Tải bản đầy đủ

Chương VI. Máy làm bê tông công trình ngầm

Chương VI. Máy làm bê tông công trình ngầm
§ 6.1. Khái niệm chung
Máy làm bê tông là tên gọi chung cho các loại máy móc và thiết bị
phục vụ công tác làm bê tông theo từng công đoạn như: cân đong phối
liệu; nhào trộn hỗn hợp bê tông; vận chuyển hỗn hợp bê tông tới nơi thi
công, bơm bê tông; đổ bê tông; đầm bê tông và kiểm tra chất lượng bê
tông. Trong thi công công trình ngầm yêu cầu sự phục vụ của cả các máy
làm bê tông trên mặt đất và các máy làm bê tông đặc chủng trong các
tuyến ngầm, cụ thể là các nhóm máy sau:
1) Máy trộn bê tông.
2) Máy vận chuyển bê tông trên mặt đất và máy vận chuyển bê tông từ
giếng đứng tới nơi đổ bê tông
3) Các máy bơm bê tông
4) Các loại máy đầm bê tông
5) Thiết bị phục vụ công tác phun bê tông khô và ướt gia cố vách lò lần
đầu.
§ 6.2 Máy trộn bê tông & thiết bị định lượng phối liệu
I. Phân loại
Máy trộn bê tông được phân loại theo các dấu hiệu sau:
- Theo nguyên lý trộn;
- Theo chế độ làm việc;

- Theo khả năng di chuyển;
- Theo phương án đổ bê tông thành phẩm ra.
1. Theo nguyên lý trộn: máy trộn bê tông được chia làm 2 nhóm:
a) Nhóm trộn tự do (hình 6.1, a):
Máy trộn bê tông rơi tự do gồm có thùng trộn nghiêng quay chậm, trên
thành bên trong của thùng có gắn các lưỡi xẻng. Các lưỡi xẻng này khi
thùng trộn quay sẽ xúc phần hỗn hợp vật liệu dưới đáy thùng và nâng nó
lên cao dần, sau khi qua vị trí cao nhất vật liệu lại được đổ xuống dưới và
do đó mà xảy ra quá trình trộn. Vận tốc quay của thùng trộn không được
vượt quá 30 vòng/phút (vì nếu vận tốc lớn hơn lực ly tâm sẽ ảnh hưởng
122


tới sự rơi tự do của phối liêu) và chỉ trộn được những loại bê tông mác
thấp M ≤ 300, tuy nhiên đường kính phối liệu cho phép c ó thể tới 150
mm.

Hình 6.1.Nguyên lý cấu tạo máy trộn tự do & cưỡng bức:
a) trộn tự do; b) trộn cưỡng bức loại thùng đứng yên, trục quay nằm ngang; c) trộn cưỡng bức,
trục đứng và quay ngược chiều với thùng trộn; d) trộn cưỡng bức với hai trục nằm ngang;
1 – thùng trộn; 2 – cánh trộn.

b) Nhóm trộn cưỡng bức (hình 6.1.b): ở đây các cánh trộn (xẻng) 2
được gắn với trục trộn nằm ngang, do vậy phối liệu được nhào trộn mãnh
liệt trong thùng 3 theo các quỹ đạo khác nhau. Hình 6.1.c thùng trộn 1 có
thể quay theo chiều ngược lại hoặc đứng yên. Loại này sử dụng để trộn
các loại bê tông ít dẻo, khô và bê tông hạt nhỏ, tức là những loại hỗn hợp
bê tông mà máy trộn bê tông rơi tự do không thể đảm bảo được mức độ
đồng đều ngay cả khi kéo dài thời gian trộn, tuy nhiên đường kính phối
liệu chỉ cho phép d ≤ 70 mm.
2. Theo chế độ làm việc: máy trộn bê tông được chia thành 02 nhóm
sau:
a) máy trộn bê tông làm việc theo chu kỳ : trộn từng mẻ một. Quá trình
trộn bê tông thực tế chỉ chiếm 2/3 thời gian làm việc của máy, 1/3 thời
gian còn lại dùng để cấp phối liệu và đổ bê tông thành phẩm ra. Loại này
làm việc với năng suất thấp phù hợp với các công trình nhỏ lẻ.
b) Máy trộn bê tông làm việc liên tục: là loại máy mà việc cấp phối liệu
và lấy bê tông thành phẩm ra được thực hiện đồng thời và liên tục. Loại
này có cấu tạo phức tạp, cồng kềnh nhưng có năng suất cao, thường
được dùng cho các nhà máy, các trạm trộn bê tông .

3. Theo khả năng di chuyển: có 2 loại:
- loại tĩnh tại (cố định);
- loại di động (tự hành hoặc có thể kéo đi được).
4. Theo phương pháp đổ bê tông ra: (hình 6.2)
123


a. Đổ lật úp (hình 6.2,a).
b. Đổ bằng máng (hình 6.2,b).
c. Đổ bằng cách nghiêng và quay (hình 6.2,c).

Hình 6.2. Các phương pháp đổ bê tông ra:
a) đổ lật úp; b) đổ bằng máng; c) đổ bằng cách nghiêng và quay

II. Các loại máy trộn bê tông làm việc theo chu kỳ
1. Máy trộn tự do làm việc theo chu kỳ
Các loại máy máy này dùng để trộn bê tông có độ sụt 5 – 15 cm với
dung tích một mẻ trộn là 65, 165, 330, 500, 800, 1000, 1600, 2000, 3000
lít.
Sơ đồ cấu tạo chung và hệ thống truyền động của loại máy trộn tự do
kiểu lật đổ (hình 6.3).
Động cơ số 6, qua hộp giảm tốc 13 truyền mô men xoắn tới bánh răng
hình nón số 14 và truyền động xích số 10. Bánh răng hình nón số 14
quay ăn khớp với vành răng 12 gắn trên thùng trộn số 2 làm cho thùng
trộn quay quanh trục Y- Y của nó (nghiêng 45 0 so với mặt phẳng thẳng
đứng để trộn bê tông. Truyền động xích quay làm cho nửa chủ động của
li hợp số 5 quay trơn quanh trục 15..
Muốn đổ vật liệu vào thùng trộn, kéo tay đòn A, nó sẽ nới phanh hãm 7
và đóng ly hợp 5 lại, nhờ vậy lực từ b chuyền sang a làm trục 15 quay và
cuốn cáp 8 để kéo gầu 3 trượt theo giá dẫn 16 lên dần tới miệng thùng
trộn. Khi gầu lên tới đỉnh giá dẫn thì bị chặn lại, gầu bị lật ngược và đổ
vật liệu vào thùng trộn.
Muốn giữ cho gầu đứng ổn định ở trên cao trong thời gian đổ phối liệu
vào thùng trộn ta gạt tay đòn A sao cho phanh 7 đóng lại, ly hợp 5 mở,
như vậy gầu được giữ ổn định trên cao.
124


Khi cần hạ gầu tiếp liệu xuống ta gạt nhẹ tay đòn A ở vị trí sao cho
phanh 7 và ly hợp 5 đều mở lúc đó do tác dụng của trọng lượng bản
thân, gầu tự trượt theo giá dẫn xuống dưới.
Muốn lấy bê tông đã trộn ra, ta quay vô lăng B, nhờ truyền động của
cặp bánh răng trụ, giá lật 9 quay, làm thùng lật úp xuống và đổ bê tông
đã trộn ra ngoài.
Loại này có ưu điểm là đổ bê tông ra rất nhanh và sạch, tuy nhiên
động tác lật thùng tốn rất nhiều lực đặc biệt là động tác quay thùng
ngược lại vị trí cũ, nên loại máy này chỉ được chế tạo với dung tích mẻ
trộn nhỏ.

Hình 6.3. Máy trộn tự do kiểu lật đổ:
a) cấu tạo chung; b) hệ thống truyền đông chung: 1- giá máy; 2 – thùng trộn; 3 – gầu tiếp liệu;
4 – thùng đong nước; 5 – ly hợp; 6 - động cơ điện; 7 – phanh; 8 – cáp kéo gầu; 9 – giá lật;
10 – truyền động xích; 11 – cơ cấu tăng xích; 12 – vành răng; 13 – hộp giảm tốc;
14 – bánh răng nón; 15 – trục dẫn động gầu nạp liệu; 16 – giá dẫn;
A - đòn điều khiển kéo gầu; B – vô lăng; C - đòn giật nước; c) hệ thống truyền động riêng gồm:
I – cụm dẫn động gầu nạp; II – cụm dẫn động quay thùng.

125


Trên hình 6.3.c là loại máy trộn bê tông rơI tự do kiểu lật đổ với hai hệ
thống truyền động riêng (hai động cơ riêng biệt, một động cơ gắn liền với
hộp giảm tốc đặt ở giá lật một động cơ khác qua khớp nối trục vít bánh
vít để dẫn động gầu nạp liệu). Loại máy này thùng trộn 2 được treo
console ở giá lật 9 và được quay qua cụm hộp giảm tốc bánh răng thẳng
và bánh răng côn hoặc hộp giảm tốc hành tinh bắt vào đáy thùng trộn.
Trên hình 6.4 thể hiện loại máy trộn bê tông có cốt liệu tới 120mm.
Máy gồm giá đỡ 5, thùng trộn 2 trong có lắp các cánh trộn, động cơ điện
3, xi lanh khí ép nghiêng thùng 4 và vành 1. Từ động cơ điện qua khớp
nối 14 (hình 6.4.b) bánh răng 15, các bánh răng 16, 17, 18 truyền mô
men xoắn tới bánh răng 13 và vành răng 11 của thùng trộn. Để nghiêng
thùng đổ bê tông thành phẩm ra ngoài và đưa thùng về vị trí ban đầu
người ta dùng hệ thống khí nén gồm xi lanh 9, van phân phối 8, lọc khí
bằng dầu 7, khoá 6 và bộ phận đóng mở 9. Thùng trộn khi quay tỳ vào
các con lăn đỡ. Các con lăn này quay trong ổ 10 và 12.

Hình 6.4. Máy trộn tự do kiểu lật đổ bằng khí nén:
a) hình tổng thể; b) sơ đồ động học

2. Máy trộn bê tông cưỡng bức làm việc theo chu kỳ
Loại này được chế tạo với dung tích một mẻ trộn là 65, 165, 330, 500,
800, 1000, 1600, 2000, 3000 lít với sản phẩm là bê tông các loại mác
126


khác nhau, thường lắp đặt tại các xưởng bê tông đúc sẵn và các trạm
trộn bê tông thương phẩm.
Trên hình 6.5,a là sơ đồ động học của máy trộn bê tông cưỡng bức
hoạt đông theo chu kỳ. Máy này bao gồm động cơ điện và hộp giảm tốc
1, qua khớp nối 2 làm quay rotor 7. Trên rotor 7 có lắp các tay và cánh
trộn, bộ phận an toàn để tránh bị kẹt khi trộn. Vật liệu được nạp qua ống
nạp ở nắp thùng, xả bê tông qua cửa đáy thùng trộn. Để đóng mở cửa
đáy thùng, dùng khí ép dẫn qua khoá 5 và van phân phối 4 tới xi lanh khí
ép 6. Để giảm ồn có lắp thêm bộ tiêu âm 6.
Việc chất tải vào thùng chỉ thực hiện khi rotor đang quay. Cốt liệu, xi
măng và nước được đưa vào thùng trộn theo một tỷ lệ đã được xác định.
Sau khi hỗn hợp đã được nhào trộn đồng nhất ta cho xả ra ngoài bằng
cách mở cửa đáy.

b)

a)
Hình 6.5: Máy trộn bê tông cưỡng bức hoạt động theo chu kỳ
a) Sơ đồ động học của máy trộn bê tông cưỡng bức làm việc theo chu kỳ (dẫn động điện); b)
Máy trộn bê tông cưỡng bức làm việc theo chu kỳ (dẫn động khí nén): 1 — cánh trộn có 3 cái
có thể thay đổi được góc nghiêng; 2 — thùng trộn vữa;
3 — hệ thống truyền động khí nén cho cụm cánh trộn.

Trên hình 6.5, b là sơ đồ cấu tạo của máy trộn bê tông và vữa dẫn
đông khí nén thường được dùng để trộn vữa trong thi công các tuyến
ngầm.
III. Máy trộn bê tông làm việc liên tục

127


Máy trộn bê tông làm việc liên tục thường có nguyên lý trộn cưỡng
bức và dùng để lắp đặt cho các trạm hay nhà máy sản xuất bê tông tươi
với sản lượng cao.
Trên hình 6.6 là cấu tạo chung của máy trộn bê tông hoạt động liên
tục. Máy gồm hệ dẫn động, thùng trộn và bộ phận công tác gồm hai trục
có mang các cánh trộn.
Hệ dẫn động gồm động cơ 1, bộ truyền đai 2, hộp giảm tốc 3, khớp
nối bù trừ 4 và bộ truyền bánh răng 5.

Hình 6.6. Máy trộn bê tông cưỡng bức hoạt động liên tục thùng trộn nằm
ngang có hình lòng máng.
Bộ phận công tác gồm hai trục 10 có gắn các cánh trộn 7. Phần cuối
cánh trộn có lắp các tấm đảo 8 có thể thay thế được. Các cánh trộn được
đặt lệch một góc 450 so với trục trộn. Giữa các bộ cánh có ống chặn 9.
Các trục được quay trong ổ đỡ 11 và 12. Nhờ có bộ truyền bánh răng 5
các trục quay đồng bộ ngược chiều nhau. Vật liệu được đưa liên tục qua
cửa 6, được các cánh nhào trộn và đẩy dọc theo thùng trộn tới cửa xả.
Các cánh trộn được bố trí sao cho các dòng vật liệu được nhào trộn
mãnh liệt theo phương ngang, còn theo chiều dọc trục lại di chuyển
tương đối chậm, do vậy vật liệu được trộn đều.
Các loại máy trộn này được dùng để sản xuất bê tông linh động có cốt
liệu tới 40 mm.
Ngoài máy trộn bê tông cưỡng bức hoạt động liên tục còn có máy trộn
bê tông tự do hoạt động liên tục, trong đó vật liệu trộn tự do trong thùng
trộn quay tỳ trên các con lăn đỡ. Vật liệu được đưa liên tục vào một đầu,
còn bê tông thành phẩm cũng cho ra liên tục ở đầu kia.
Truyền động đai 2 có tác dụng chống quá tải khi các cánh bị kẹt.
128


IV. Thiết bị định lượng phối liệu
Khâu đầu tiên trong quy trình công nghệ chế tạo hỗn hợp bê tông là
giai đoạn cân đong các thành phần của chúng.
Để định lượng phối liệu người ta làm bằng hai cách:
- Định lượng phối liệu theo thể tích: độ chính xác thấp vì khối lượng
riêng của cát, ximăng thường phụ thuộc đáng kể vào độ ẩm và độ nén
chặt. Tuy nhiên định lượng bằng thể tích lại đơn giản nên được sử dụng
rộng rãi cho các máy trộn hoạt động theo chu kỳ tại các công trường.
- Định lượng phối liệu theo trọng lượng: có độ chính xác cao (đảm bảo
được chất lượng và mác cho bêtông) nên được sử dụng nhiều cho các
trạm và nhà máy sản xuất bê tông.
Dưới đây ta nghiên cứu sơ đồ cấu tạo và nguyên lý hoạt động của
thiết bị định lượng phối liệu theo trọng lượng dùng cho các loại máy trộn
bêtông làm việc liên tục (hình 6.7).

Hình 6.7. Sơ đồ thiết bị định lương phối liệu (loại hoạt động liên tục):
1 - phễu chứa phối liệu; 2 máng rung; 3 - bộ phận gây rung; 4 – băng tải cân vật liệu; băng tải
chung cho các lọai phối liệu dẫn vào thùng trộn; 6 – đòn bẩy; 7 - đối trọng di động;
8 - mức chuẩn về trọng lượng phối liệu trên băng tải cân;
9 - bộ cảm biến điện từ; 10 - bộ điều chỉnh tự động

Bằng cách xê dịch đối trọng 7 có thể chỉnh sao cho kim gắn ở đầu
đòn bẩy 6 chỉ đúng mức chuẩn 8 trên cân và thiết bị định lượng bắt đầu
hoạt động. Qua phễu 1 phối liệu được cấp vào máng rung 2 (ở đây
cường độ rung của máng điều chỉnh lưu lượng chảy của phối liệu từ
máng 1 xuống) qua băng tải cân phối liệu 4 để xuống băng tải chung và
chảy vào cửa nạp phối liệu của trạm trộn bê tông liên tục. Giả sử vì lý do
nào đó phối liệu rơi xuống băng tải cân 4 lớn hơn định mức sẽ làm cho
băng này nặng hơn và đẩy hai điểm B – B xuống phía dưới khiến cho hai
điểm C & D bị đẩy lên phía trên, kéo theo cả đòn bẩy 6 & lõi bộ cảm biến
129


9 gây ra hiện tượng sụt điện áp trong hộp điều chỉnh tự động 10, kết quả
là bộ rung 3 sẽ rung với biên độ nhỏ hơn (vừa đúng mức cần thiết) nói
cách khác là máy tự động giảm tốc độ cấp phối liệu.
Nếu phối liệu rơi xuống băng tải cân 4 ít hơn định mức sẽ gây ra hiện
tượng ngược lại.
Sai số của thiết bị định lượng loại này là ± 2% đối với cát sỏi, còn đối
với đá dăm là ± 3% còn để định lượng nước ta dùng đồng hồ đo lưu
lượng nước.
V. Năng suất máy trộn bêtông
1. Máy trộn bê tông theo chu kỳ
Ns= Vxl.nck.Ktg, (m3/h)
trong đó:

[6.1]

Vxl - thể tích xuất liệu của thùng trộn (thể tích bê tông thành

phẩm trộn được trong một mẻ trộn), m3 và được xác định theo công thức
sau:
Vxl = Vsx.Kxl = (0,3 – 0,4)Vhh.Kxl, (m3)
Vsx - thể tích sản xuất của thùng trộn, m3
Vhh - thể tích hình học của thùng trộn, m3
Kxl - hệ số xuất liệu, Kxl = 0,65 ÷0,7 đối với bê tông và Kxl =
0,8 đối với vữa;
nck - số mẻ bê tông trộn được trong 01 giờ nck = 3600/tck
tck - thời gian một mẻ trộn, s:
tck = tđổ phối liệu vào+ ttrộn + tđổ bê tông ra
Ktg - hệ số sử dụng thời gian làm việc của máy trong một ca,
Ktg = 0,8 – 0,9.
2. Máy trộn liên tục
Ns = 60n.S.t.K1.K2.Kxl, (m3/h)
trong đó:

[6.2]

n – vận tốc quay của trục trộn (v/ph);
S - tiết diện dòng vật liệu di chuyển trong thùng trộn (m2),
S = (0,28 ÷ 0,34)πd2/4
d - đường kính quỹ đạo hình tròn của cánh trộn, m;
t – là khoảng cách giữa các cánh trộn theo chiều dọc trục, m;

130


K1 và K2 – các hệ số có xét đến tác động ngăn cản chuyển
động của dòng vật liệu trong thùng trộn do tính không liên
tục của các cánh trộn và do ma sát giữa vật liệu và các chi
tiết tiếp xúc với vật liệu K1.K2 = 0,5.

§ 6.3. Máy bơm bê tông
Máy bơm bê tông để vận chuyển bê tông linh động (thường có độ
sụt trên 12 cm) theo đường ống dẫn có thể đi xa tới 800 m hoặc lên cao
tới 400 m. Nếu muốn bơm đi xa hơn nữa trong tuyến ngầm cần phải lắp
các bơm nối tiếp nhau. Bơm bê tông còn dùng có thể được dùng để bơm
vữa xây dựng.
I. Phân loại
1. Theo nguyên lý làm việc: Có hai kiểu là làm việc liên tục (kiểu rôto
ống mềm) và theo chu kỳ (kiểu piston).
2. Theo kiểu dẫn động: Có hai kiểu là cơ khí và thuỷ lực.
II. Các loại máy bơm bê tông
Sau đây ta xét đến những loại thông dụng thường dùng trong xây
dựng dân dụng, công nghiệp và trong công trình ngầm.
1. Máy bơm bê tông kiểu piston dẫn động thuỷ lực loại van chữ “S”
hoặc van chữ “C”
Loại này có năng suất kỹ thuật từ 5 ÷ 65 m 3/h; cự ly bơm tới Lmax =
600m; độ cao bơm Hmax = 80m. Phổ biến hiện nay dùng bơm hai piston
thuỷ lực có cửa van hình chữ S (hình 6.8).
Van ống hình chữ S có nguyên lý hoạt động như sau. Van chữ S
được bố trí ngay trong khoang nạp 1 của bơm, tâm quay của van trùng
với tâm ống dẫn bê tông 4. Tại mỗi chu kỳ làm việc van được lắc một góc
nhất định và che kín đường ra của một trong hai xilanh bơm và được
piston của xilanh đó đẩy hỗn hợp bê tông vào trong ống dẫn, lúc này
xilanh còn lại được nối với khoang nạp 1 để hút bê tông. Ưu điểm chính
của loại van này là sự thay đổi hướng chuyển động của hỗn hợp bê tông
khi hút và đẩy là ít nhất. Tuy nhiên ở mỗi chu kỳ làm việc van phải đảo và
tải theo một khối lượng rất lớn (gồm khối hỗn hợp bê tông có trong van
131


và bản thân khối lượng van), phải thắng lực ma sát vùng làm kín (vùng
nối) giữa miệng xi lanh bơm và tại chỗ van nối với đường ống dẫn.
Bê tông sau khi được bơm vào ống được chuyển theo ống dẫn
bằng thép và được ghép từ những đoạn ống bằng loại khoá đặc biệt.
c)

Hình 6.8. Sơ đồ cấu tạo máy bơm hai piston thuỷ lực:
a) Sơ đồ cấu tạo; b) Nguyên lý làm việc của van chữ S;
c) Bơm bêtông dạng xilanh hãng Putzmeister (Đức).

2. Máy bơm bê tông kiểu rotor - ống mềm
c)

Hình 6.9. Sơ đồ bơm bê tông kiểu rotor - ống mềm:
a) sơ đồ nguyên lý; b) sơ đồ cấu tạo; c) Bơm bê tông dạng rotor ống mềm
hãng Putzmeister (Đức)

Loại này có năng suất kỹ thuật từ 30 – 70 m3/h; cự ly bơm tới Lmax
= 300m; độ cao bơm Hmax = 70m. Trên hình 6.9 là sơ đồ hoạt động của
bơm kiểu rotor-ống mềm.

Nguyên lý hoạt động: rotor 4 quay theo

chiều mũi tên nhờ được nối vào trục dẫn động bởi motor thuỷ lực. Trong
khi quay các con lăn 2 lần lượt thay phiên nhau đè bẹp đoạn ống sau ống
6, đùn hỗn hợp bê tông sang ống 1. Khi con lăn 2 chạy qua đoạn ống
phía sau nó nở to ra như cũ, gây áp suất âm hút bêtông từ phễu 7 vào
đoạn ống này để chờ con lăn kia lăn tới, cứ như vậy hai con lăn số 2 thay
nhau đùn bê tông sang ống 1 để đi tiếp.
132


Ưu điểm: cấu tạo gọn nhẹ, tốn ít năng lượng, dẫn động đơn giản,
dễ bảo dưỡng sửa chữa
Nhược điểm:
-

Chỉ bơm được những loại bê tông tương đối mịn;

-

Ống mềm chóng hỏng, phải thay sau 2000 – 3000 h bơm.

Vì nhược điểm đó nên bơm kiểu rotor-ống mềm ít được sử dụng
để bơm bê tông, tuy nhiên được dùng nhiều để bơm và định lượng phụ
gia trong công nghệ phụt bê tông gia cố vách lò tạm thời hoặc vĩnh cửu.
3. Thiết bị bơm bê tông bằng khí nén
Đây là loại máy bơm đặc thù dùng cho công tác đổ bê tông cho các
công trình bằng phương pháp nhồi từ trong lòng bê tông nhờ khí nén.
Loại này có năng suất kỹ thuật từ 5 – 20 m 3/h; cự ly bơm tới L max = 100
m; độ cao bơm Hmax = 40 m.
a)

b)

Hình 6.10:Máy bơm bê tông bằng khí nén:
a) sơ đồ nguyên lý cấu tạo máy bơm bê tông dẫn động khí nén: 1 – máy nén khí; 2 – ống dẫn
khí nén; 3 – bình tích áp; 4 – van điều tiết; 5 – thùng kín chứa bê tông cần bơm; 6 – ống dẫn bê
tông; 7 – thùng chứa bê tông;
b) Máy bơm bê tông dẫn động khí nén di chuyển trên bánh sắt dùng cho công trình ngầm: 1thùng bê tông; 2 — cửa đổ bê tông vào; 3 — trục trộn bê tông tránh phân tầng; 4 — hệ thống
dẫn đông khí nén; 5 — khung di chuyển bánh sắt;
6 — Ống dẫn đẩy bê tông ; 7 — van điều khiển đóng mở cho mỗi chu kỳ bơm.

Nguyên lý hoạt động như sau: mở nắp thùng 5, đổ bê tông vào rồi
đậy kín lại (nắp này có gioăng và bộ phận chốt đảm bảo đậy kín). Ta mở
van 4 để xả khí nén vào thùng 5. Dưới áp suất của khí nén khối bê tông
sẽ đi theo đường ống 6 chảy tới nơi cần đổ và nhồi bê tông. Tiếp đó lại
mở thùng 5 và đổ tiếp bê tông vào thùng để bơm chù kỳ tiếp.
III. Năng suất các loại bơm bê tông
1. Năng suất máy bơm bê tông kiểu piston bơm
133


2

2

Ns =
trong đó

60n.π . d . S.K day . K tg
4

=

15n.π . d . S .K day . K tg

m3/h,

[6.3]

n - số lần piston bơm trong 1 phút;
d - đường kính piston bơm, m;
s – hành trình của piston bơm , m;
Kđầy - hệ số đầy khoang xi lanh bơm , Kđầy = 0,85 ÷ 0,9;
Ktg - hệ số sử dụng thời gian làm việc của máy, K tg = 0,8 ÷

0,9.
2. Năng suất máy bơm bê tông kiểu rotor - ống mềm
Ns = 60n.
trong đó

πd 2 πD
.
.Kđầy.Ktg, m3/h
2
4

[6.4]

d - đường kính ống mềm, m;
D - đường kính vòng cong trung bình của ống mềm, m;
n - số vòng quay của động cơ trong 1 phút;
Kđầy - hệ số đầy trong ống mềm , Kđầy = 0, ÷ 0,8;
Ktg - hệ số sử dụng thời gian làm việc của máy, K tg = 0,8 ÷

0,9;
3. Năng suất máy bơm bê tông dùng khí nén
Vs = Vsx.nck.Ktg, m3/h
Trong đó:

[6.5]

Vsx - thể tích sản xuất (thể tích hữu ích) của thùng 5, m3 ;
Vsx = 0,25 ÷ 1 m3
nck - số lần bơm trong 1 giờ, nck = 10 ÷ 20;
Ktg - hệ số sử dụng thời gian làm việc của máy, Ktg = 0,8 ÷

0,9.
§ 6.4. Máy vận chuyển bê tông trên mặt đất và dọc theo tunnel tới vị
trí thi công
Các loại máy này là các ô tô chở bêtông từ nhà máy sản xuất bêtông
tới giếng đứng bao gồm ô tô tự đổ, ô tô chở bêtông. Tiếp đó bêtông được
vận chuyển tới vị trí đổ bêtông nhờ các loại thiết bị sau: ô tô chở bêtông
hầm lò bánh lốp hoặc bánh sắt, đôi khi bêtông vận chuyển tới nơi đổ
bằng toa gòng bánh sắt (trong trường hợp này cần có cơ cấu ngoàm lật
134


gòng đổ bê tông vào bunke) và nếu khoảng cách không lớn lắm có thể
dùng các máy bơm piston lắp nối tiếp để bơm bêtông dọc theo tuyến
tunnel.
Sơ đồ vận chuyển bê tông từ nhà máy tới ván khuôn như sau:
Nhà máy sản
xuất bê tông

Bơm vào ván
khuôn tunnel

ô tô chở bê tông tự đổ
ô tô chở trộn bê tông

Máy bơm bê tông
khí nén

Giếng đứng

Bunke chứa
bê tông

Ô tô chở trộn bánh
lốp hầm lò;
Máy chở và trộn bê
tông di chuyển
trên ray;
bằng toa gòng bánh
sắt;
dùng các máy bơm
piston lắp nối tiếp

Sơ đồ khối 6.1 Vận chuyển bê tông từ nhà máy tới ván khuôn tunnel
Lưu ý: các phương tiện trên được sử dụng để chở bê tông tươi
trong trường hợp khoảng cách vận chuyển không lớn lắm, nếu khoảng
cách đủ lớn để lo ngại về chất lương bê tông tươi sau vận chuyển thì
phải vận chuyển bê tông khô và thay vì đổ vào bunke thì phải đổ vào máy
trộn để trộn bê tông khô với nước và phụ gia
I. Ôtô trộn-chở bê tông trên mặt đất
Ôtô trộn-chở bê tông dùng để trộn và vận chuyển bê tông trên mặt
đất với cự ly từ vài km tới vài chục km từ trạm trộn bê tông thương phẩm
tới nơi tiêu thụ. Khi vận chuyển bê tông ở cự ly ngắn, người ta đổ bê tông
đã trộn vào thùng (75 – 80% dung tích thùng) và cho quay với vận tốc
chậm (3 – 4 vòng/phút) để đảm bảo bê tông vân chuyển không bị phân
tầng và đông kết. Trong trường hợp này ô tô chỉ làm nhiệm vụ vận
chuyển. Khi cần cung cấp đi xa thì người ta đổ cốt liệu khô vào thùng (60
– 70% dung tích thùng) trong khi vận chuyển máy trộn trên xe sẽ quay
trộn đều cốt liệu trên xe với nước thành bê tông đồng nhất (tốc độ quay
10 – 12 vòng/phút) , tới nơi làm việc chỉ cần đổ ra sử dụng ngay. Trong
trường hợp này ô tô vừa làm nhiệm vụ vận chuyển vừa làm nhiệm vụ
trộn bê tông.
Ôtô trộn-chở bê tông (hình 6.11) gồm sat-xi ô tô 7, giá đỡ thùng
trộn 4, thùng trộn 1, thiết bị nạp và xả liệu 2, hệ thống cung cấp nước 3
và bộ truyền động cho thùng trộn 5 cùng cơ cấu điều chỉnh 6. Tất cả các
thiết bị này được đặt trên khung và bắt chặt vào sat-xi ôtô. Trên khung
135


nghiêng 150 đặt thùng trộn tỳ trên 3 điểm: ổ đỡ phía trước và vành tỳ trên
2 con lăn ở phía sau.. Trong thùng trộn đặt hai cánh trộn kiểu vít để trộn
bê tông khi thùng quay theo chiều kim đồng hồ và xả khi thùng quay
ngược chiều kim đồng hồ nhờ cơ cấu đảo chiều quay bê tông theo máng
chảy ra ngoài.
Dung tích thùng trộn của các ô tô trộn-chở bê tông hiện nay
thường là 2,6; 3,2; 4,0; 7,u và 8m3 tuỳ theo loại ôtô cơ sở.

Hình 6.12. Sơ đồ cấu tạo ô tô chở bê
Hình 6.11. Sơ đồ cấu tạo ô tô trộn, chở bê

tông

tông

II. Ôtô chở bê tông thương phẩm kiểu ben trên mặt đất
Là loại xe chuyên dùng để chở bê tông ở cự ly không quá 10 km
tính từ nhà máy bê tông thương phẩm tới giếng đứng .Bê tông thành
phẩm được chứa trong thùng chứa bê tông, có hình dạng đặc thù như
một cái máng sâu, phần trước to hơn và thấp hơn, phần sau nhỏ hơn và
cao hơn. Miệng đổ bê tông ở tư thế nằm ngang của thùng cao hơn cả
mức bê tông trong thùng, do đó đảm bảo bê tông không rơi vãi dọc
đường. Phía trên thùng có nắp đậy kín để bê tông không ảnh hưởng của
nắng, gió hoặc mưa. Vỏ thùng có 02 lớp, trong trường hợp không khí
dưới 00 C thì khí thải của động cơ sẽ chạy qua khe hở giữa hai lớp vỏ
trước khi tới ống xả để sưởi ấm bê tông.
Thùng chở bê tông tựa trên một điểm ở giữa xe và 2 khớp bản lề
trên khung chịu lực. Hai xi lanh thuỷ lực kiểu ống lồng có thể nâng thùng
tới 800 để đổ bê tông ra (trong thùng có cơ cấu gõ mạnh vào vỏ thùng để
đổ bê tông cho hết sạch). Cấu tạo và hoạt đông của xe này cũng tương
tự như ô tô tự đổ, chỉ khác là thùng chở bê tông có cấu tạo đặc biệt để
chuyên chở bê tông. Thể tích hữu ích của thùng Vhữu ích = 1,6 – 4m6.
III. Máy chở và trộn bê tông công trình ngầm di chuyển trên ray
136


Máy chở và trộn bê tông di chuyển trên ray dùng để trộn và vận chuyển
bê tông tươi và bê tông khô từ giếng đứng tới nơi đổ bê tông. Máy được sử
dụng trong công tác vận chuyển bê tông cho các công trình tầu điện ngầm,
tuyến vận tải ngầm, cũng như các công trình ngầm trong khai khoáng hầm lò
khi có nhu cầu thi công bê tông cốt thép liền khối.
Máy chở và trộn bê tông di chuyển trên ray có nhiều loại khác nhau với
hệ thống dẫn động khác nhau. Hệ thống dẫn động cơ cấu trộn thường là cơ
cấu dẫn động hỗn hợp: điện - thuỷ lực và dẫn động khí nén. Phía trong thùng
trộn được thiết kế các cánh trộn dạng vít xoắn có nhiệm vụ trộn khi thùng trộn
quay theo chiều kim đồng hồ và xả bê tông sau trộn khi thùng trộn quay theo
chiều ngược lại. Tốc độ xả của máy có thể thay đổi nhờ việc thay đổi vận tốc
quay của thùng trộn.

Hình 6.13. Sơ đồ cấu tạo máy chở và trộn bê tông di chuyển trên ray
(hãng Putzmeister, Đức) :
1 - cửa xả; 2 - cánh trộn kiểu vít; 3 – cơ cấu di chuyển bánh sắt; 4 – móc kéo;
5 - đầu côn phía sau; 6 – van cấp nước.

Các máy chở trộn bê tông kiểu này thường được móc nối tiếp nhờ móc
4 khi di chuyển và được kéo bởi một đầu kéo ắc-quy hoặc đầu kéo diêzel. Việc
xả bê tông ra cửa 1 theo thứ tự toa đến trước xả trước và toa tiếp theo được xả
vào toa trước bằng cách tháo đầu côn 5 của toa trước ra và xả bê tông vào
máy trước, lúc này máy trước làm nhiệm vụ như một vít tải trộn để đưa bê tông
đến cửa xả 1. Hệ thống xả bê tông kiểu này được gọi là kiểu “hệ thống xả nối”,
kiểu xả này cho phép đồng thời nhiều máy chở-trộn bê tông đi cùng trên một
đường ray tới cùng một điểm xả bê tông.
Máy chở-trộn bê tông được chế tạo liền khối với giá di chuyển bánh sắt, với
các cơ cấu:
-

Cơ cấu di chuyển bằng cặp bánh sắt di chuyển trên ray;

-

Cơ cấu dẫn động;

-

Cơ cấu móc, chốt kéo và móc kéo kiểu ống lồng,
137


-

Các con lăn đỡ thùng trộn;

-

Hệ thống điều khiển và tủ công tắc điều khiện điện.

IV. Ô tô chở trộn bê tông bánh lốp hầm lò

Ôtô trộn chở bê tông bánh lốp hầm lò có nguyên lý cấu tạo hoàn
toàn giống với ô tô chở trộn bê tông trên mặt đất (hình 6.14) gồm sat-xi
loại đặc chủng, giá đỡ thùng trộn, thùng trộn 3, phễu nạp 4 và xả liệu 5,
hệ thống cung cấp nước và bộ truyền động cho thùng trộn 3 cùng cơ
cấu điều khiển trong ca bi hở 1. Trên khung nghiêng 15 0 đặt thùng trộn tỳ
trên 3 điểm: ổ đỡ phía trước và vành tỳ trên 2 con lăn ở phía sau. Trong
thùng trộn hàn cố định vào vách thùng hai cánh trộn kiểu vít để trộn bê
tông khi thùng quay theo chiều kim đồng hồ và xả khi thùng quay ngược
chiều kim đồng hồ nhờ đảo chiều quaymô tơ thủy lực dẫn động, bê tông
theo máng chảy ra ngoài.

Hình 6.14. Ô tô chở-trộn bê tông bánh lốp hầm lò (hãng Putzmeister,
Đức) :
1 – ca bin; 2 – cơ cấu di chuyển bánh lốp; 3 – thùng trộn; 4 - phễu rót;
5 – máng xả; 6 - khoang chứa đông cơ điêzel

138


Thiết bị động lực của máy thường là đông cơ điêzel 4 thì dẫn động
các bơm dầu thủy lực. Dầu thủy lực thông qua motor thủy lực làm quay
thùng trộn

Hình 6.15. Thùng trộn được dẫn động thủy lực (ô tô trộn-chở bê tông
bánh lốp hầm lò, hãng Putzmeister, Đức)
§ 6.5. Máy đầm bê tông công trình ngầm
I. Khái niệm chung và phân loại:
Để đầm bê tông, người ta dùng các máy gây chấn động với tần số
cao (f = 3000 – 20000 phut-1) và biên độ (A = 0,1 – 7,5mm) làm cho các
hạt cát, sỏi, đá dăm và xi măng dần dần sắp chặt lại vào với nhau, đẩy
không khí ra ngoài làm cho khối lượng riêng của bê tông tăng lên; đồng
thời lực ma sát giữa các hạt phối liệu giảm đi, bê tông lỏng ra đồng nhất
hơn và chóng đông kết hơn. Biện pháp đầm bê tông làm tăng khả năng
chịu lực lên 10 – 20%, tương đương với việc tiết kiệm 10 – 15% xi măng
(khoảng 25 – 35 kg xi măng/1m3 bê tông) so với không đầm .
Tất cả các máy đầm bê tông đều hoạt dộng dựa trên nguyên lý
rung. Bộ phận gây rung có thể là vật nặng quay lệch tâm hoặc vật nặng
dao động qua lại. Trên thực tế khi đầm bê tông cho các công trình tunnel
ngầm người ta sử dụng cả ba loại đầm đó là: Máy đầm trong trục mềm;
máy đầm mặt và máy đầm cạnh (hình 6.16), tuy nhiên máy đầm mặt rất ít
khi được sử dụng.

139


Hình 6.16. Các loại máy đầm bê tông công trình ngầm:
a - Máy đầm trong; b - Máy đầm mặt; c - Máy đầm cạnh: 1 – động cơ điện;
2 - trục mềm; 3 – cơ cấu gây rung.

Khi đầm bê tông bằng máy đầm trong trục mềm, đầu đầm (bộ phận
gây rung) được đưa nhanh vào lớp bê tông (thẳng đứng hoặc hơi
nghiêng) với độ sâu khoảng 10 – 15 cm, sau đó rút từ ra khỏi khối bê
tông khi động cơ vẫn hoạt động. Bê tông được coi là đầm xong khi sự sụt
lún của bê tông chấm dứt, xuất hiện nước xi măng và nổi các bọt khí trên
bề mặt.
Máy đầm cạnh được treo cạnh ngoài của ván khuôn, loại này rất hữu
dụng khi thi công bê tông cốt thép liền khối với cốt thép trong tunnel
thường khá dày. Chúng truyền dao động qua khung của ván khuôn - nơi
chúng được treo tới bê tông cần đầm. Ngoài ra máy đầm cạnh được sử
dụng để đầm các cấu kiện bê tông dạng tường mỏng thẳng đứng, các
dầm, các cấu kiện quá nhiều cốt thép và các góc của ván khuôn, những
nơi mà việc đầm bằng máy đầm trong trục mềm không thể thực hiện
hoặc quá khó. Ngoài ra máy đầm cạnh còn được phối hợp với máy đầm
trong để tăng chất lượng đầm bê tông cho các cấu kiện nói ở trên.
II. Các loại máy đầm bê tông thường dùng trong các công trình
ngầm.
1. Máy đầm trong trục mềm (đầm dùi trục mềm): được chia ra thành
hai nhóm: đầm dùi lắc trong và dầm dùi lắc ngoài (hình 6.17.a, b). Trục 1
qua khớp 2 truyền chuyển động tới quay tới trục 3 có khối lệch tâm 5 tác
động lên bề mặt chi tiết 6 lắp trong vỏ đầm 4. Khối lệch tâm 5 gây ra dao
động tròn và gây trấn động cho quả đầm.
Ưu điểm nổi bật của đầm dùi trục mềm là kết cấu đơn giản, gọn
nhẹ nhưng cũng có nhược điểm mất mát công suất do ma sát trong trục
mềm, bán klính hiệu dụng và năng suất thấp (R = 20 – 40 cm; N s = 3 – 6

140


m3/h), truyền dao đông không đuợc xa. Quả đầm của đầm dùi trục mềm
nặng từ 1,2 – 8,7 kg.
2. Máy đầm cạnh: Máy đầm cạnh được treo cạnh ngoài của ván
khuôn, loại này rất hữu dụng khi thi công bê tông cốt thép liền khối với
cốt thép trong tunnel thường khá dày. Chúng truyền dao động qua khung
của ván khuôn nơi chúng được treo tới bê tông cần đầm.
Máy đầm cạnh có nguyên lý cấu tạo gồm một động cơ điện được
ghép vào ván khuôn nhờ các bu lông và ê cu, cơ cấu gây rung được lắp
trực tiếp lên trục quay rotor của động cơ điện nhờ các quả lệch tâm. Lực
ly tâm do các quả lệch tâm gây ra qua ván khuôn làm cho ván khuôn
rung động để truyền vào hỗn hợp bê tông làm cho bê tông linh động
chuyển sang trạng thái giả lỏng đẩy không khí và nước ra ngoài.

Hình 6.17. Hình dáng ngoài & sơ đồ cấu tạo đầm dùi trục mềm:
a) lắc trong; b) lắc ngoài; c) nguyên lý gây dao động

III. Năng suất máy đầm trong:
2

3600

Ns = 2 Re .h.Ktg. + , m3/h
t1 t 2
Trong đó

[6.6]

h - chiều dày lớp bê tông được đầm, m;
Re – bán kính hiệu dụng của đầm, m;
t1 - thời gian đầm một chỗ (≈ 30s);
t2 - thời gian chuyển chỗ đầm (≈ 10s);
141


Ktg - hệ số sử dụng thời gian trong một ca (K tg = 0,8 –
0,9).
§ 6.6. Ván khuôn di động dùng để thi công bê tông cốt thép liền khối
trong tuyến ngầm
I. Công nghệ thi công bê tông liền khối trong tuyến ngầm
Sơ đồ công nghệ tổ chức và thi công bê tông cốt thép liền khối
trong tuyến ngầm được lựa chọn phụ thuộc vào độ cứng của đất đá, biện
pháp đào lò, chiều sâu tuyến ngầm, mặt cắt ngang của tuyến, cũng như
thiết bị cơ giới được ứng dụng thi công.Việc lựa chọn sơ đồ công nghệ
thi công phải đáp ứng được các tiêu chí kinh tế - kỹ thuật trên cơ sở
những yếu tố có ảnh hưởng khác.

Hình 6.18. Hai sơ đồ bố trí thiết bị công nghệ khi đổ bê tông liền khối
trong tunnel:
а – sơ đồ nối tiếp; b –sơ đồ song song ; 1 – gương đào hoặc máy đào tunnel;
2 – ván khuôn di động; 3 – máy bơm bê tông bằng khí nén

Có hai sơ đồ công nghệ thi công bê tông cốt thép liền khối cho vỏ
tuyến tunnel ngầm hình 6.18 là:
- Sơ đồ song song – thi công ngay sau khi vận tải hết đất đá và gia
cố tạm thời vách lò;
142


- Sơ đồ nối tiếp – Cho phép giữ vách lò ở trạng thái gia cố tạm thời
lần đầu một khoảng thời gian tương đương một vài chu kỳ tuần hoàn đào
lò, sau đó mới tiến hành thi công vỏ bê tông liền khối.
Bê tông được đổ từ hai phía của tunnel từ chân lên đỉnh và tới đỉnh
thì khóa vòm tại tấm táp của ván khuôn.
Tổ hợp thiết bị đổ bê tông trong tuyến ngầm bao gồm: Ván khuôn
kim loại, máy trộn bê tông, máy bơm bê tông tông, ống dẫn bê tông và
máy đầm bê tông. Trong các thiết bị kể trên ta đi sâu tìm hiểu về ván
khuôn kim loại.
II. Ván khuôn di động thi công bê tông liền khối trong truyến ngầm
Trong thi công tunnel người ta thường sử dụng ván khuôn di động
có mặt cắt ngang với hình dáng phù hợp với vỏ tunnel liền khối được
thiết kế. Ván khuôn tunnel được lắp trên khung có bánh di chuyển dọc
theo tuyến thi công. Các loại ván khuôn di động này có thể sử dụng để thi
công trong các công nghệ đào kín.
Thực chất các ván khuôn di động này là bộ khung trên đó có ván
khuôn được ghép với khung di chuyển bằng khớp bản lề, các ván khuôn
này được điều khiển bởi các tay đòn và kích thủy lực. Nhờ các kích thủy
lực mà khi các kích này đẩy ra ván khuôn sẽ ở vị trí làm việc, còn khi co
lại thì ván khuôn ở tư thế di chuyển trên ray để đến vị trí thi công mới sau
khi đoạn vỏ tunnel trước đã cố kết và có thể tháo được ván khuôn.
Dưới đây là cấu tạo của một số loại ván khuôn di động thường gặp
khi xây dựng tuyến ngầm.

Hình 6.19. Ván khuôn di đông dùng cho tunnel tiết diện tròn:
I – Ván khuôn ở trạng thái làm việc, II – Vàn khuôn ở trạng thái di chuyển, trong đó: 1 – cốt
thép; 2 - lớp chống thấm; 3, 4 - ván khuôn; 5 – XLTL điều khiển ván khuôn; 6 – khung di
chuyển

143


Hình 6.20. Ván khuôn di đông tiệt diện hình chữ nhật với
cột chống trung tâm và tấm táp:
1 - mảnh ván khuôn hình chữ L ngược, 2 - trụ trung tâm, 3 - tấm táp; 4 – thanh chống với các
khớp bản lề; 5 - ổ đỡ trục; 6 - cơ cấu di chuyển; 7 – các kích di chuyển; 8 - khung cố định

Hình 6.21. Ván khuôn xếp gập kiểu bản lề nhiều mảnh:
а — loại di động; b — dành cho vỏ lò ép dự ứng lực liền khối: 1 — ván khuôn trên (mảnh
trên); 2 — cơ cấu gập bản lề; 3 — các xi lanh thuỷ lực di chuyển ván khuôn;
4 — Các vít đỡ tựa; 5 — các giá đỡ; 6 — mảnh dưới – ván khuôn dưới;
7 — dầm bệ; 8 — Băng tải; 9 — sàn công nghệ.

144


Một loại ván khuôn di động có cấu tạo khá đơn giản là bộ ván
khuôn lắp ghép tạo hình bằng kim loại, di động, xếp gập bằng bản lề và
tháo rời được (hình 6.21).
Ván khuôn xếp gập kiểu bản lề nhiều tấm: (hình 6.21, а) có cấu tạo
từ các mảnh ván khuôn nhỏ là:các mảnh trên số 1 và mảnh dưới số 6,
cơ cấu gập bản lề 2 để đóng và mở các mảnh ván khuôn trên. Cơ cấu
đóng mở các mảnh ván khuôn dưới có hai giá đỡ 5 với vít đỡ tựa 4, tựa
lên dầm bệ di động 7. Ván khuôn xếp gập kiểu bản lề di chuyển dọc theo
đường lò nhờ các xi lanh thuỷ lực 5.
§ 6.7 Máy và thiết bị lắp ráp vỏ tuyến ngầm
I. Tuyến ngầm với vách tunnel là các tấm lắp ghép
Khác với bê tông cốt thép liền khối thường được ứng dụng để xây
dựng các tuyến ngầm trong nền đất đá cứng bằng sơ đồ công nghệ nối
tiếp hoặc song song như đã nói ở trên. Tuyến ngầm đô thị thường gặp
các lớp đất có điều kiện địa chất phức tạp phải dùng các tấm vỏ lò được
chế tạo sẵn để lắp ráp và hoàn thiện ngay trong lòng khiên và tổ hợp
khiên. Các tấm vỏ lò này có hai loại là: Bằng gang và bằng bê tông cốt
thép dự ứng lực trước.
Hình 6.22 Các dạng
tấm vỏ lò sau lắp ghép:

a)

Một tuyến Metro với vỏ hầm bằng gang

b)

a - Tấm vỏ lò bằng gang; b Tấm vỏ lò bằng bê tông cốt
thép dự ứng lực trước: 1 phần thân; 2 - rãnh lắp gioăng
chống thấm sau đó trảm mạch
bằng vữa cường độ cao; 3 - lỗ
chờ ép vữa

Một tuyến Metro với vỏ hầm bằng bê tông cốt
thép dự ứng lực trước

Hình 6.23. Các tuyến ngầm metro được thi công bằng vỏ lắp ghép
Thực tế trên thế giới đã sử dụng các dạng kết cấu tunnel lắp ghép
và cho kết quả rất tốt so với bê tông liền khối sau nhiều năm sử dụng.
145


II. Máy móc và thiết bị dùng để lắp ráp vỏ tunnel
Lắp ráp hoàn thiện vỏ tunnel bao gồm các bước:
-

Bước 1: Lắp ráp;

-

Bước 2: Xảm mạch (bịt kín mối nối giữa các tấm vỏ lò);

-

Bước 3: Ép vữa – phun vữa vào sau lưng vỏ hầm

1. Các máy và thiết bị lắp ráp
Để cơ giới hoá quá trình lắp ráp các vành vỏ tunnel người ta sử
dụng các máy lắp ráp vỏ. Đa số các máy lát vỏ tunnel là khung kim loại
có kết cấu dạng cổng “chữ П” hoặc cung tròn, được trang bị các cơ cấu
di chuyển dọc theo tunnel và lắp ráp các vành vỏ. Các máy lắp ráp này
có thể hoạt động độc lập, cũng có thể hoạt động như một bộ phận trong
tổ hợp máy khiên đào lò. Các máy lát vỏ lò dùng để lắp ráp các tấm cấu
kiện vỏ dạng bê tông cốt thép được trang bị các tay cơ động để đỡ các
tấm vỏ bê tông cốt thép trong quá trình lắp ráp tới nối các vành vỏ với
nhau.

Hình 6.24. Máy lắp vỏ tunnel dẫn động bằng tay đòn thuỷ lực hoạt động
độc lập trong công nghệ khoan nổ mìn:
1 – cơ cấu bước; 2 – khung kết cấu kim loại; 3 – tay đòn lắp ráp; dẫn động thuỷ lực đòn bẩy; 5
– dây móc buộc; 6 - thiết bị điện; 7 – bơm thuỷ lực; 8 - lưới bảo vệ; 9 - đầu kẹp.

146


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×