Tải bản đầy đủ

Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại trại lợn trần văn tuyên, xã đoàn kết huyện yên thủy tỉnh hòa bình và biện pháp phòng trị bệnh

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ KIM ANH
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON VÀ BIỆN PHÁP
PHÕNG TRỊ TẠI TRẠI LỢN TRẦN VĂN TUYÊN XÃ ĐOÀN KẾT,
HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÕA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú Y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


NGUYỄN THỊ KIM ANH
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON VÀ BIỆN PHÁP
PHÕNG TRỊ TẠI TRẠI LỢN TRẦN VĂN TUYÊN XÃ ĐOÀN KẾT,
HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÕA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú Y
Lớp: K43 - TY
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 – 2016
Giảng viên hƣớng dẫn: TS. Hồ Thị Bích Ngọc

Thái Nguyên, năm 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành khóa luận của mình, tôi
đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của
Trường Đại học Nông Lâm, Khoa Chăn nuôi thú y và trang trại chăn nuôi lợn
gia công của công ty Cổ Phần Charoen Pokphand Việt Nam. Tôi cũng nhận
được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, động viên
của người thân trong gia đình.
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS.
Hồ Thị Bích Ngọc đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện thành
công khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều
kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận này.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Công ty Cổ phần chăn nuôi
Charoen Pokphand Việt Nam, chủ trang trại cùng toàn thể anh chị em công
nhân trong trang trại của gia đình ông Trần Văn Tuyên về sự hợp tác giúp đỡ
bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa
luận này.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng
bạn bè đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận.

Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày

tháng

Sinh viên

Nguyễn Thị Kim Anh

năm 2015


ii

LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình học tập
của sinh viên trước khi ra trường, nhằm giúp sinh viên củng cố, hệ thống hóa
kiến thức đã học được, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,
thực tiễn sản xuất. Qua đó giúp sinh viên nâng cao trình độ chuyên môn, nắm
vững được phương pháp nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất. Đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, tính sáng
tạo để sau khi ra trường về cơ sở sản xuất, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp
phát triển nền nông nghiệp nước ta.
Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm
khoa Chăn nuôi - Thú y, sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn TS. Hồ
Thị Bích Ngọc và sự tiếp nhận của cán bộ công nhân tại trại lợn Trần Văn
Tuyên, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, tôi đã tiến hành thực
hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp điều trị
bệnh tại trại lợn Trần Văn Tuyên, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình”. Do thời
gian có hạn, trình độ chuyên môn còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa
nhiều nên khóa luận của tôi còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong được sự đóng
góp, phê bình của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận
của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


iii

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Lịch phòng bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại ...................................... 28
Bảng 4.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 33
Bảng 4.3: Cơ cấu đàn lợn của trại từ năm 2014 – 2015.................................. 34
Bảng 4.4: Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con theo mẹ tại trại............. 34
Bảng 4.5: Kết quả điều tra tình hình bệnh lợn con phân trắng qua các năm ........ 36
Bảng 4.6: Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng ở các tháng theo dõi ....... 37
Bảng 4.7: Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo độ tuổi ........ 39
Bảng 4.8: Kết quả theo dõi thời gian khỏi bệnh trung bình và tỷ lệ khỏi bệnh
trung bình của các phác đồ điều trị ................................................... 42
Bảng 4.9. Kết quả theo dõi tỷ lệ tái phát bệnh phân trắng lợn con ................. 44


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

cs

: Cộng sự

g

: Gam

kg

: Kilô gam

LMLM

: Lở mồm long móng

P

: Thể trọng


v

MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 3
2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa. ............................. 3
2.1.2 Hiểu biết về vi khuẩn E.coli .................................................................... 8
2.1.3. Hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con .................................................. 11
2.1.4. Giới thiệu về thuốc sử dụng trong nghiên cứu.................................... 20
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 21
2.2.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh phân trắng lợn con trong nước .............. 21
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 22
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
......................................................................................................................... 25
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 25
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 25
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 25
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................... 25
3.4.1. Phương pháp điều tra tình hình ............................................................. 25
3.4.2. Phương pháp đánh giá hiệu quả của 2 loại thuốc ................................. 25
3.4.3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu ...................................................... 26
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu.................................................................... 27


vi

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 28
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 28
4.1.1. Công tác phòng và trị bệnh .................................................................. 28
4.1.2. Công tác chăn nuôi tại cơ sở ................................................................. 31
4.2. Kết quả nghiên cứu .................................................................................. 33
4.2.1. Tình hình chăn nuôi và thú y của trại.................................................... 33
4.2.2. Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con của trại qua các năm ... 36
4.2.3. Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng ở các tháng theo dõi .............. 37
4.2.4. Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo độ tuổi ........ 39
4.2.5. Kết quả sử dụng một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con ởlợn
giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi .................................................................. 41
4.2.6. Kết quả theo dõi tỷ lệ tái phát tiêu chảy ở lợn con theo mẹ.................. 43
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 45
5.1. Kết luận .................................................................................................... 45
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những bước phát
triển mạnh mẽ. Song song với sự phát triển của nhiều ngành nghề khác nhau
thì ngành chăn nuôi giữ một vị trí rất quan trọng, đóng góp một phần rất lớn
trong sự nghiệp phát triển đất nước. Trong đó chăn nuôi lợn là một bộ phận
rất quan trọng trong ngành chăn nuôi. Hàng năm, ngành chăn nuôi lợn đã
cung cấp một khối lượng lớn thịt, mỡ làm thực phẩm cho con người. Ngoài
ra, chăn nuôi lợn còn cung cấp một khối lượng lớn phân bón cho ngành trồng
trọt và một số sản phẩm phụ của nó là nguyên liệu cung cấp cho ngành công
nghiệp chế biến.
Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đang hết sức chú ý đến việc phát triển
chăn nuôi lợn. Đồng thời các nhà khoa học nước ta cũng đã lai tạo đàn lợn nội
và các giống lợn ngoại có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, tỷ lệ nạc cao. Cùng
đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, mô hình
chăn nuôi lợn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng tiên tiến,
chế biến thức ăn chất lượng cao với các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung,
phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng.
Cùng với việc chăn nuôi được mở rộng thì dịch bệnh là yếu tố đã ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi. Một trong những bệnh gây thiệt hại
kinh tế cho các cơ sở chăn nuôi lợn sinh sản là bệnh phân trắng lợn con ở giai
đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi. Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới. Ở các nưới
đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi
thời tiết có sự thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm, gió lùa) kết hợp với điều kiện chăm
sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh; lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
strees, lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của mẹ
thiếu không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng. Khi lợn con mắc bệnh nếu điều


2

trị kém hiệu quả sẽ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng tới giống cũng như khả
năng tăng trọng của chúng, gây tổn thất lớn về kinh tế. Do đó, phòng tiêu
chảy cho lợn con góp phần làm tăng hiểu quả chăn nuôi lợn sinh sản, đảm bảo
cung cấp con giống có chất lượng tốt.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình
mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại trại lợn Trần Văn Tuyên, xã Đoàn
Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và biện pháp phòng trị bệnh”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
Xác định được nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con nuôi tại trại
và đưa ra được phác đồ điều trị có hiệu quả cao.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm
những hiểu biết về bệnh phân trắng ở lợn con, là cơ sở khoa học cho những
biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu sẽ xác định được bệnh phân trắng ở lợn con,
đánh giá hiệu quả điều trị bằng 2 loại thuốc Nova – Amcoli và Nor 100 góp
phần phục vụ sản xuất ở trại để kiểm soát và khống chế bệnh phân trắng lợn
con nuôi tại cơ sở.
Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài giúp cho người chăn nuôi hạn
chế được những thiệt hại do bệnh gây ra.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa.
2.1.1.1.Đặc điểm về sinh trưởng, phát triển của lợn con
Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia
súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh
con khỏe mạnh.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [10] so với khối lượng sơ sinh thì
khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần,
lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần.
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều
qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và
hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm. Thời gian bị giảm
sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của
lợn con. Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm. Do lợn
con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh.
Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14
gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích
lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/1 kg khối lượng cơ thể.
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng
nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành. Vì vậy, cơ thể của lợn
con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để
tạo ra 1 kg mỡ.


4

2.1.1.2. Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu,
thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn.
Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh,
các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn
nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần.
Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ
dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi
tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03
lít). Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày
tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12
lít). Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh.
Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức
ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất.
Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc
biệt là hệ thần kinh. Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố
tác động lên chúng. Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con
cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa.
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl
trong dạ dày. Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên.
Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của
lợn mẹ. Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà
chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa. Còn huyết thanh chứa albumin và
globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày
không còn gọi là trạng thái bình thường nữa. Việc tập cho lợn con ăn sớm có
tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn


5

thiện. Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl. Bởi vì khi được bổ sung
thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do
sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con
trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày).
Hoàng Toàn Thắng và cs (2005) [15] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng
tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng
kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric. Do dịch vị
chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa
portein của thức ăn. Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen
không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu
hóa protein.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [10] vì thiếu HCl tự do nên vi sinh
vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh
phân trắng lợn con. Do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích
vách tế bào dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm
cho lợn con. Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do
có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi.
Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn
trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym,
sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn
khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh. Hơn nữa dịch vị thu được
khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị
thu được khi cho uống sữa. Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai
sữasớm cho lợn con.
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã
sinh ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh, khi
lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi


6

khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ
nhiễm bệnh đường tiêu hóa. Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn
gây thối rữa ở lợn con mới sinh.
2.1.1.3. Đặc điểm cơ năng điều tiết thân nhiệt
Theo nhóm tác giả Hội chăn nuôi Việt Nam (2000) [7] ở lợn con sơ sinh,
tỷ lệ nước trong cơ thể chiếm 82%. Vì có nhiều nước, nhiệt độ cơ thể giảm
nhanh, 30 phút sau khi sinh lượng nước giảm 1,5 - 2 % kèm theo giảm thân
nhiệt 5 - 100C, lợn con bị lạnh, các chức năng hoạt động bị rối loạn dẫn đến dễ
bị chết non.
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não
của lợn con chưa phát triển hoàn thiện. Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng
lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm).
Theo Từ Quang Hiển và cs (1995) [5] ở lợn con, khả năng sinh trưởng
và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao. Trong khi đó
sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần
cả về chất và lượng. Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con
và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ. Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn
cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy
còm, nhiều lợn con mắc bệnh. Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để
khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau
cai sữa.
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn
chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt
chưa cân bằng.
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau
thai, điều kiện sống tương đối ổn định. Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống
hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết.


7

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự
trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện
tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn
con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn
thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng
tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ. Vì thế ở nước ta vào cuối mùa
đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương
thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh. Đây là điều kiện
thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh đường tiêu hoá.
2.1.1.4. Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể. Phần lớn các chất
lạ là mầm bệnh. Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng,
do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh. Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá
và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối
loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém. Trong giai
đoạn này mầm bệnh (Salmonella spp, E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể
qua đường tiêu hoá và gây bệnh.
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể. Lượng
kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ. Cho
nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào
lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [10] trong sữa đầu của lợn mẹ hàm
lượng protein rất cao. Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa
chiếm 18 - 19%, trong đó lượng  - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 35%). Nó có tác dụng tạo sức đề kháng. Cho nên sữa đầu có vai trò quan


8

trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con. Lợn con hấp thu lượng  globulin bằng con đường ẩm bào. Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử  globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian. Nó chỉ có khả năng hấp thu qua
ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu
có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ
khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng. Cho nên 24 giờ sau khi
được bú sữa đầu, hàm lượng  - globulin trong máu lợn con đạt tới
20,3mg/100ml máu. Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và
khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, nên sự hấp thu  globulin kém hơn, hàm lượng  - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm
hơn. Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của
lợn trưởng thành có khoảng 65 mg/100ml máu). Do đó lợn con cần được bú
sữa đầu càng sớm càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25
ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể. Do đó những lợn con không
được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao.
2.1.2 Hiểu biết về vi khuẩn E.coli
Trực khuẩn ruột già Escherichia coli (E.coli) còn có tên khác là
Bacterium coli commune, Bacillus communis, do Escherich phân lập năm
1885 từ phân trẻ em. E.coli thường sinh sống ở phần sau của ruột, ít khi ở dạ
dày hay phần trước ruột của các loài gia súc, gia cầm và cả người.
- Đặc điểm hình thái
E.coli là một trực khuẩn hình gậy kích thước từ 2 - 3 x 0,6 µm, trong cơ
thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn.
Trong canh rùng gà, vi khuẩn dài 4 - 8 µm.
Phần lớn E.coli di động do có lông ở xung quanh thân, nhưng một số
không di động. Vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô.


9

- Đặc tính nuôi cấy
E.coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có thể phát triển ở
nhiệt độ 5 - 400C, nhiệt độ thích hợp là 370C, pH thích hợp 7,2 - 7,4; vi khuẩn
phát triển được ở pH 5,5 - 8.
E.coli phát triển dễ dàng trong các môi trường nuôi cấy thông thường:
- Trong môi trường nước thịt: Vi khuẩn phát triển thấp, môi trường rất
đục có máu tro nhạt lắng xuống đáy, đôi khi có màu xám nhạt trên mặt môi
trường, môi trường có mùi phân thối.
- Trên môi trường thạch thường: Sau 24 giờ nuôi cấy hình thành nên
khuẩn lạc tròn, ướt, không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, có đường
kính 2 - 3 mm. Nuôi lâu khuẩn lạc trở thành gần như nâu nhạt và mọc rộng ra.
Có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R và khuẩn lạc dạng M.
- Môi trường Istrati: Khuẩn lạc có màu vàng tươi.
- Môi trường Maconkey: Khuẩn lạc có màu đỏ hồng.
- Môi trường Brilliiant - Gren - Ager: Khuẩn lạc có màu vàng chanh.
- Môi trường EMB (Eosin - Methylen - Blue): Khuẩn lạc có màu đen tím.
- Môi trường Muller Kauffman: Vi khuẩn không mọc.
- Môi trường thạch SS (Salmonella - Shigella): E.coli có khuẩn lạc màu đỏ.
- Môi trường Endo: E.coli có khuẩn lạc màu đỏ.
- Đặc tính sinh hóa: E.coli lên men sinh hơi từ các loại đường fructoze,
glucoze, galactoze, lactoze, mannit, dextroze. Lên men không chắc chắn các
loại đường dulcitol, saccharose.
Các phản ứng khác: H2S, VP, urea: âm tính.
MR, Indol: Dương tính.
Sữa đông sau 24 - 72 giờ ở 370C.
Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng trứng đông.
E.coli có khả năng khử Nitrat thành Nitrit, khử Cacbocyl trong môi
trường Lysinedecacboxylase.


10

- Cấu trúc kháng nguyên
Kháng nguyên của vi khuẩn E.coli rất phức tạp bao gồm các loại kháng
nguyên: O, H và K.
+ Kháng nguyên O:
Đây là thân của vi khuẩn và được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn,
kháng nguyên O được coi là một nội độc tố có thể tìm thấy ở màng ngoài vỏ
bọc vi khuẩn và thường xuyên được giải phóng vào môi trường nuôi cấy.
Kháng nguyên O có đặc tính như sau: Chịu được nhiệt độ (không bị phá huỷ
khi đun ở nhiệt độ 1000C/2 giờ), chịu được chất cồn, axit HCl 1N trong 2 giờ,
bị phá huỷ bởi formol 0,5%.
+ Kháng nguyên H:
Kháng nguyên được cấu tạo bởi thành phần lông của vi khuẩn, có bản chất
là protein giống như chất myosin trong cơ, nó có đặc tính sau: Bị phá huỷ ở 600C
trong 1 giờ, bị cồn 500 và các enzym phân giải protein phá huỷ, bền vững với
formol 0,5%.
+ Kháng nguyên K:
Kháng nguyên K hay còn gọi là kháng nguyên bề mặt. Chúng bao
quanh tế bào vi khuẩn có bản chất là polysaccharide. Có ý kiến cho rằng
kháng nguyên K có ý nghĩa về độc lực vì nó tham gia bảo vệ vi khuẩn trước
các yếu tố phòng bệnh của vi khuẩn.
- Độc tố
Vi trùng E.coli tạo ra 2 loại độc tố đó là nội độc tố và ngoại độc tố.
Ngoại độc tố: Là một chất không chịu được nhiệt dễ bị phá huỷ ở 560C
trong vòng 10h30 phút dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển
thành giải độc tố, ngoại độc tố có hướng thần kinh và gây hoại tử.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [2] hiện nay việc chiết xuất ngoại
độc tố chưa thành công mà chỉ phát hiện trong canh trùng của chúng mới
phân lập được khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài
hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng.


11

+ Nội độc tố: Là các yếu tố gây độc chủ yếu của trực khuẩn đường ruột
E.coli, chúng có trong tế bào vi trùng và gắn vào vi trùng rất chặt chẽ, nội độc
tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: Phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học
hoặc chiết suất bằng phenol dưới tác dụng của enzym.
2.1.3. Hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con
2.1.3.1. Nguyên nhân
Do bộ máy tiêu hóa của lợn con chưa hoàn thiện nên ở giai đoạn sau
thời kỳ bú sữa đầu, lợn con có thể mắc nhiều bệnh, đặc biệt là bệnh phân
trắng - một bệnh khá phổ biết thường gặp ở lợn con theo mẹ.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [2] bệnh lợn con ỉa phân trắng do
trực khuẩnE.coli gây ra là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở dạng nhiễm trùng
huyết hoặc nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh,
thậm chí chỉ vài giờ. Có đến 48% trường hợp bị tiêu chảy ở lợn con là do
E.coli gây ra.
E.coli là loại phổ biến nhất trong đường ruột, nó xuất hiện và sống
trong đường ruột của động vật chỉ vài giờ sau khi sinh. Khi điều kiện chăm
sóc, nuôi dưỡng kém sức đề kháng của con vật giảm thì E.coli cường độc và
có khả năng gây bệnh, chúng sản sinh ra độc tố (enterotoxin) phá hủy tổ chức
thành ruột làm thay đổi cân bằng quá trình thay đổi nước, điện giải. Nước
không được hấp thu từ ruột vào mà bị rút từ cơ thể vào ruột dẫn đến gây
bệnh tiêu chảy.
Những nguyên nhân khác làm tăng mức độ nhiễm E.coli là vệ sinh
chuồng trại kém, bầu vú lợn mẹ bị nhiễm khuẩn, thức ăn nước uống không
hợp vệ sinh, E.coli xâm nhập theo đường miệng vào cơ thể. Ngoài ra, trong
dịch vị thiếu HCl tự do cũng là nguyên nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa.
Lợn con không được bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu làm tăng
khả năng cảm nhiễm bệnh, thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trường
cao cũng làm lợn con dễ mắc bệnh phân trắng lợn con.


12

Sử An Ninh và cs (1981) [8] cho biết: Nguồn gốc sinh bệnh lợn con
phân trắng có liên quan đến phản ứng thích nghi của cơ thể lợn với yếu tố
stress, biểu hiện thông qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần
trong máu: Đường huyết, cholesteron, kẽm, kali, natri....
Chăm sóc lợn mẹ (đặc biệt là thời gian mang thai) không đúng kỹ
thuật: Thức ăn, nước uống không hợp vệ sinh, khẩu phần không đủ dinh
dưỡng, thiếu các yếu tố đa lượng, vi lượng làm cho lợn con sinh ra còi cọc,
thiếu sắt, Vitamin B12... khiến cơ thể lợn suy yếu do thiếu máu, khả năng
chống đỡ với các môi trường kém nên dễ mắc bệnh.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1995) [16] sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết
cho sinh trưởng và khă năng chống đỡ bệnh tật, ở động vật 1/2 lượng sắt cho
cơ thể nằm ở hemoglobin, một lượng ít nằm ở myoglobin và một số enzym.
Trong quá trình mang thai hoặc sữa đầu của lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu
cầu về sắt dễ sinh bần huyết ở lợn con, dẫn đến cơ thể suy nhược, không hấp
thu được dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh.
Mặt khác, lượng sữa mẹ giảm dần và đến ngày thứ 20 giảm đột ngột,
trong khi đó nhu cầu về dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng cao. Đến
ngày thứ 20 nếu dinh dưỡng của lợn mẹ không đảm bảo, lợn con càng thiếu
sữa, chúng gặm, la liếm nền chuồng và thành chuồng nên dễ phát sinh bệnh
đường tiêu hóa.
2.1.3.2. Đặc điểm dịch tễ của bệnh
Động vật cảm nhiễm: Thường chỉ thấy lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến
khi cai sữa, cơ năng tiêu hóa của lợn kém, dễ bị bệnh khi có sự tác dụng của vi
khuẩn E.coli gây bệnh. Thành phần dinh dưỡng và phẩm chất của sữa lợn mẹ
kém cũng ảnh hưởng đến sức đề kháng của lợn con nên lợn con dễ bị bệnh.
Điều kiện chăn nuôi: Bệnh thường xảy ra ở những nơi vệ sinh chăm sóc
kém, không chống ẩm, chống lạnh đầy đủ vì trong những điều kiện đó lợn con
bị stress làm cho sức đề kháng của lợn con giảm nên các tác nhân gây bệnh
phát triển và làm phát sinh bệnh.


13

2.1.3.3. Đường truyền bệnh
Đường nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn uống. Khi bị nhiễm, E.coli phát
triển nhanh trong đường ruột, chúng tự huỷ hoại và giải phóng ra các độc
tố, độc tố này xâm nhập vào dòng limpho, do đó máu bị nhiễm độc và con
vật chết.
Từ khi mới sinh, hệ sinh vật ở đường tiêu hoá rất đa dạng, tỷ lệ, số
lượng vi trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau.
Mầm bệnh cũng có thể được truyền trực tiếp từ lợn mẹ bị nhiễm E.coli
sang lợn con khi còn là bào thai. Thực tế đã chứng minh, bệnh do E.coli
không những xuất hiện vào những ngày đầu tiên mới đẻ mà thậm chí vào
những giờ đầu tiên sau khi sinh. Điều đó cho thấy đã có sự nhiễm bệnh của
bào thai ngay từ khi còn trong bụng mẹ, do đó con vật đẻ ra đã là con vật
bệnh. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc kịp thời đề xuất những
biện pháp nhằm phòng trừ có hiệu quả ngay từ khi con vật trong bụng mẹ
(theo Đào Trọng Đạt và cs, 1995)[2].
2.1.3.4. Quá trình sinh bệnh
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [14], nghiên cứu chế tạo VaccineE.coli
uống phòng bệnh lợn con phân trắng.
Vi khuẩn E.coli xâm nhập trực tiếp hay gián tiếp vào đường ruột của
con vật. Trong ruột khi có đủ điều kiện thuận lợi, vi khuẩn colizin V, yếu tố
này tiêu diệt hoặc hạn chế sự phát triển của vi khuẩn đường ruột khác, đặc
biệt là vi khuẩn có lợi và trở thành vi khuẩn có số lượng lớn trong đường ruột,
tràn lên ruột non, tại đây nhờ kháng nguyên bám dính, vi khuẩn bám vào lớp
biểu mô nhung mao ruột. Sau đó vi khuẩn xâm nhập vào trong lớp tế bào biểu
mô, trong lớp tế bào biểu mô vi khuẩn phát triển nhân lên làm phá hủy lớp tế
bào này gây viêm ruột. Cũng tại đây vi khuẩn sản sinh độc tố đường ruột, độc
tố đường ruột tác động vào quá trình trao đổi muối và nước. Nước và chất
điện giải không hấp thu được từ ruột vào cơ thể, ngược lại thấm xuất từ cơ thể


14

vào ruột. Nước tập trung vào ruột làm cho ruột căng lên. Sức căng của ruột và
quá trình viêm ruột kích thích vào hệ thần kinh thực vật tạo nên những cơn
nhu động ruột mạnh, đẩy nước và phân ra ngoài gây hiện tượng tiêu chảy.
Sau khi gây ra tiêu chảy và thay đổi về tổ chức bệnh lý ở hệ thống tiêu
hóa thì tùy khả năng gây bệnh của vi khuẩn và sức đề kháng của vật chủ mà
vi khuẩn tiếp tục xâm nhập vào hệ thống tuần hoàn gây dung huyết lợn bị sốt
cao, hay vào cơ quan nội tạng gây bệnh toàn thân hoặc chỉ cư trú tại ruột gây
bệnh ở đường tiêu hóa.
Ngoài ra việc bú sữa đầu không kịp thời, chất lượng sữa đầu kém, thiếu
yếu tố γ - Globulin miễn dịch, cũng là điều kiện để phát sinh bệnh. Như vậy
để sinh bệnh rõ ràng phải có mặt chủng E.coli cường độc. Hầu hết chủng
E.coli cường độc đều sinh ra một số yếu tố bám dính màng, các chất này làm
trung gian cho các cảm thụ quan đặc hiệu bám dính lên tế bào biểu bì của
màng niêm mạc.
2.1.3.5. Triệu chứng lâm sàng
Lứa tuổi mắc bệnh thường gặp ở lợn con từ 10 - 21 ngày tuổi. Thời gian
ủ bệnh từ vài giờ đến một ngày. Phân trắng ở lợn con sơ sinh có thể quan sát
được 2 - 3 giờ sau khi sinh, có ở từng cá thể hay toàn đàn. Phần lớn lợn con
trong đàn bị ảnh hưởng và có thể tử vong rất cao trong những ngày đầu tiên.
Lợn con nhiễm E.coli chậm chạp, bỏ bú, thân nhiệt ít tăng cao, trường
hợp cá biệt nhiệt độ cơ thể có khi lên tới 40,5 - 41oC, nhưng chỉ vài giờ hoặc
một vài ngày sau sẽ hạ sốt. Lợn ỉa nhiều lần trong ngày, phân lỏng màu trắng
như vôi, trắng xám màu xi măng hoặc màu nâu hơi vàng, phân có mùi tanh
đặc biệt, bụng tóp lại, da nhăn nheo, lông xù quanh hậu môn dính phân, 2
chân sau chụm lại.
Bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào vụ đông xuân, khi độ ẩm
môi trường cao.


15

Khi lợn con mắc thì thường có một số thể sau:
- Thể cấp tính: Những lợn từ 4 - 15 ngày tuổi thường hay mắc thể này.
Sau 1 - 2 ngày đi ỉa phân trắng lợn gầy sút nhanh, ủ rũ và bỏ bú, đi đứng siêu
vẹo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh. Phân lúc đầu nát, sau loãng, tiếp
đó lợn rặn khó khăn như đi kiết, số lần đi ỉa tăng từ 1 - 2 lần đến 4 - 6
lần/ngày. Màu phân từ xanh đen dần chuyển sang màu trắng đục, mùi tanh
khắm, phân dính bết ở hậu môn, bệnh kéo dài 2 - 4 ngày, tỷ lệ chết cao 50% 80% số con/đàn.
- Thể mãn tính: thường lợn lớn hơn 20 ngày tuổi hay mắc bệnh thể
này. Lợn bú kém, kéo dài 7 - 10 ngày. Phân màu trắng đục hoặc trắng hơi
vàng. Có con mắt có dử mắt, mắt quầng thâm, niêm mạc nhợt nhạt. Tỷ lệ chết
thấp 10 - 30% trong đàn. Những lợn đã đến 40 - 60 ngày tuổi thì khi ỉa phân
trắng nhưng vẫn hoạt động bình thường. Phân thường đặc hoặc nát với màu
trắng xám, từ đó có thể tự khỏi. Nhưng nếu kéo dài, lợn gầy sút và sau này còi
cọc chậm lớn.
2.1.3.6. Bệnh tích
-Lợn con chết do bị mất nước nghiêm trọng, ruột non đầy hơi và bị
viêm cata cấp tính, mạch máu màng treo ruột sưng, mềm, đỏ tấy sung huyết.
Niêm mạc dạ dày đỏ, dày lên, phủ chất nhớt và ruột già sưng. Trong ruột non
có dịch lỏng, vàng nhạt hay nâu nhạt, có khi lẫn thức ăn không tiêu, có lẫn
bọt. Màng treo ruột đỏ thẫm, gan bị thoái hóa màu đất sét, túi mật căng và dài
ra do chứa nhiều dịch mật. Chất chứa trong đường ruột lỏng, có màu vàng,
xác lợn gầy, bụng thóp, niêm mạc mắt vàng.
- Trong dạ dày, manh tràng chứa đầy sữa đông vón hoặc thức ăn
không tiêu.
- Phổi bị xuất huyết.
- Dạ dày giãn rộng, đường cong lớn bị chảy máu (xuất huyết).


16

- Tim sưng to, cơ tim nhão.
- Niêm mạc hậu môn đỏ.
2.1.3.7. Chẩn đoán
Việc chẩn đoán lợn con phân trắng chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng
cũng dễ phát hiện. Trong đàn lợn thường quan sát thấy các loại phân lúc đầu
là táo, sau là lỏng hoặc sền sệt mầu vàng hoặc mầu trắng. Quan sát hậu môn
có thể phát hiện những con mắc bệnh có phân dính ở hậu môn hoặc dính cả ở
vùng mông, khoeo, nhìn thấy ướt. Lợn bỏ bú hoặc bú ít, xù lông, tím tai, tím
mõm. Thường nằm ở góc chuồng khi nặng thì run rẩy, co giật nằm chân bơi
trong không khí.
Bệnh đường ruột do E.coli gây ra ở lợn con có những khác biệt với
những bệnh do nhóm các tác nhân gây tiêu chảy khác như: vi rút, cầu trùng.
Cơ sở của việc chuẩn đoán là xác định độ PH của phân: nguyên nhân do
E.Coli gây ra thì phân có pH nghiêng về Bazơ, nguyên nhân do virut, cầu
trùng thì phân có pH nghiêng về axit, có thể phân lập vi khuẩn ở lớp niêm
mạc ruột non.
2.1.3.8. Phòng bệnh
Bệnh phân trắng lợn con được gây nên bởi rất nhiều nguyên nhân phức
tạp. Do đó cũng phải có nhiều biện pháp giải quyết các vấn đề ờ trên từng
khía cạnh của bệnh phân trắng cùng áp dụng đồng bộ, mới có thể hạn chế đến
mức thấp nhất những thiệt hại do bệnh gây ra.
* Phòng bệnh bằng Vaccine
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Vaccine để phòng
bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn là chủ yếu, do đó các nghiên cứu đã tập
trung chế tạo Vaccine từ vi khuẩn E. coli và Salmonella.
Sử dụng Vaccine cho lợn nái mang thai bằng cách tiêm hoặc cho uống
trước khi đẻ 4 – 6 tuần để kích thích lợn mẹ đáp ứng miễn dịch, sản sinh
kháng thể đặc hiệu trong máu, truyền qua sữa đầu, cung cấp cho lợn con sau
khi bú sữa (Nguyễn Thị Nội và cs, 1989 ), [9]


17

Sử dụng Vaccine trực tiếp cho lợn con uống để tạo ra các globulin miễn
dịch tiết tại đường ruột, nhằm mục đích bảo vệ bề mặt niêm mạc của ruột,
chống vi khuẩn bám dính xâm nhập, sản sinh độc tố gây bệnh
Gần đây một số nhà nghiên cứu còn dùng hỗn hợp vi khuẩn đường ruột
E.Coli và Salmonella phân lập được từ cơ sở chăn nuôi để chế Vaccine với
mục đích ngăn cản sự xâm hại của hai loại vi khuẩn này. Kết quả cho thấy
Vaccine đã chế tạo được có khả năng ngăn cản sự bám dính và xâm nhập của
E.coli và Salmonella vào các tế bào biểu mô ruột.
Hiệu lực miễn dịch của Vaccine này tương đương với hiệu lực của
Vaccine sống, cao hơn Vaccine chết hoặc Vaccinelipopolixacchorid chiết
xuất. Năm 1989, Nguyễn Thị Nội và cs đã tiến hành nghiên cứu Vaccine hỗn
hợp salsco, được chế tạo từ các chủng vi khuẩn E.coli, salmonella,
streptococus để phòng tiêu chảy cho lợn.
* Phòng bệnh bằng các chế phẩm sinh học
Dùng các vi khuẩn có lợi để phòng và điều trị tiêu chảy ở lợn là biện
pháp hữu hiệu, đã có nhiều chế phẩm được nghiên cứu và áp dụng. Các nhóm vi
khuẩn thường dùng là Bacillus Subtilis, Colibacterium, .... Các vi khuẩn này khi
được đưa vào đường tiêu hoá của lợn sẽ có vai trò cải thiện thức ăn, lập lại cân
bằng vi sinh vật trong đường ruột ức chế và khống chế các vi khuẩn có hại.
Gần đây Nhật Bản đã giới thiệu chế phẩm EM (Effective
Micoorganims) là một chế phẩm sinh học có nhiều lạo vi khuẩn có lợi, có khả
năng phòng trị bệnh tiêu chảy cho nhiều loại gia súc và gia cầm và còn có khả
năng khử mùi hôi cho phân thải, chuồng trại...
* Phòng bệnh bằng thuốc hoá học trị liệu
Lợn con bú sữa mẹ thường thiếu sắt vì sữa mẹ không cung cấp đủ do
đó lợn con thướng rối loạn tiêu hoá và ỉa chảy. Để giải quyết vấn đề này, các
nhà chăn nuôi đã nghiên cứu chế phẩm Dextran-Fe để tiêm bổ sung cho lợn
phòng bệnh thiếu máu, suy dinh dưỡng và các bệnh đường ruột, tăng sức đề
kháng cho lợn.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×