Tải bản đầy đủ

Khảo sát tình hình nhiễm bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trang trại bùi huy hạnh huyện tứ kỳ tỉnh hải dương và một số phác đồ điều trị

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

NGUYỄN THỊ NGÂN

Tên đề tài:
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH VIÊM TỬ CUNG
Ở ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI TRANG TRẠI BÙI HUY HẠNH
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG VÀ MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành: Thú y
Khoa:

Chăn nuôi Thú y


Khóa học:

2011 - 2015

Thái Nguyên, 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

NGUYỄN THỊ NGÂN
Tên đề tài:
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH VIÊM TỬ CUNG
Ở ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI TRANG TRẠI BÙI HUY HẠNH
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG VÀ MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Thú y

Lớp:

43 - Thú y

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2011 - 2015

Giảng viên hƣớng dẫn: PGS.TS. Trần Huê Viên


Thái Nguyên, 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp
này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em còn nhận được sự quan tâm
giúp đỡ nhiệt tình, quý báu của các Thầy, Cô giáo khoa Chăn nuôi - Thú y,
của Lãnh đạo, cán bộ nhân viên trang trại chăn nuôi gia công Công ty Cổ
Phần Charoen Pokphand Việt Nam và sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè, người
thân trong suốt thời gian thực tập.
Trước hết em xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS.TS
Trần Huê Viên, đã hướng dẫn, chỉ bảo em tận tình trong suốt quá trình học tập
cũng như trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này.
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, BCN khoa
Chăn nuôi - Thú y đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép em thực hiện khóa
luận này.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Công ty Cổ phần chăn nuôi
Charoen Pokphand Việt Nam, chủ trang trại, các cô, chú, các anh, chị công
nhân trong trang trại của gia đình ông Bùi Huy Hạnh về sự hợp tác giúp đỡ bố
trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa
luận này.
Em xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân, những người
luôn động viên giúp đỡ em về mọi mặt, tạo điều kiện tốt nhất cho em trong
suốt quá trình học tập và thực tập chuyên đề tốt nghiệp này.
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Thị Ngân


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Các tiêu chí chẩn đoán viêm tử cung .................................................................. 14
Bảng 2.2: Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện ............................ 14
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ......................................................................................... 25
Bảng 4.1: Lịch sát trùng trại lợn nái ...................................................................................... 32
Bảng 4.2: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái ......................................................................... 33
Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất ...................................................................... 38
Bảng 4.4: Cơ cấu đàn lợn nái sinh sản .................................................................................. 39
Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo loại nái ......................................................... 40
Bảng 4.6: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo tháng ............................................................ 41
Bảng 4.7: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn ..................................................... 42
Bảng 4.8: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ ........................................................... 43
Bảng 4.9: Cường độ nhiễm của lợn nái bị bệnh viêm tử cung........................................... 44
Bảng 4.10: Kết quả của 2 phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung cho lợn nái ...................... 46
Bảng 4.11: Khả năng sinh sản của lợn nái sau điều trị ....................................................... 47
Bảng 4.12: Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị bệnh viêm tử cung ................................ 48


iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CP:

Charoen Pokphand

Cs:

Cộng sự

ĐC:

Đối chứng

ĐVT:

Đơn vị tính

Kg:

Kilogam

Kl:

Khối lượng

LMLM: Lở mồm long móng
Nxb:

Nhà xuất bản

MD:

Minh Dũng

P:

Khối lượng

PGS.TS: Phó giáo sư tiến sĩ
STT:

Số thứ tự

TB:

Trung bình

TT:

Thể trọng


iv

MỤC LỤC
Trang
Phần 1. MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề ...................................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ..................................................................................... 2
1.2.1. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................................... 2
1.2.2. Yêu cầu của đề tài ...................................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài .......................................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học ....................................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn .............................................................................................. 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ....................................................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học .............................................................................................................. 3
2.1.1. Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái.......................................................... 3
2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái ...................................................................... 5
2.1.3. Sinh lý lâm sàng ......................................................................................................... 7
2.1.4. Quá trình viêm tử cung .............................................................................................. 8
2.1.5. Các thể viêm tử cung ................................................................................................. 9
2.1.6. Một số nguyên nhân gây viêm tử cung .................................................................. 12
2.1.7. Chẩn đoán viêm tử cung .......................................................................................... 14
2.1.8. Chẩn đoán và điều trị ............................................................................................... 15
2.1.9. Hiểu biết về một số loại thuốc điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn......................... 18
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ............................................................... 21
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ......................................................................... 21
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ........................................................................... 22
Phần 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............ 24
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 24
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu .............................................................................. 24
3.3. Nội dung nghiên cứu................................................................................................... 24
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi .................................................... 24


v

3.4.1. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................... 24
3.4.2. Chỉ tiêu theo dõi ....................................................................................................... 27
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................................ 29
4.1. Công tác phục vụ sản xuất .......................................................................................... 29
4.1.1. Công tác chăm sóc nuôi dưỡng............................................................................... 29
4.1.2. Công tác thú y........................................................................................................... 31
4.1.3. Công tác khác ........................................................................................................... 37
4.2. Kết quả nghiên cứu ..................................................................................................... 39
4.2.1. Kết quả khảo sát cơ cấu đàn lợn nái nuôi tại trang trại......................................... 39
4.2.2. Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ...................... 39
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .................................................................................. 50
5.1. Kết luận ........................................................................................................................ 50
5.2. Đề nghị ......................................................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................... 52


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ở nước ta hiện nay, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói
riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nghề chăn
nuôi lợn đã có lịch sử lâu đời là một nghề phổ biến ở nước ta. Thịt lợn chiếm
75-80% trong tổng số các loại thịt gia súc, gia cầm. Đó là nguồn cung cấp
khối lượng thịt, mỡ rất lớn cho ngành chế biến thực phẩm và công nghệ chế
biến ngoài ra còn cung cấp nguồn phân bón quan trọng cho ngành trồng trọt.
Hiệu quả của ngành chăn nuôi lợn đem lại rất lớn.
Để cung cấp giống tốt cho nhu cầu chăn nuôi, vấn đề đặt ra là phải nâng
cao được năng xuất sinh sản và chất lượng chăn nuôi. Muốn đảm bảo được
điều đó thì bên cạnh các yếu tố về giống, thức ăn, kỹ thuật chăm sóc quản lý
nuôi dưỡng thì công tác thú y luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu, nhằm
hạn chế bệnh tật và tăng nhanh về số lượng cũng như chất lượng của đàn lợn.
Tuy vậy, trong những năm gần đây một trong những trở ngại lớn nhất của
chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến gây nhiều thiệt hại
cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong các trang trại cũng như nuôi tập trung ở
gia đình. Đối với lợn nái thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do khả
năng thích nghi của đàn lợn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém
đặc biệt hay gặp là bệnh viêm tử cung, đây là bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới
khả năng sinh sản của lợn mẹ.
Bệnh viêm tử cung là bệnh rất phổ biến ở lợn nái sinh sản đây là căn
bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra và để lại hậu quả nghiêm trọng trên cả lợn
nái (giảm sức đề kháng, giảm sinh sản,...) cũng như ảnh hưởng rất lớn tới thế
hệ lợn con sau này đồng thời ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu
quả toàn ngành chăn nuôi lợn nói chung.


2

Với mục đích nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái, hạn chế thiệt hại
do bệnh viêm tử cung gây ra trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại, chúng tôi
tiến hành đề tài:
“Khảo sát tình hình nhiễm bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại
trang trại Bùi Huy Hạnh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và một số phác đồ
điều trị”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá tình hình cảm nhiễm bệnh viêm tử cung ở lợn.
- Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh
- Đánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị.
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá tình hình cảm nhiễm bệnh viêm tử cung ở lợn
- Ðánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Bổ sung một số thông tin khoa học về bệnh viêm tử cung ở lợn và biện
pháp phòng trị bệnh có hiệu quả.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Góp phần kiểm soát và khống chế bệnh viêm tử cung trong đàn lợn
nuôi tại cơ sở, nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái
Bộ phận sinh dục của lợn nái được chia thành bộ phận sinh dục bên
trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên
ngoài: Âm môn, âm vật, tiền đình (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003) [15]).
* Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của lợn gồm một treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm
trong xoang chậu. Hình dạng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn
cóhình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng. Buồng trứng có
hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hoocmon: Estrogen,
Progesteron và Inhibin. Các hoocmon này tham gia vào việc điều khiển chu
kỳ sinh sản của lợn cái.
Phía ngoài của buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi,
chắc như màng dịch hoàn. Phía trong buồng trứng được chia làm 2 miền:
Miền vỏ và miền tủy. Miền vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng có tác
dụng về sinh dục vì nó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng. Miền tủy
của buồng trứng nằm ở giữa gồm mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết
và mô liên kết. Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai
đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối
đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bao
chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng (Trần Thị Dân, 2004) [6].
* Ống dẫn trứng (Oviductus)
Ống dẫn trứng (vòi Fallop) được treo bởi màng trao ống dẫn trứng, đó là
một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng. Căn cứ vào
chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:
+ Tua điểm: Có hình gống như tua liềm.


4

+ Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng.
+ Phồng ống dẫn trứng: Đoạn ống giãn rộng ra xa tâm.
+ Eo: Đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung.
* Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu
đạo trong xoang chậu, hai sừng tử cung ở phía trước xoang chậu. Tử cung
được giữ lại tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi
các dây chằng. Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông
với một thân và cổ tử cung, sừng tử cung dài 50 - 100cm, hình ruột non, thông
với ống dẫn trứng. Thân tử cung dài 3 - 5cm. Cổ tử cung dài 10 - 18cm, có
thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều cài răng lược, thông với âm
đạo. Vách tử cung gồm 3 lớp được cấu tạo từ ngoài vào trong: Lớp tương
mạc, lớp cơ trơn, lớp nội mạc.
* Âm đạo (Vagina)
Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [26] cho biết: Âm đạo lợn có chiều dài
10 -12cm. Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung,
đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi
là màng trinh. Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao
phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi qua trong quá trình sinh đẻ và là ống
thải các chất dịch từ tử cung. Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: Lớp tổ chức liên
kết ở ngoài, lớp cơ trơn có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong. Các lớp cơ
âm đạo liên kết với các lớp cơ tử cung.
* Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ. Tiền đình bao gồm: Màng trinh và
hành tiền đình. Sau màng trinh là lỗ niệu đạo.
* Âm vật (Clitoris)


5

Âm vật được phủ bởi lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm
giác, từ đó khuyến cáo các thú y viên chú ý khi thụ tinh nên kích thích lên âm
vật để gây mê ì cho nái động dục làm tăng hiệu quả thụ tinh.
* Âm hộ (Vulva)
Âm hộ hay còn gọi là âm môn, nằm dưới hậu môn và ngăn cách với nó bởi
vùng hội âm. Bên ngoài có 2 môi dính với nhau ở mép trên và mép dưới. Môi
âm hộ có sắc tố đen, tuyến mồ hôi, tuyến bã tiết ra chất nhờn trong và hơi dính.
2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
2.1.2.1. Sự thành thục về tính
Thành thục về tính là tuổi con vật có phản xạ sinh dục và có khả năng
sinh sản. So với thành thục thể vóc, sự hình thành về tính ở gia súc nói chung
và lợn nói riêng thường sớm hơn, nên người ta thường bỏ qua chu kỳ động
dục đầu tiên, mà phối cho lợn ở chu kỳ sau, khi đó lợn đã phát triển toàn diện
về thể vóc và sẵn sàng đảm nhiệm vai trò làm mẹ.
Sự thành thục về tính được nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận bên ngoài
của cơ quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh. Ðầu tiên hai mép âm môn
sưng đỏ và có dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ thẫm và dịch keo dính. Tương
ứng là sự biến đổi về thần kinh lúc đầu hưng phấn sau chuyển sang giai đoạn
mê ì. Cùng với sự biểu hiện sinh dục bên ngoài, ở bên trong buồng trứng cũng
có sự biến đổi, các noãn bào nổi trên bề mặt buồng trứng và chín, niêm mạc
tử cung tăng sinh, cổ tử cung mở dần kèm theo tiết dịch.
2.1.2.2. Chu kỳ tính
Khi gia súc thành thục về tính, những biểu hiện tính dục được biểu hiện
ra liên tục có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu.
Ðây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn
toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì
bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, trứng chín và nổi cộm lên bề


6

mặt buồng trứng. Khi noãn bàovỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần
rụng trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục.
Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ.
Sở dĩ trứng rụng có tính chu kỳ: Dưới sự điều khiển của thần kinh trung
ương, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao phát
triển, trong khi đó LH làm trứng chín, khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì khi
đó rụng trứng, hình thành thể vàng. Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ nếu
gia súc được thụ thai, nhưng nó chỉ tồn tại từ 3 - 15 ngày nếu trứng không
được thụ tinh, sau đó nó teo đi dưới tác dụng của PGF2 làm co mạch máu
ngoại vi nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không được cung
cấp chất dinh dưỡng và bị tiêu hủy trong vòng 24 giờ, kết quả làm hàm lượng
progesteron giảm, lúc này FSH và LH được giải phóng làm trứng phát triển
và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo.
Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải trứng
sau. Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác nhau.
Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động trong
phạm vi từ 18 - 25 ngày. Khi tiến hành phối giống nếu có thai thì lợn không
động dục lại. Thời gian mang thai của lợn là 114 ngày, thời gian động dục trở
lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày.
2.1.2.3. Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng
sinh sản của gia súc cái. Ðây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên
bao gồm thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai
lứa sau, do vậy khoảng cách lứa đẻ ảnh hưởng đến số con cai sữa/nái/năm.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao
động không đáng kể, từ 113 - 115 ngày, đây là yếu tố ít biến đổi.


7

Ðể rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời
gian bú sữa của lợn con bằng cách cai sữa sớm ở lợn con. Nhiều công trình
nghiên cứu cho thấy rằng: Để rút ngắn thời gian sau đẻ đến phối giống lại có
kết quả cao thì phải chăm sóc nuôi dưỡng tốt và đặc biệt phải cai sữa sớm cho
lợn con, điều đó tăng số con cai sữa/nái/năm. Ðể rút ngắn thời gian cai sữa,
phải tập cho lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi đến khi lợn con có thể sống bằng
thức ăn được cung cấp, không cần sữa mẹ.
Hiện nay các cơ sở chăn nuôi tập trung, thời gian cai sữa ở lợn con là 21
ngày, sau cai sữa 5 - 6 ngày nái mẹ được phối giống lại. Như vậy khoảng cách
các lứa đẻ trung bình là 140 ngày, một năm nái có thể sản xuất được 2,3 lứa.
2.1.3. Sinh lý lâm sàng
+ Thân nhiệt
Nhiệt độ thân thể gọi tắt là thân nhiệt, là một hằng số hằng định sinh học
ở các động vật cấp cao như động vật có vú, người.
Trong điều kiện chăn nuôi giống nhau, thân nhiệt của gia súc non bao giờ
cũng cao hơn thân nhiệt của gia súc trưởng thành và gia súc già, ở con cái cao
hơn con đực. Trong một ngày đêm, thân nhiệt thấp nhất lúc sáng sớm (1 - 5 giờ
sáng), cao nhất vào buổi chiều từ 16h - 18h (Hồ Văn Nam và cs, 1997) [19].
Thân nhiệt của lợn trong điều kiện sinh lý bình thường dao động trong
khoảng 38,5 - 39,50C.
+ Sốt
Sốt là phản ứng toàn thân đối với các tác nhân gây bệnh mà đặc điểm
chủ yếu là thân nhiệt cơ thể cao hơn so với sinh lý bình thường. Quá trình chủ
yếu là do tác động của vi sinh vật gây bệnh, độc tố và những chất khác được
hình thành trong quá trình sinh bệnh. Những chất đó chủ yếu là protein hay
sản phẩm của nó (Hồ Văn Nam và cs, 1997) [19]. Một số kích tố như
adrenalin, parathyoroxyn, nước muối, glucoza ưu chương đều có thể gây sốt.


8

+ Tần số hô hấp
Tần số hô hấp là số lần thở trên phút, nó phụ thuộc vào cường độ trao
đổi chất, tuổi, tầm vóc. Gia súc non có cường độ trao đổi chất mạnh nên tần
số hô hấp tăng hơn. Ðộng vật nhỏ cũng có tần số hô hấp cao hơn so với động
vật có thể vóc lớn. Ngoài ra trạng thái sinh lý, vận động, nhiệt độ môi trường
cũng ảnh hưởng đến nhịp thở. Tần số hô hấp bình thường dao động trong
khoảng 8 - 18 lần/phút.
2.1.4. Quá trình viêm tử cung
Viêm là phản ứng toàn thân chống lại các tác nhân gây bệnh, thường
biểu hiện ở cục bộ, quá trình viêm xảy ra nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai
đoạn có những biểu hiện khác nhau. Tại ổ viêm thường xảy ra các biểu hiện
sưng, nóng, đỏ, đau. Xét trên mặt tích cực, viêm là phản ứng nhằm ổn định
các hằng số nội môi trong cơ thể, giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh.
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [19], sau khi quan sát hiện tượng di
động và nuốt các dị vật của bạch cầu đa nhân trung tính cho rằng, trung tâm
của phản ứng viêm là sự hoạt động của những tế bào thoát mạch và chống lại
các vật kích thích viêm gọi là hiện tượng thực bào (Phagocytosis).
Theo Vũ Triệu An và cs (1990) [1] thì viêm là một phản ứng của cơ thể
mà nền tảng của nó là phản ứng của tế bào. Phản ứng này hình thành và phát
triển trong quá trình tiến hóa của sinh vật.
Ngày nay người ta cho rằng viêm là phản ứng toàn thân chống lại mọi
kích thích có hại cho cơ thể, thể hiện ở cục bộ mô bào (Nguyễn Hữu Phước,
1982) [24].
* Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm
Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây ra các rối loạn
chủ yếu sau:


9

+ Rối loạn chuyển hóa
Tại ổ viêm quá trình oxy hóa tăng mạnh, nhu cầu oxy tăng nhưng vì có
rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp oxy không đủ, gây rối loạn chuyển
hóa gluxit, lipit và protein làm thay đổi pH, gây tăng độ axit, xeton, lipit,
polypeptit, và các axit amin tại ổ viêm.
+ Tổn thương ở mô bào
Các tế bào bị thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm
trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại ổ viêm, chúng
tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh học cao và hạ thấp pH tại ổ viêm.
+ Dịch rỉ viêm
Dịch rỉ viêm được hình thành do tăng áp lực thủy tĩnh trong các mạch
quản tại ổ viêm, tăng áp lực thẩm thấu, tăng tính thấm thành mạch là các yếu
tố quan trọng nhất và các protein bị thoát ra ngoài làm tăng lượng nước ngoại
vi gây phù thũng.
+ Tăng sinh ở mô bào
Là hiện tượng tăng lên về số lượng, các tế bào này có thể từ máu tới
hoặc các tế bào tại chỗ sinh sản và phát triển ra. Trong quá trình viêm giai
đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính. Sự tăng sinh và phát
triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng
như tình trạng phản ứng của cơ thể (Phạm Khắc Hiếu và cs, 1997) [10].
+ Các tế bào viêm
Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm,
bao gồm bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm,
bạch cầu đơn nhân lớn.
2.1.5. Các thể viêm tử cung
Theo Đặng Đình Tín (1986) [25], bệnh viêm tử cung được chia làm 3
thể: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung.


10

2.1.5.1. Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)
Theo NguyễnVăn Thanh (2003) [29], viêm nội mạc tử cung là viêm lớp
niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng
sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong
các bệnh của viêm tử cung. Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia
súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử
cung bị tổn thương, tiếp đó là các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus,
E.Coli, Salmonella, C.Pyogenes, Bruccella, roi trùng Trichomonas Foetus...
xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm.
Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs, (1994) [21], bệnh viêm nội mạc tử cung
có thể chia 2 loại:
- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở
niêm mạc tử cung.
- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử,
tổn thương lan sâu xuống dưới tầng của cơ tử cung và chuyển thành viêm
hoại tử.
 Viêm nội mạc tử cung thể Cata cấp tính có mủ (Endomestritis
Puerperalis)
Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm. Con vật có
trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh. Từ
âm hộ chảy ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những
mảnh tổ chức chết,…khi con vật nằm xuống dịch viêm thải ra ngày càng
nhiều hơn. Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch
viêm, có khi nó khô lại thành từng đám vẩy màu trắng xám. Kiểm tra qua âm
đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều. Cổ tử cung hơi mở và có mủ
chảy qua cổ tử cung. Niêm mạc âm đạo bình thường.


11

 Viêm nội mạc tử cung thể màng giả
Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử. Những vết thương
đã ăn sâu và tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử. Lợn nái mắc bệnh
này thường xuất hiện triệu chứng toàn thân: Thân nhiệt tăng cao, lượng sữa
giảm có khi hoàn toàn mất sữa, kế phát viêm vú, ăn uống giảm xuống. Con
vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên. Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra
ngoài hỗn dịch: Dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử,
niêm dịch…
2.1.5.2. Viêm cơ tử cung (Myometritis Puerperalis)
Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả.
Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển
sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch
quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị
hoại tử. Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân,
huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ. Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc
của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng
đám to (Nguyễn Hữu Ninh và cs, 1994) [21].
Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân
nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn.
Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm. Gia súc
biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục. Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra
ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên
có mùi tanh, thối. Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc.
Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần
sau. Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh.
2.1.5.3. Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperali)
Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung. Quá trình
viêm này thường ở thể cấp tính, con vật biểu hiện triệu chứng toàn thân. Lúc


12

đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất
tính trơn bóng. Sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng
tiết. Nếu bị viêm nặng, nhất là viêm có mủ, lớp tương mạc có thể dính với các
tổ chức xung quanh gây nên tình trạng viêm mô tử cung (thể Perimetritis),
thành tử cung dầy lên, có thể kế phát viêm phúc mạc. Lợn nái biểu hiện triệu
chứng toàn thân: Thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, uể
oải, đại tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn. Lượng sữa rất ít hoặc mất
hẳn, thường kế phát viêm vú. Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó
chịu, lưng và đuôi cong lên, rặn liên tục. Từ âm hộ thải ra ngoài hỗn dịch
gồm: Mủ, các tổ chức hoại tử có mầu nâu và mùi thối khó chịu. Khi kích thích
vào tử cung thấy con vật có phản xạ đau đớn, rặn mạnh hơn, từ âm hộ dịch
chảy ra nhiều hơn. Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ
phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi vị trí và hình
dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng. Nếu
điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành viêm mãn tính, tương mạc đã dính với
các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều
khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh. Thể viêm này thường kế phát bệnh viêm
phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ (Đặng Đình Tín, 1986) [25].
2.1.6. Một số nguyên nhân gây viêm tử cung
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [24], thì lợn nái sinh sản đều mang
khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết
dịch tụ lại tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển.
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [18], trong quá trình có thai, lợn nái
ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền
nhiễm như: Bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số bệnh nhiễm
khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết lưu và viêm
tử cung.


13

Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:
* Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý:
Khẩu phần ăn thừa hay hiếu protein trước, trong thời kỳ mang thai có
ảnh hưởng đến viêm tử cung.
Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ, gây viêm tử cung do
xây sát.
Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng giảm
không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung.
Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung. Thiếu vitamin A gây
sưng niêm mạc, sót nhau.
* Chăm sóc quản lý vệ sinh:
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ
không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh. Do quá trình can thiệp khi lợn
đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương
niêm mạc. Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng
đã đưa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn cái. Do lợn
đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn cái.
Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng. Vệ sinh trang trại, cơ sở
chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt,…sẽ làm giảm tỷ lệ viêm.
* Tiểu khí hậu chuồng nuôi:
Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm cho
lợn nái bị viêm tử cung. Vì vậy chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối với
lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung.
* Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe:
Nái đẻ càng nhiều lứa thì tỉ lệ mắc viêm tử cung càng cao và cường độ
nặng hơn so với những nái lứa đầu. Nái già do sức khỏe kém, hay kế phát một
số bệnh, sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ dẫn đến viêm tử cung.


14

* Đường xâm nhiễm của mầm bệnh:
Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm
nhập vào tử cung.
Xâm nhập có thể từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân, nước tiểu.
Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu đạo
cũng là nguyên nhân gây bệnh.
Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật
thường xuyên có mặt trong chuồng lợn. Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung, âm
đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập gây viêm tử cung.
2.1.7. Chẩn đoán viêm tử cung
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ
quan sinh dục và triệu chứng toàn thân, có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Các tiêu chí chẩn đoán viêm tử cung
STT
1
2
3
4
5

Các chỉ tiêu để
phân biệt
Sốt
Màu
Dịch viêm
Mùi
Phản ứng đau
Phản ứng co của cơ
tử cung

Viêm nội mạc

Viêm cơ

Sốt nhẹ
Trắng xám, trắng sữa
Tanh
Đau nhẹ

Sốt cao
Hồng, nâu đỏ
Tanh thối
Đau rõ
Phản ứng co rất
yếu

Bỏ ăn

Bỏ ăn một phần hoặc
hoàn toàn

Phản ứng co giảm

Viêm tƣơng
mạc
Sốt rất cao
Nâu rỉ sắt
Thối khắm
Đau rất rõ
Phản ứng co
mất hẳn

Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn

Như vậy, chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận, phải theo dõi thường
xuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi bị viêm
tử cung nhưng không sinh mủ.
Bảng 2.2: Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện
Thời gian xuất hiện dịch
1 – 4 ngày sau khi đẻ
>5 ngày sau khi đẻ
Khi phối
>5 ngày sau khi phối
14 – 21 ngày sau khi phối giống
Trong khi mang thai

Ý nghĩa
Bình thường
Viêm
Bình thường
Bình thường
Viêm
Viêm


15

Qua bảng 2.2 ta thấy có thể phát hiện được nái mắc bệnh qua việc quan
sát dịch từ âm đạo chảy ra qua các ngày, từ đó có các biện pháp can thiệp kịp
thời. Ngoài ra, chúng ta còn cần phải chú ý đến dịch chảy ra trong các ngày
mà dịch chảy ra chúng ta cho là bình thường vì nếu kéo dài và nặng dần lên
cũng có khả năng bị viêm tử cung.
2.1.8. Chẩn đoán và điều trị
* Phòng bệnh
- Chuồng trại trước khi đẻ 1 tuần phải rửa sạch sẽ rắc vôi bột hoặc nước
vôi 20%, sau đó rửa sạch chuồng bằng nước thường.
- Tắm cho lợn nái sau khi đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài và bầu vú.
- Khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kỹ bằng rượu, cồn và xoa trên bàn tay
bằng dầu lạc. Tốt nhất là đeo găng tay bảo hộ.
Thường lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng tay thì gần như 100% bị viêm
tử cung. Để đề phòng các trường hợp bị viêm tử cung nên tiêm cho lợn nái
một liều thuốc kháng sinh như: Tetramycin 10ml/ngày, liên tục trong 3 ngày.
Tylan 50 hoặc Suanaul 5:10ml/ngày, liên tục trong 3 ngày.
- Trong quá trình đẻ nên kết hợp cùng Oxytocin hay Han-Prost để thúc
đẻ đồng thời tránh sót nhau và tống các dịch ứ trong tử cung ra ngoài.
- Cho lợn nái chửa vận động thường xuyên đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ
sinh sạch sẽ.
- Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ thụ tinh đúng quy định và không để
nhiễm khuẩn.
- Không sử dụng lợn đực bị bệnh đường sinh dục để nhảy trực tiếp hoặc
lấy tinh.
- Sau khi đẻ xong nhau ra hết phải thụt rửa tử cung bằng nước cất pha
thuốc sát trùng Bioxit 0,1% sau đó bơm kháng sinh vào.


16

- Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis…bằng cách dùng
vắc-xin đúng quy trình, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản, tránh những
trường hợp bị sốt đột ngột gây sảy thai.
* Điều trị
Nguyên tắc chung trong việc điều trị bệnh: Bệnh do vi khuẩn gây ra nên
việc đầu tiên trong quá trình điều trị bệnh là phải tiêu diệt sớm và kịp thời
tránh sự lây lan của vi khuẩn. Để có hiệu quả cao, điều quan trong nhất là
phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh, sự mẫn cảm của chúng với
kháng sinh và hóa dược trong điều trị.
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2004) [23]: Hạn chế quá trình viêm
lan rộng, kích thích tử cung co bóp thải hết dịch viêm mủ ra ngoài và để
phòng hiện tượng nhiễm trùng cho cơ thể.
Để thải hết dịch viêm, mủ, niêm dịch và các chất bẩn trong tử cung ra
ngoài, thụt rửa tử cung bằng các loại thuốc sát trùng: Dung dịch Rivanol
0,1%, Acid Boric 3%, thuốc tím 0,1%...
Trường hợp bệnh nặng, đồng thời với điều trị cục bộ người ta có thể điều
trị toàn thân như: Sau khi thụt rửa xong người ta có thể tiêm bằng các loại
kháng sinh cho con vật kết hợp với việc chăm sóc, nuôi dưỡng vệ sinh tốt.
Theo Lê Văn Năm (1997) [20] cho biết: Điều trị viêm tử cung cần đạt 2
mục đích sau:
Phục hồi nguyên vẹn niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp
của tử cung. Người ta dùng phương pháp thụt rửa và sau đó can thiệp bằng
các loại thuốc kháng sinh và thuốc bổ bằng cách tiêm, cho uống hay bơm vào
tử cung.
Thụt rửa bằng các dung dịch: Nước sinh lý, nước muối 1 - 2%,
Streptocid 1%, thuốc tím 0,05%.
Sau khi thụt rửa xong thì có thể dùng thuốc theo liệu trình sau:


17

Tiêm bắp Calcium fort 10ml/nái/2 lần/ngày.
Bơm vào dạ con 500.000 UI Penicillin hòa với 50ml nước cất. Ngày một
lần dùng liên tục trong 3 ngày.
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [18] thì: Dùng Oxytocin với liều
20 - 40UI/con/ngày, để làm dạ con co bóp tống chất ứ bẩn, dịch viêm ra
ngoài. Sau đó thụt rửa tử cung bằng Han - Iotdine 5%, tiêm kháng sinh:
Gentamicin 4% 1ml/6kg TT hoặc Lincomycin 10% 1ml/10kg TT liên tục
trong 3 đến 5 ngày.
Theo tác giả Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [9] cho biết: Đã dùng một
số bài thuốc nam trong việc điều trị bệnh viêm tử cung cho kết quả tốt.
Bài 1:
- Nước sắc vỏ xoan
- Lá bạch đàn đồng nữ: 500g
- Muối ăn: 50g
- Nước sạch: 3000ml
Các nguyên liệu trên cho vào ấm đun sôi trong 30 phút, chắt lấy nước để
nguội rồi dùng nước đó thụt rửa tử cung, âm đạo bị viêm ngày 1 lần, rửa liên
tục trong 7 đến 10 ngày.
Bài 2: Nếu tử cung, âm đạo bị viêm nặng, có mùi hôi thối, dịch viêm
nhiều có thể dùng 50g tỏi ta bóc vỏ, rửa sạch, giã nhuyễn cho vào 500ml nước
đun sôi để nguội, khuấy đều, lọc ra lấy nước bơm vào tử cung, âm đạo 1
lần/ngày, dùng liên tục tử 3 đến 5 ngày.
Bài 3: Vỏ rễ cây dâm bụt rửa sạch tráng qua nước muối loãng cho thêm
nước đun sôi rồi chắt lấy nước để rửa tử cung, âm đạo cho lợn, sau khi thụt
rửa tiến hành lau khô, sạch, mỗi ngày nên rửa 2 lần.


18

2.1.9. Hiểu biết về một số loại thuốc điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại thuốc kháng sinh, áp dụng
khoa học kỹ thuật mà cho ra nhiều kháng sinh tổng hợp điều trị bệnh đạt hiệu
quả rất cao.
* Amoxinject – L.A (công ty Minh Dũng)
- Thành phần: Amoxycillin 150mg/ml
- Tác dụng: Điều trị ho, co giật, viêm rốn, viêm khớp, viêm tử cung
- Liều dùng: 1ml/10kg TT, tiêm bắp.
* Pen-step20/20 (công ty minh dũng)
- Thành phần: Penicillin G 20.000 IU/ml
Streptomycin 200mg/ml
- Quy cách: 100ml
- Liều lượng: 1ml/10kg TT
- Cách dùng: Tiêm bắp
- Tác dụng: Điều trị viêm vú, viêm tử cung, đóng dấu, tụ huyết trùng,...
- Chú ý: Điều trị bệnh do Haemophilus, streptococcous, Staphylococcus,
Pasteucella.
* Vetrimoxin – L.A (công ty CEVA)
- Thành phần: Amoxycillin 150mg/ml
- Quy cách: 100ml, 250ml
- Liều lượng: 1ml/10kg TT, tiêm bắp.
- Tác dụng: Chống nhiễm khuẩn vết thương hở, viêm rốn, viêm vú, vết
thiến, nanh, đuôi, khớp...
- Chú ý: Điều trị bệnh do Haemophilus, Streptococcous, Staphylococcus.
* Tylo - Genta:
- Thành phần: Tylosin tartrate: 100 g
Gentamycin sunfata 50 mg.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×