Cải tạo xã hội cũ,
xây dựng xã hội mới, xã hội XHCN là cả một quá trình lâu dài, đầy gian nan, vất
vả đòi hỏi mọi người dân Việt Nam phải đem hết khả năng của mình để cống hiến
cho sự nghiệp cách mạng. Cách mạng tháng Tám thành công, chúng ta đã giành
được chính quyền về tay nhân dân, song đất nước gặp muôn vàn khó khăn, giặc
đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm hoành hành…Để thực hiện được mục tiêu chính trị,
bảo vệ chính quyền cách mạng, từng bước khắc phục khó khăn để xây dựng chính
quyền nhân dân, Hồ Chí Minh đã nêu lên tư tưởng xây dựng nền kinh tế nhiều
thành phần với tư cách là xây dựng nền dân chủ nhân dân phát triển theo định
hướng XHCN. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhằm phát huy mọi tiềm
năng, mọi thành phần của đất nước cho công cuộc kháng chiến.
Nhận thức rõ những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH, để thực hiện xây
dựng nền kinh tế trong kháng chiến chống Pháp, thực hiện đường lối kháng chiến
toàn dân, toàn diện, bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật, trước hết là lương thực, thực
phẩm cho kháng chiến, Hồ Chí Minh xác định nước ta phải phát triển 6 thành phần
kinh tế khác nhau đó là: “kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô; kinh tế quốc
doanh có tính chất xã hội chủ nghĩa; kinh tế hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung
cấp, các hội đổi công nông thôn, có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa; kinh tế cá nhân
của nông dân và của thủ công nghệ; kinh tế tư bản của tư nhân; kinh tế tư bản quốc
gia” [46, tr.221]. Không những chỉ ra 6 thành phần kinh tế mà Hồ Chí Minh còn nói
rõ xu hướng phát triển của các thành phần kinh tế đó. Mặc dù thành phần kinh tế địa
chủ phong kiến bóc lột địa tô là thành phần kinh tế đã lỗi thời, nhưng để thực hiện
chính sách đại đoàn kết dân tộc, thu hút số địa chủ vừa và nhỏ tham gia kháng chiến,
Hồ Chí Minh chủ trương chỉ thực hiện chế độ giảm tô, giảm tức nhằm hạn chế dần
sự bóc lột và tạo điều kiện cho thành phần kinh tế này đóng góp cho kháng chiến.


16
Trong các thành phần kinh tế, Hồ Chí Minh rất coi trọng thành phần kinh tế
quốc doanh tồn tại ở các cơ sở sản xuất kinh doanh của Nhà nước. Đây là thành
phần kinh tế mới ra đời trong chế độ dân chủ mới. Theo Hồ Chí Minh: “Nó là nền
tảng và sức lãnh đạo của nền kinh tế dân chủ mới, cho nên chúng ta phải ra sức
phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó” [46, tr.221].
Thành phần kinh tế tư bản tư nhân, theo Hồ Chí Minh là thành phần
kinh tế của giai cấp tư sản dân tộc, mặc dù giai cấp tư sản có bóc lột giai cấp
công nhân, nhưng họ cũng góp phần vào phát triển kinh tế, góp công, góp của
cho cuộc kháng chiến. Người khẳng định:
Là giai cấp tư sản không dính líu với đế quốc, hoặc dính líu
rất ít. Một mặt thì họ bị đế quốc và phong kiến ngăn trở, cho nên họ
cũng muốn chống đế quốc và phong kiến. Nhưng mặt khác, họ là
giai cấp bóc lột, cho nên họ cũng sợ giai cấp bị bóc lột nổi lên đấu
tranh. Vả lại về mặt kinh tế, họ còn dính líu ít nhiều với địa chủ
phong kiến, cho nên đối với việc cải cách ruộng đất, họ còn do dự.
Do đó mà tư sản dân tộc vừa muốn cách mạng vừa muốn thoả hiệp.
Bởi vậy, giai cấp công nhân cần phải vừa đoàn kết với họ, vừa đấu
tranh với họ để bảo vệ quyền lợi của công nhân. Có như vậy, giai
cấp tư sản dân tộc mới phát triển được tác dụng cách mạng của họ,
và phát triển kinh tế của họ [46, tr.214- 215].
Đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân và tư bản nhà nước, quan điểm nhất
quán của Hồ Chí Minh là: Chính phủ cần phải giúp họ phát triển. Nhưng họ phải phục
tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân. Trong
tác phẩm Thường thức chính trị (xuất bản năm 1953), Người cho rằng: “Nhà tư bản thì
không khỏi bóc lột. Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính
phủ phải bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân” [45, tr.222]. Đây chính là sự khác biệt
cơ bản giữa nhà tư bản trong xã hội tư bản với nhà tư bản trong chế độ dân chủ mới và


17
cũng là sự hướng dẫn cần thiết đối với thành phần kinh tế này. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “vì
lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được một số hợp lý, không yêu cầu quá
mức. Chủ và thợ đều tự giác tự động tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên” [46, tr. 222].
Thực tiễn đất nước ta ngay sau khi giành được độc lập, Nhà nước non trẻ
của ta vừa phải kháng chiến chống thù trong, giặc ngoài, vừa tiến hành “kiến
quốc”, nhờ huy động được mọi thành phần kinh tế, chúng ta đã phá được chính
sách bao vây kinh tế của địch, bảo đảm khối đại đoàn kết toàn dân, phục vụ kịp
thời cho kháng chiến, đồng thời cũng đáp ứng yêu cầu lâu dài của cách mạng Việt
Nam là xây dựng chế độ dân chủ mới theo định hướng đi lên CNXH. Trong quá
trình cải tạo XHCN ở miền Bắc, Hồ Chí Minh cũng chủ trương cải tạo hoà bình đối
với công thương nghiệp tư bản tư doanh. Khi chế độ dân chủ mới ra đời và phát triển
thì thành phần kinh tế địa chủ phong kiến sẽ bị thủ tiêu. Vì vậy, Hồ Chí Minh cho
rằng trong chế độ mới còn sự tồn tại của 5 thành phần kinh tế khác nhau đó là:
Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội vì nó là của chung
của nhân dân); các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội và sẽ tiến
đến chủ nghĩa xã hội); kinh tế cá nhân, nông dân và thủ công nghệ
(có thể tiến dần vào hợp tác xã tức là nửa chủ nghĩa xã hội); kinh tế
tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với
tư bản tư nhân để kinh doanh). Trong năm loại ấy, kinh tế quốc
doanh là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế
nước ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo
hướng chủ nghĩa tư bản [46, tr.248].
Như vậy, các nhà kinh điển Mác- Lênin và Hồ Chí Minh đã khẳng định
trong thời kỳ quá độ lên CNXH tất yếu còn tồn tại kết cấu kinh tế nhiều thành
phần, đó là thực tế khách quan. Vấn đề đặt ra là phải có chủ trương, chính
sách đúng đắn vừa phát huy được vai trò của kinh tế XHCN, vừa phát huy
được tiềm năng, thế mạnh của các thành phần kinh tế phi XHCN, khắc phục
những hạn chế, tiêu cực, từng bước dẫn dắt các thành phần kinh tế đó vận


18
động theo đúng quỹ đạo của CNXH, phủ nhận kinh tế nhiều thành phần là
phủ nhận thời kỳ quá độ lên CNXH.
1.1.2. Kinh nghiệm rút ra từ cải tổ, cải cách của các nước xã hội
chủ nghĩa trên thế giới.
Bước vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều biến
động báo hiệu một cuộc khủng hoảng mang tính toàn cầu. Mở đầu là cuộc
khủng hoảng năng lượng năm 1973 đặt ra cho nhân loại những vấn đề bức
thiết cần phải giải quyết (bùng nổ dân số, hiểm hoạ môi trường, tài nguyên
cạn kiệt…). Những biến động này đã tác động mạnh mẽ đến các quốc gia, dân
tộc. Để thích nghi với điều kiện đó, hàng loạt các quốc gia đã từng bước điều
chỉnh các chính sách về đối nội, đối ngoại cho phù hợp với tình hình mới.
Trong bối cảnh đó, Liên Xô đã tiến hành công cuộc cải tổ nhằm đưa đất
nước thoát khỏi khủng hoảng. Tại Đại hội lần thứ 27 Đảng Cộng sản Liên Xô,
Tổng bí thư M.Goocbachop đưa ra chủ trương cải tổ với đường lối “đẩy mạnh
sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước” (chiến lược tăng tốc). Chiến lược này
rất được người dân kỳ vọng, nó có thể đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng
hoảng và xây dựng một CNXH dân chủ, nhân văn đúng như bản chất của nó.
Tuy nhiên, trong quá trình cải tổ, do không lường hết khó khăn, thiếu
sự chuẩn bị chu đáo, máy móc, giáo điều trong việc vận dụng các quy luật
khách quan…do đó, công cuộc cải tổ đi vào bế tắc, hậu quả là nền kinh tế tụt
hậu. Năm 1989, tổng sản phẩm quốc dân giảm 4- 5%, năng suất lao động xã
hội giảm 2,5%, sản xuất trong nước trì trệ…Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo
Liên Xô vội chuyển sang cải tổ chính trị theo hướng cực đoan, chấp nhận chế
độ đa đảng, thiết lập chế độ tổng thống (1990) dẫn đến nội bộ Đảng Cộng sản
chia rẽ, các thế lực chống phá CNXH ngóc đầu dậy, một số nước cộng hoà
đòi li khai. Đất nước rơi vào khủng hoảng toàn diện, công cuộc cải tổ bị trượt
ra khỏi mục tiêu CNXH, từ đó dẫn đến sự tan rã của chế độ XHCN ở Liên
Xô.


19
Sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô là do một loạt các nguyên nhân và
yếu tố: bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp, chủ quan và khách quan,
quá khứ và hiện tại… Tuy nhiên, xét trên lĩnh vực kinh tế, chúng ta có thể nhận
thấy những sai lầm trong việc vận dụng các quy luật kinh tế trong quá trình cải
tổ.
Quá trình cải tổ, cải cách thường lấy yếu tố kinh tế để phục vụ cho
chính trị. Nhưng từ năm 1988, Liên Xô đã dùng chính trị phục vụ kinh tế. Sự
đảo lộn đó đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Mục tiêu và phương tiện
đã bị đánh đồng không thể phân biệt được.
Từ chỗ coi nhẹ hoặc phủ nhận kinh tế thị trường chuyển sang nhấn mạnh
và mong muốn nhanh chóng thiết lập cơ chế thị trường mà không có định hướng
XHCN rõ ràng, không có bước đi đồng bộ, cơ chế cũ bị xoá bỏ trong khi cơ chế
mới chưa được hình thành. Trong những năm 1990- 1991, Liên Xô rơi vào tình
trạng rối ren. Trong thời kỳ “chữa cháy” này, Liên Xô đề ra “kế hoạch 500
ngày” với hy vọng chuyển nền kinh tế quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường trong 500 ngày. Xét về mọi khía cạnh, đó là một điều không tưởng. Lúc
này Liên Xô đã kiệt quệ về nhiều mặt. Trước đó, Liên Xô đã tiến hành khai thác
vô tội vạ nguồn tài nguyên thiên nhiên. Giữa những năm 80, cuộc chạy đua vũ
trang của Liên Xô đã tiêu hao tài lực, vật lực của bản thân một cường quốc nhất
nhì thế giới. Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường tự do, Nhà nước đã
không quản lý được sự vận động, phát triển của nền kinh tế, quá trình tư nhân
hoá diễn ra một cách ồ ạt, thị trường giá cả được thả nổi, cạnh tranh một cách tự
do cá lớn nuốt cá bé, kinh tế nhà nước không còn giữ được vai trò chủ đạo của
nền kinh tế.
Xây dựng CNXH là một quá trình lâu dài, là quá trình phát triển và
hoàn thiện từng bước với những khúc quanh co của lịch sử, không thể đốt
cháy giai đoạn. CNTB đã trải qua hàng trăm năm để có thể tích luỹ lâu dài.
Và cho đến nay nó vẫn tiếp tục điều chỉnh để tồn tại, phát triển, thích nghi với


20
những điều kiện trong tình hình mới. Để vượt qua CNTB, cần tiếp thu những
thành quả công nghệ tiên tiến của nó. Trong khi xây dựng CNXH cần lấy phát
triển sức sản xuất làm nhiệm vụ trọng tâm thì Liên Xô chỉ chú trọng đến sự
thay đổi về QHSX nên sức sản xuất xã hội phát triển chậm chạp. Trong khi
các nước tư bản phát triển chuyển mạnh sang nền kinh tế theo chiều sâu, đã
có một vị trí khá xa về trình độ phát triển thì Liên Xô chủ yếu đầu tư phát
triển chiều rộng, dựa vào xuất khẩu tài nguyên, khai thác nguồn lực đất nước
một cách vô độ. Do vậy, chính ngay tại đất nước có nguồn tài nguyên khoáng
sản và nhiên liệu- năng lượng có quy mô lớn, tiềm năng vô tận, lại thiếu thốn
trầm trọng các nguồn lực đó do sử dụng lãng phí, không hiệu quả. Quá trình
chuyển đổi nền kinh tế đã mắc phải bệnh chủ quan, duy ý chí, xem thường các
quy luật khách quan, sử dụng các chính sách kinh tế không phù hợp với điều
kiện thực tế của đất nước, đặc biệt trong việc mở rộng thị trường tự do một cách
ồ ạt, thiếu sự quản lý của nhà nước, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không
còn. Điều đó đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự tan rã chế độ XHCN ở
Liên Xô.
Sự sụp đổ của Liên Xô cũng như các nước XHCN ở Đông Âu là sự sụp
đổ của một thể chế chính trị- xã hội, một mô hình CNXH cứng nhắc, chứ không
phải là sự xụp đổ của hình thái kinh tế CNCS, không phải là dấu chấm hết của
CNCS, là “sự kết thúc của lịch sử” như ai đó đã lầm tưởng và mong muốn.
Trong bối cảnh chung của các nước XHCN, tại Hội nghị Trung ương 3
khoá XI của Đảng Cộng sản Trung Quốc (12-1978) đã quyết định cải cách và
mở cửa nền kinh tế. Đây là cuộc cải cách lớn, toàn diện về kinh tế, từ tư duy
lý luận đến hoạt động thực tiễn, từ quan hệ sở hữu tài sản tới cơ chế quản lý
kinh tế, từ điều hành nền sản xuất tới thu nhập…Trong Hội nghị này, Đặng
Tiểu Bình được coi là người khởi xướng công cuộc cải cách đã chỉ rõ: Muốn
sản xuất phát triển phải cải cách thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, xây
dựng thể chế mới, kinh tế thị trường XHCN.


21
Tiếp sau đó, tại các Đại hội và Hội nghị Trung ương của Đảng Cộng
sản Trung Quốc từ khoá XII đến khoá XVI tiếp tục bổ sung, hoàn thiện lý
luận về nền kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc.
Từ thực tiễn ở Trung Quốc, có thể khái quát những nội dung cốt lõi mà
Trung Quốc đã tiến hành trong cải cách nền kinh tế đó là:
Loại bỏ sự tập trung hoá quá mức và sự kìm kẹp hành chính, mở rộng
quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp, tính độc lập trong tổ chức
phát triển kinh doanh của các vùng lãnh thổ; khuyến khích phát triển các cơ
sở kinh tế tư nhân nhỏ, các hợp tác xã, mở rộng quan hệ thị trường và thu hẹp
phạm vi hoạt động của chỉ thị, kế hoạch hoá và phân chia ngân sách; bãi bỏ
hạn chế về mức tiền lương; chuyển dịch và hoàn thiện cơ cấu kinh tế trên cơ
sở giải pháp chủ yếu là chuyển giao quyền hạn cho cấp dưới.
Giải tán các công xã, áp dụng các hình thức hợp tác xã kiểu mới ở
nông thôn, điều chỉnh giá giữa sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp, đầu tư
mạnh vào nông nghiệp, áp dụng “khoán gia đình”; ban hành luật về chuyển
đổi quyền sử dụng đất đai đã mở đường cho sự tác động của cơ chế thị trường
vào nông nghiệp và nông thôn. Nhờ vậy đã thúc đẩy tăng nhanh sản phẩm
nông nghiệp mặc dù phương pháp canh tác truyền thống chưa thay đổi.
Cùng với phương thức “khoán gia đình” trong nông nghiệp, hầu hết các
doanh nghiệp công nghiệp nhà nước đều được chuyển sang hệ thống “khoán
về kinh tế”; 8 ngành công nghiệp được chuyển sang hệ thống hợp đồng theo
sơ đồ “chi phí- sản phẩm”; quan hệ kinh tế giữa trung ương và địa phương
được thực hiện theo cơ chế “khoán kinh tế khu vực” (cái mà ở Trung Quốc
được gọi là nuôi ăn từ nồi của mình); các tổ chức ngoại thương cũng thực
hiện chế độ khoán theo nghĩa vụ với nhà nước.
Thực hiện chương trình hiện đại hoá khu vực kinh tế nhà nước, bao gồm
việc tổ chức các tập đoàn lớn, đổi mới kỹ thuật và áp dụng các phương pháp


22
quản lý khoa học. Trong tương lai chỉ có những cơ sở hạ tầng quan trọng nhất
(đường sắt, liên lạc điện thoại và viễn thông, điện tử và cung cấp nước…) và
những doanh nghiệp được xây dựng bằng vốn đầu tư mới của nhà nước (bằng số
tiền lãi của các tổ chức tín dụng-tiền tệ nhà nước) mới thuộc sở hữu nhà nước.
Hàng nghìn doanh nghiệp nhà nước lớn và quan trọng sẽ được biến thành các
tập đoàn với quyền hạn và hoạt động kinh tế rộng rãi nhất. Các doanh nghiệp
nhà nước vừa và nhỏ có quyền lựa chọn hình thức tổ chức và hoạt động như: cổ
phần hoá, cho thuê, chuyển thành sở hữu tập thể hoặc bán cho tư nhân.
Cải cách các chính sách giá và tỷ giá theo cơ chế thị trường. Từ năm 1993,
Trung Quốc áp dụng hầu như trong cả nước cơ chế giá cả tự do đối với ngũ cốc và
các mặt hàng nông nghiệp khác, hệ thống tem phiếu bị bãi bỏ. Từ đầu năm 1994,
áp dụng tỷ giá ngoại tệ thống nhất dựa theo tỷ giá giao dịch trên thị trường liên
ngân hàng; cấm sử dụng ngoại tệ ở trong nước, áp dụng chế độ bán bắt buộc ngoại
tệ thu được từ các hoạt động ngoại thương cho các ngân hàng được uỷ quyền.
Thực hiện nhanh chóng cơ chế kinh tế mở cửa ra thế giới. Theo Luật
Ngoại thương được thông qua năm 1994, Trung Quốc đã bãi bỏ việc lập kế
hoạch theo chỉ thị hoạt động xuất, nhập khẩu; trao cho các doanh nghiệp
quyền hoạt động kinh tế đối ngoại, bãi bỏ việc cấp quota đối với một loạt
hàng hoá. Các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng một loạt ưu tiên và ưu đãi
về thuế. Các khu vực kinh tế tự do (khu phố Đông ở thành phố Thượng Hải,
Thẩm Quyến ở tỉnh Quảng Tây,…) đã và đang là các trung tâm thu hút tư bản
nước ngoài và là “các trung tâm phát triển”. Bên cạnh đó, nhà nước vẫn duy
trì chế độ bảo hộ cứng rắn đối với những mặt hàng nhập khẩu quan trọng (dầu
lửa, sản phẩm dầu khí, sắt thép…) và vẫn giữ độc quyền về ngoại thương đối
với 16 loại hàng hoá.
Qua hơn 30 năm cải cách nền kinh tế, Trung Quốc đã đạt được những
thành tựu vô cùng to lớn, GDP (tổng giá trị sản phẩm nội địa) bình quân tăng


23
9,7%, lần lượt vượt qua Ý, Pháp và Anh vào các năm 2004, 2005, 2006. Thể
chế chính trị XHCN ở Trung Quốc vẫn được giữ vững.
Những thành công trong cải cách kinh tế ở Trung Quốc cũng như
những thất bại trong cải tổ kinh tế ở Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu
là những kinh nghiệm quý để chúng ta tham khảo, tránh được những sai lầm,
khuyết điểm bảo đảm cho quá trình đổi mới kinh tế theo định hướng XHCN ở
nước ta phát triển đúng hướng, có hiệu quả.
1.1.3. Thực trạng và những nhân tố tác động đến quá trình giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế nhiều thành thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
* Thực trạng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta trong 10 năm đầu đổi mới 1986- 1996.
Thành tựu:
Qua 10 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986-1996), với việc thực
hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, chúng ta đã thu được
những thành tựu hết sức quan trọng.
Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã nhanh chóng đi
vào cuộc sống, phù hợp với thực tiễn và được đông đảo quần chúng nhân dân
đồng tình ủng hộ. Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: Nước ta đã ra
khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội nghiêm trọng kéo dài hơn 15 năm, tuy còn
một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo ra được những tiền đề cần thiết để
chuyển sang thời kỳ phát triển mới: Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Mục
tiêu, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm (1991-1995) do Đại hội VII của Đảng đề ra đã
được hoàn thành cơ bản. Đại hội đã chỉ rõ: Trong 5 năm (1991- 1995), nhịp
độ tăng trưởng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) là
8,2%; trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tăng 13,3%; trong sản xuất nông
nghiệp là 4,5%; kim ngạch xuất khẩu là 20%. Đầu tư cơ bản toàn xã hội bằng


24
nguồn vốn trong nước và ngoài nước năm 1990 chiếm 15,8% GDP, năm 1995
là 27,4% GDP. Bắt đầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế. Lương thực không
những đủ ăn mà mỗi năm bình quân còn xuất khẩu được 2 triệu tấn gạo. Lạm
phát giảm từ 67,1% năm 1991 xuống còn 12,7% năm 1995.
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN tiếp tục được xây dựng
và củng cố. QHSX từng bước được điều chỉnh phù hợp hơn với tính chất,
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển
dịch cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đã hình thành nhiều khu công
nghiệp, khu chế xuất với quy mô lớn như khu công nghiệp Biên hoà- Đồng
Nai; khu chế xuất Linh Trung- Thành phố Hồ Chí Minh…đã thu hút được
vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài, giải quyết việc làm cho hàng
triệu người lao động.
Các thành phần kinh tế, sau một thời gian dài khó khăn, đã dần thích nghi
được với cơ chế quản lý mới, từng bước ổn định, phát triển và đã khẳng định
được chỗ đứng của mình trên thị trường. Theo số liệu của Tổng cục thống kê:
Mặc dù những năm vừa qua các doanh nghiệp nhà nước có giảm về số
lượng doanh nghiệp do tổ chức, sắp xếp lại và thực hiện chủ trương cổ
phần hoá doanh nghiệp, nhưng tỉ trọng của các thành phần kinh tế này
chiếm tổng sản phẩm trong nước đã tăng từ 31,1% năm 1991 lên 34%
năm 1992. Những năm gần đây là thành phần kinh tế có tỉ trọng lớn
nhất trong tổng sản phẩm trong nước. Tỉ trọng của các thành phần
kinh tế khác chiếm trong tổng sản phẩm trong nước trong những năm
vừa qua: kinh tế tập thể: 10%, kinh tế cá thể, bao gồm cả hộ nông dân
chiếm 30%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm
12%, còn lại là kinh tế tư nhân và hỗn hợp sở hữu [60, tr.12].
Hạn chế:


25
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng thấy rõ một số mặt
còn yếu kém đó là: Chất lượng hàng hoá, dịch vụ nhìn chung còn thấp, giá thành
sản phẩm cao nên sức cạnh tranh kém. Chính sách kinh tế nhiều thành phần được
đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI, tuy nhiên trên thực tế chưa được nhận thức một
cách đầy đủ và triển khai đồng bộ ở các cấp, các ngành; chúng ta chưa hình thành
được một khung lý luận vững chắc, một hành lang pháp lý thuận lợi để các thành
phần kinh tế phát triển đúng định hướng XHCN; nhiều khi chưa tôn trọng đầy đủ
và nhất quán những nguyên tắc của kinh tế thị trường trong xây dựng, vận hành
và xử lý các vấn đề của nền kinh tế; nhiều ý kiến trong Đảng cũng như trong
nhân dân còn băn khoăn về tính định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần. Năng lực sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế còn
nhiều hạn chế, công nghệ lạc hậu, kinh nghiệm quản lý trong sản xuất kinh doanh
còn nhiều yếu kém, tiêu tốn nhiều nguyên vật liệu…Do vậy, chất lượng hàng
hoá, dịch vụ còn thấp, giá thành sản phẩm cao dẫn đến sức cạnh tranh kém.
Năm 1998 ngành công nghiệp mới chỉ có 26,9% số doanh
nghiệp giành được ưu thế chiếm lĩnh thị trường trong nước, 58,8%
doanh nghiệp chiếm lĩnh được thị trường nhưng chưa vững chắc, 14,3%
số doanh nghiệp hoàn toàn không có khả năng cạnh tranh ngay thị
trường trong nước. Cũng tại thời điểm điều tra trên, chỉ có 23,8% số
doanh nghiệp đã có hàng hoá xuất khẩu, 13,7% số doanh nghiệp triển
vọng sẽ xuất khẩu, còn lại 62,5% số doanh nghiệp không có khả năng
xuất khẩu [60, tr.19].
Đối với kinh tế quốc doanh, mặc dù đã có những đóng góp đáng kể cho sự
phát triển của nền kinh tế, song chưa thực sự làm tốt vai trò chủ đạo cả trong sản
xuất và trong lưu thông. Năng lực sản xuất, hiệu quả của kinh tế quốc doanh còn
thấp, và trong nhiều trường hợp thua kém kinh tế cá thể, tư nhân; tình trạng
chiếm dụng vốn lẫn nhau thường xuyên xảy ra, chậm trễ trong việc đóng ngân


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×